chương 1 cũng đã trình bày chi tiết về sự cần thiết của đề tài nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu; giới thiệu phương pháp nghiên cứu, đối tượng và phạm vị nghiên cứu, kết cấu của luận văn và giá trị khoa học của đề tài. Như vậy, tác giả đã giới thiệu sơ bộ về đề tài nghiên cứu giúp người đọc có cái nhìn tổng quan đề tài để làm cơ sở cho chương 2 phân tích tổng quan về TTD và thực trạng sử dụng TTD tại NH TMCP Công Thương VN tiếp sau đây. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THẺ TÍN DỤNG TẠI NH TMCP CÔNG THƯƠNG VN HIỆN NAY 2.1 Thực trạng thị trường TTD VN.1 Thực trạng phát hành và thanh toán TTD tại VN trong thời gian qua Phát hành thẻ Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của internet và hệ thống công nghệ thông tin, giao dịch qua thẻ ngân hàng đã và đang gia tăng mạnh mẽ. Theo đó, số lượng thẻ ngân hàng cũng tăng lên vượt bậc.
Theo thống kê của NHNN, thời điểm đầu năm 2016, tổng số thẻ ngân hàng được phát hành vào khoản 99,52 triệu thẻ thì đến cuối quý III năm 2018, tổng số thẻ ngân hàng đã đạt 147,3 triệu thẻ. Điều đó có nghĩa là chỉ trong thời gian chưa đến 3 năm, số thẻ ngân hàng đã tăng thêm 47,78 triệu thẻ tương đương với hơn 48% tổng số thẻ đã phát hành được trong suốt thời gian trước 2016.1: Tổng số thẻ ngân hàng phát hành qua các thời kỳ Đơn vị tính: Triệu thẻ 142 147 160 127 132 136 121 140 102 106 110 111 116 120 100 100 80 60 40 20 - Nguồn: Tổng hợp thống kê của NHNN qua các năm Tuy nhiên, trong số thẻ ngân hàng đã phát hành, TTD lại chiếm một số lượng rất hạn chế. Theo Thông tư số 31/2013/TT-NHNN ngày 13/12/2013 của NHNN quy định báo cáo thống kê áp dụng đối với các đơn vị thuộc NHNN và các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, chỉ tiêu số liệu về số lượng thẻ đã phát hành lũy kế không thu thập chi tiết theo phạm vi và nguồn tài chính. Mặc dù hiện nay không thu thập được số liệu chính thức về số lượng TTD đã phát hành nhưng dựa vào số liệu có được từ trước 2015 cũng có thể thấy rõ điều này.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2: Số lượng các loại thẻ ngân hàng qua các thời kỳ Đơn vị tính: triệu thẻ 80 73.2 60 50 - Thẻ ghi nợ 40 - Thẻ tín dụng 30 - Thẻ trả trước 20 10 2.51 - IV/2013 I/2014 II/2014 III/2014 IV/2014 Nguồn: Tổng hợp từ thống kê của NHNN Theo thống kê của NHNN, tại thời điểm cuối năm 2014, trong tổng số 80,39 triệu thẻ ngân hàng đã được phát hành, thẻ tín dụng có số lượng ít nhất với 3,29 triệu thẻ tín dung chiếm 4,09% trong khi thẻ ghi nợ có số lượng đến 73,59 triệu thẻ chiếm đếm 91,54%.3: Cơ cấu thẻ ngân hàng cuối năm 2014 4.37% - Thẻ ghi nợ - Thẻ tín dụng - Thẻ trả trước 91.54% Nguồn: Tổng hợp từ thống kê của NHNN Mặc dù chiếm một tỷ lệ không nhiều trong tổng số thẻ ngân hàng đã phát hành nhưng cần phải nhìn nhận rằng tốc độ tăng trưởng của TTD đang tăng nhanh hơn các loại thẻ khác. Trong khi đầu năm 2014, số lượng TTD phát hành được là 2,43 triệu thẻ chiếm 3,81% tổng số thẻ ngân hàng thì đến cuối năm 2014 con số này là 3,29 triệu thẻ chiếm 4,27%. Các con số này cũng chỉ ra rằng, chỉ riêng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 trong năm 2014, tổng số TTD phát hành đạt 0,86 triệu thẻ, tương đương 35,39% tổng số TTD phát hành được trong thời gian trước đó.4: Tỷ lệ TTD trong tổng số thẻ ngân hàng năm 2014 4.50% IV/2013 I/2014 II/2014 III/2014 IV/2014 Nguồn: Tổng hợp từ thống kê của NHNN Mặc dù số lượng thẻ được phát hành đang có sự tăng trưởng tương đối nhanh nhưng nhìn chung thị trường TTD của VN vẫn còn non trẻ. Sau hơn 20 năm hình thành và phát triển, TTD vẫn chưa phổ dụng với đa số người dân VN nói chung mà chỉ tập trung ở các thành phố lớn.
Bằng chứng là tỷ lệ TTD trên dân số trưởng thành của VN là rất thấp.1: Tỷ lệ TTD/DS trưởng thành của VN qua các năm Tỷ lệ dân số trưởng thành trên tổng dân số 75% Tỷ lệ Dấn số trưởng TTD/DS thành (>= 15 Số lượng trưởng Năm dân số tuổi) TTD thành 2014 92.000 0,0239 Nguồn: Tổng hợp từ thống kê của NHNN và trang web https://danso.org Tuy tỷ lệ TTD/DS trưởng thành của VN đang có xu hướng tăng nhưng so với mức độ phổ cập TTD của các nước trên thế giới vẫn còn rất thấp. Ở các nước phát triển như Mỹ, Nhật, Hàn Quốc trung bình mỗi người dân có hơn 2 TTD. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Ngay cả một quốc gia Đông Nam Á khác là Indonesia với điều kiện hạ tầng internet còn hạn chế cũng có tỷ lệ TTD/dân số cao hơn VN (0,0652 so với 0,0168 số liệu năm 2011).2: Mức độ phổ cập TTD tại một số quốc gia (số liệu 2011) Dân số Thẻ tín dụng Bình quân số Tên nước (triệu) (triệu) TTD/người Mỹ 313 800 2.0168 Nguồn: Báo cáo thương mại điện tử 2012 Giao dịch qua thẻ Hệ quả tất yếu của việc số lượng thẻ phát hành còn ít là việc thanh toán qua TTD cũng còn rất hạn chế. Không có thống kê chính thức nào về số lượng cũng như giá trị giao dịch qua TTD tại VN thời gian qua, tuy nhiên thông qua thống kê của NHNN về số lượng và giá trị giao dịch của các phương tiện thanh toán trong nền kinh tế có thể thấy rõ điều này.
Mặc dù đến cuối quý III/2018 tổng số lượng thẻ ngân hàng phát hành được 147,3 triệu thẻ, nếu tính bình quân trên tổng dân số là 97 triệu người thì mỗi người dân VN sở hữu hơn 1,5 thẻ ngân hàng. Tuy nhiên, số lượng giao dịch và giá trị giao dịch qua thẻ so với tổng phương tiện thanh toán không đáng là bao. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.3: Số lượng và giá trị giao dịch của các PTTT trong quý III/2018 SỐ LƯỢNG GD GIÁ TRỊ GIAO DỊCH SỐ GIAO GIÁ TRỊ GD DỊCH (MÓN) Tỷ lệ (TỶ VND) Tỷ lệ Thẻ ngân hàng (*) 51.766 6% Phương tiện thanh toán khác 13.606 100% (*) Phản ánh số lượng và giá trị các giao dịch thanh toán nội địa được thực hiện bằng thẻ do NH phát hành báo cáo, không bao gồm: (i) các giao dịch thanh toán quốc tế, giao dịch của các thẻ do các NH nước ngoài phát hành; (ii) các khoản gửi, rút tiền hoặc chuyển tiền mà người gửi và người nhận là một; và (iii) các khoản thanh toán giữa tổ chức tín dụng và khách hàng (như các khoản cho vay, trả nợ gốc/lãi, phí,…) Nguồn: Thống kê của NHNN Qua bảng thống kê trên có thể thấy rằng, trong quý III/2018 số lượng giao dịch qua thẻ ngân hàng chỉ đạt 51,4 triệu giao dịch, chiếm 20% trong tổng phương tiện thanh toán. Còn xét về giá trị giao dịch thì thanh toán thẻ chỉ đạt một con số vô cùng khiêm tốn tốn là 143,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 1% trong tổng phương tiện thanh toán.
Đây không phải là vấn đề của riêng quý III/2018 mà trong nhiều năm qua, thẻ ngân hàng chưa bao giờ chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng phương tiện thanh toán, thay vào đó lệnh chi mới là phương tiện được lựa chọn nhiều nhất với giá trị thanh toán áp đảo. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.5: Số lượng giao dịch nội địa theo các phương tiện thanh toán Nguồn: Website NHNN Hình 2.6: Giá trị giao dịch nội địa theo các phương tiện thanh toán Nguồn: Website NHNN Điều này có thể giải thích là do các phương tiện thanh toán khác chủ yếu được các doanh nghiệp sử dụng với giá trị giao dịch lớn trong khi thẻ ngân hàng chỉ thường được các cá nhân sử dụng cho các giao dịch giá trị thấp. Tuy nhiên với hơn 97 triệu người dân VN mà mỗi người bình quân sở hữu hơn 1,5 thẻ ngân hàng so với chưa đến 600 nghìn doanh nghiệp đang hoạt động nhưng giá trị giao dịch lại vô cùng khiêm tốn trong tổng phương tiện thanh toán thì có thể thấy rằng số người thực sự sử dụng chiếc thẻ ngân hàng của mình để thanh toán là không đáng kể. Thật vậy, theo thống kê của Hội thẻ Ngân hàng VN, tính đến cuối 2017, tổng số thẻ phát hành được là 132 triệu thẻ thì trong đó chỉ có 77 triệu thẻ là có giao dịch chiếm 58,33%, số còn lại không hoạt động gây lãng phí lớn cho cả ngân hàng phát hành và người sử dụng thẻ.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Thực trạng hạ tầng hỗ trợ phát hành và thanh toán thẻ Hệ thống ATM/POS Trong những năm gần đây, các NH đang ngày càng đẩy mạnh phát hành và thanh toán qua thẻ nói chung và TTD nói riêng. Cùng với đó, hệ thống ATM/POS cũng được đầu tư và tăng lên nhanh chóng. Tính đến hết quý III/2018, cả nước có 18. So với thời điểm cuối năm 2015, số lượng máy ATM tăng 1.236 chiếc tương đương 7,3%, trong khi số lượng máy POS tăng 71.122 chiếc tương đương 31,84%.
Với lợi thế là chi phí thấp, số lượng máy POS đang tăng rất nhanh và nhiều hơn đáng kể so với máy ATM. Đây là tiền đề quan trọng góp phần thúc đẩy phát triển thanh toán qua thẻ ngân hàng mà đặc biệt là TTD.7: Số lượng máy ATM/POS Nguồn:Website NHNN Tuy nhiên, ngược lại với số lượng thiết bị, số lượng giao dịch và giá trị giao dịch qua POS lại thấp hơn rất nhiều so với ATM. Trong quý III/2018, Số lượng giao dịch qua máy ATM đạt 224.831 món chiếm 80% tổng giao dịch qua ATM và POS trong khi giao dịch qua POS chỉ đạt 55. Cùng với đó, giá trị giao dịch qua ATM cũng chiếm phần lớn tổng giá trị giao dịch với 622.967 tỷ đồng tương đương 84%, còn giá trị giao dịch qua POS chỉ đạt 117.887 tỷ đồng tương đương 16%.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.8: Số lượng giao dịch qua ATM/POS Nguồn:Website NHNN Hình 2.9: Giá trị giao dịch qua ATM/POS Nguồn:Website NHNN Qua đó các số liệu trên cho thấy rằng, ở VN, người dân thường xuyên sử dụng thẻ NH để rút tiền mặt hoặc chuyển khoản hơn là thanh toán. Thật vậy, theo thống kê của NH thế giới (WB), tính đến cuối năm 2017, VN có lượng giao dịch phi tiền mặt thấp nhất trong khu vực chỉ đạt 4,9%, trong khi tỷ lệ này ở Trung Quốc là 26,1%, Thái Lan là 59,7% và Malaysia là 89%. Hạ tầng internet Tất cả hoạt động thanh toán qua thẻ ngân hàng nói chung và TTD nói riêng đều được thực hiện trên nền tảng internet.