CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. Khái quát chi ngân sách nhà nước 1. Ngân sách nhà nước 1. Khái niệm ngân sách nhà nước [2,77] NSNN là một phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử; là một thành phần trong hệ thống tài chính.
Thuật ngữ "Ngân sách nhà nước" được sử dụng rộng rãi trong đời sống KTXH ở mọi quốc gia. Ngày nay, khái niệm NSNN được hiểu tương đối thống nhất ở nhiều quốc gia, nó phản ánh về kế hoạch, dự toán thu, chi của nhà nước trong một thời gian nhất định với hình thái biểu hiện là quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước, nhà nước sử dụng quỹ tiền tệ tập trung đó để trang trải cho các khoản chi tiêu của mình. Theo Điều 1 Luật số 01/2002/QH11 ngày 16/12/2002 Luật Ngân sách nhà nước quy định: NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước. Đặc điểm của NSNN NSNN là bộ phận chủ yếu của hệ thống tài chính quốc gia do đó nó có một số đặc điểm sau: - Hoạt động thu, chi của NSNN luôn gắn chặt với quyền lực kinh tế - chính trị của nhà nước.
- Hoạt động NSNN là hoạt động phân phối lại các nguồn tài chính, nó thể hiện ở hai lĩnh vực thu và chi của nhà nước; - Nguồn tài chính hình thành nên NSNN được hình thành chủ yếu thông qua quá trình phân phối lại nguồn tài chính mà trong đó thuế là hình thức thu phổ biến; - Ẩn sau các hoạt động thu, chi của NSNN là các mối quan hệ kinh tế, quan hệ lợi ích trong xã hội khi nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia. Chi ngân sách nhà nước 1. Khái niệm, đặc điểm chi ngân sách nhà nước a. Khái niệm Theo Khoản 2 Điều 2 Luật số 01/2002/QH11 ngày 16/12/2002 Luật Ngân sách nhà nước thì: Chi NSNN bao gồm các khoản chi phát triển KTXH, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước; chi trả nợ của nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.
Như vậy, khái niệm trên đã chỉ ra những nội dung cơ bản, then chốt của NSNN. Về bản chất chi NSNN là quá trình phân phối lại các nguồn tài chính đã được tập trung vào NSNN theo các mục đích sử dụng thực tế trên cơ sở luật định. Do vậy, chi NSNN là công việc định vị khoản chi cụ thể cho từng mục tiêu, từng hoạt động, từng công việc thuộc chức năng của Nhà nước. Vậy có thể định nghĩa chi NSNN là việc phân phối và sử dụng quỹ NSNN theo dự toán ngân sách đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định nhằm duy trì hoạt động của bộ máy nhà nước và đảm bảo thực hiện các chức năng của Nhà nước theo những nguyên tắc luật định.
[2] Phạm vi chi NSNN rất rộng, bao trùm mọi lĩnh vực đời sống, liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến mọi đối tượng. Từ khái niệm chi NSNN có thể thấy: - Chi NSNN là nội dung của chấp hành NSNN nên thuộc trách nhiệm và quyền hạn của hệ thống cơ quan chấp hành và hành chính nhà nước các cấp. - Chi NSNN không mang tính lợi nhuận, chú trọng đến lợi ích cộng đồng, lợi ích KT-XH. - Sự quản lý chi NSNN phải tôn trọng nguyên tắc công khai và minh bạch và có sự tham gia của dân chúng.
Đặc điểm của chi NSNN [2] - Đặc điểm nổi bật của chi NSNN là nhằm phục vụ cho lợi ích chung của cộng đồng dân cư ở các vùng hay ở phạm vi quốc gia. Điều này xuất phát từ chức năng quản lý toàn diện nền KT-XH của Nhà nước và cũng chính trong quá trình thực hiện chức năng đó Nhà nước đã cung cấp một lượng hàng hóa công cộng khổng lồ cho nền kinh tế. 8 - Chi NSNN luôn gắn liền với bộ máy Nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà Nhà nước thực hiện. Các khoản chi NSNN do chính quyền Nhà nước các cấp đảm nhận theo nội dung đã được quy định trong phân cấp quản lý NSNN và các khoản chi tiêu này nhằm đảm bảo cho các cấp chính quyền thực hiện chức năng quản lý, phát triển KT-XH.
Bên cạnh đó, các cấp của cơ quan quyền lực Nhà nước là chủ thể duy nhất quyết định cơ cấu, nội dung, mức độ của các khoản chi NSNN nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội của quốc gia. - Chi NSNN cung cấp các khoản hàng hóa công cộng như đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, quốc phòng, bảo vệ trật tự xã hội,. đồng thời đó cũng là những khoản chi cần thiết, phát sinh tương đối ổn định như: chi lương cho cán bộ, công chức, viên chức bộ máy Nhà nước, chi hàng hóa dịch vụ công đáp ứng nhu cầu tiêu dùng công cộng của các tầng lớp dân cư. - Các khoản chi NSNN mang tính không hoàn trả hay hoàn trả không trực tiếp.
Thật vậy, không phải mọi khoản thu với mức độ và số lượng của những địa chỉ cụ thể đều được hoàn lại dưới các hình thức các khoản chi NSNN mà nó được quyết định bởi những chức năng tổng hợp về KT-XH của Nhà nước. Tóm lại, chi NSNN thực hiện vai trò của nhà nước là công cụ để nhà nước điều hành nền kinh tế theo mục đích của mình, góp phần thúc đẩy kinh tế, giải quyết những vấn đề xã hội và khắc phục các khiếm khuyết của thị trường. Nội dung chi NSNN Chi NSNN diễn ra trên phạm vi rộng, dưới nhiều hình thức. Trong quản lý tài chính, chi NSNN được chia làm hai nội dung chi lớn: chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển.
Chi thường xuyên [2] Chi thường xuyên là quá trình phân phối, sử dụng quỹ tiền tệ của Nhà nước để đáp ứng nhu cầu chi gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước về quản lý KT-XH. Cùng với quá trình phát triển KT-XH các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước ngày càng gia tăng, do đó đã làm phong phú nội dung chi thường xuyên của NSNN. 9 Chi thường xuyên là những khoản chi mang những đặc trưng cơ bản như: Mang tính ổn định, định kỳ và lặp đi lặp lại; Là các khoản chi mang tính chất tiêu dùng xã hội; Phạm vi, mức chi thường xuyên gắn chặt với cơ cấu tổ chức của bộ máy Nhà nước và sự lựa chọn của Nhà nước trong việc cung ứng các hàng hóa công cộng Theo khoản 2 Điều 3 Nghị định 60/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật NSNN thì các khoản chi được xếp vào chi thường xuyên bao gồm: Chi đảm bảo các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, xã hội, văn hóa thông tin, văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, các sự nghiệp xã hội khác; chi các hoạt động sự nghiệp kinh tế; chi cho quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội; chi đảm bảo hoạt động của các cơ quan nhà nước; chi đảm bảo hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam, hoạt động của Ủy ban Mặt trận tổ quốc, Liên đoàn Lao động, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội cựu chiến binh, Hội Liên hiệp phụ nữ, Hội Nông dân; Chi trợ giá theo chính sách của Nhà nước; phần chi thường xuyên thuộc các Chương trình mục tiêu Quốc gia, dự án Nhà nước, Hỗ trợ Quỹ Bảo hiểm xã hội; trợ cấp cho các đối tượng chính sách xã hội; hỗ trợ cho các tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội; tổ chức xã hội – nghề nghiệp ; các khoản chi thường xuyên khác theo quy định của pháp luật. Chi đầu tư phát triển [2] Chi đầu tư phát triển là quá trình Nhà nước sử dụng một phần vốn tiền tệ đã được tạo lập thông qua hoạt động thu của NSNN để đầu tư xây dựng hạ tầng KT- XH, phát triển sản xuất và để dự trữ vật tư hàng hóa, nhằm đảm bảo thực hiện các mục tiêu ổn định và tăng trưởng của nền kinh tế.
Theo khoản 1 Điều 3 Nghị định 60/2003/NĐ-CP ngày 6/6/2003 của Chính phủ thì các khoản chi đầu tư phát triển gồm: Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng KT-XH không có khả năng thu hồi vốn; chi đầu tư và hỗ trợ cho các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức tài chính nhà nước; góp vốn cổ phần, liên doanh vào các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nước theo quy định của pháp luật; chi bổ sung dự trữ nhà nước; chi đầu tư phát triển 10 thuộc các Chương trình mục tiêu quốc gia, dự án nhà nước; các khoản chi đầu tư khác theo quy định của pháp luật. Từ những nội dung chi đầu tư phát triển nêu trên, có thể thấy rằng chi đầu tư phát triển từ NSNN Việt Nam có những đặc trưng cơ bản sau: Là những khoản chi lớn và không ngừng tăng lên; mang tính chất tích lũy; Phạm vi và mức độ chi đầu tư phát triển gắn chặt với việc thực hiện mục tiêu, yêu cầu phát triển KT-XH của đất nước trong từng thời kỳ và sự lựa chọn phương pháp cấp phát của Nhà nước. Ngoài ra còn có các loại chi khác như chi trả nợ gốc và lãi các khoản tiền do Chính phủ vay; chi viện trợ của NSTW cho các Chính phủ và tổ chức ngoài nước; chi cho vay của NSTW; chi trả gốc và lãi các khoản huy động đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng theo quy định tại Khoản 3 Điều 8 của Luật NSNN; chi bổ sung Quỹ dự trữ tài chính; chi bổ sung ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới; chi chuyển nguồn ngân sách từ ngân sách năm trước sang ngân sách năm sau. Chi NSNN ở địa phương là để thực hiện nhiệm vụ của chính quyền nhà nước ở địa phương nên về cơ bản cũng bao gồm các khoản chi như chi NSTW nhưng phạm vi hẹp hơn và quy mô các khoản chi nhỏ hơn.
Vai trò của chi NSNN trong nền kinh tế thị trường[5] Trong nền kinh tế thị trường chi NSNN có các vai trò cơ bản sau: - Chi NSNN ngày càng có vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.