Chương 1: NHỮNG VẤN ĐẾ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ KÊ BIÊN VÀ XỬ LÝ TÀI SẢN CỦA NGƯỜI THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm, điều kiện, những nguyên tắc cơ bản và căn cứ áp dụng của biện pháp cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án dân sự 1. Khái niệm biện pháp cưỡng chế kê biên và xử lý tài sản của người phải thi hành án dân sự Theo từ điển từ và ngữ Việt Nam của nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh năm 1998 thì kê biên là một từ Hán - Việt. “Kê” nghĩa là tính toán, còn “biên” có nghĩa là ghi chép lại theo một trật tự nhất định.
Vậy kê biên có nghĩa là tính toán và ghi chép lại theo một trật tự nhất định. Về tài sản, hiện nay chúng ta chưa có một khái niệm khát quát về tài sản mà chỉ có một định nghĩa mang tính chất liệt kê: Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản (Điều 163 Bộ luật dân sự 2005). Thuật ngữ kê biên tài sản đã được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật của nước ta như Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự 1989, Pháp lệnh thi hành án dân sự 1993, 2004… do đó, có thể thấy rằng đây là một thuật ngữ pháp lý được sử dụng nhiều trong pháp luật tố tụng dân sự. Trong cuốn từ điển các thuật ngữ pháp lý thông dụng cũng của nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh năm 1999 có định nghĩa kê biên tài sản như sau: “Kê biên tài sản là việc ghi lại từng tài sản, cấm việc tẩu tán, phá hủy, để đảm bảo cho việc xét xử và thi hành án”.
Như vậy, kê biên tài sản là một thuật ngữ pháp lý chỉ việc tính toán và ghi chép lại tài sản theo một trật tự nhất định nhằm mục đích cụ thể. Tài sản ở đây có thể là vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản. Từ những năm 1989 trở về trước, trong pháp luật tố tụng dân sự nước ta chưa có sự phân biệt rõ ràng hai khái niệm kê biên tài sản và tịch biên tài 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Song mỗi khái niệm về một sự vật hiện tượng luôn gắn với một hoàn cảnh lịch sử cụ thể, trong quá trình phát triển các nhà lập pháp đã có sự phân biệt về hai khái niệm này.
Kê biên chỉ là một hình thức ghi lại tài sản theo thứ tự và áp dụng đối với tài sản hợp pháp của một chủ thể, còn tịch biên thường được áp dụng đối với tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Cũng chính vì thế mà nó kéo theo hậu quả pháp lý khác nhau. Tài sản bị tịch biên thường bị sung công quỹ Nhà nước, tài sản kê biên sẽ được xử lý để thực hiện nghĩa vụ của người có tài sản bị kê biên, có nghĩa là không bị sung công quỹ Nhà nước. Như vậy, tịch biên có thể gọi là tịch thu sung công quỹ Nhà nước những tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp, nó có bản chất hoàn toàn khác với kê biên.
Qua khái niệm kê biên tài sản ta thấy rằng trong đời sống hàng ngày có những khái niệm tương tự, gần giống với kê biên. Nhưng kê biên tài sản luôn gắn với một chủ thể nhất định, nhân danh cho quyền lực Nhà nước, vì thế không phải ai cũng có quyền kê biên tài sản của người khác, không phải hành động nào tương tự cũng được gọi là kê biên. Trong quá trình tố tụng dân sự nhiều chủ thể có quyền áp dụng biện pháp kê biên tài sản nhưng việc áp dụng ấy có tính chất và mục đích hoàn toàn khác nhau, không phải lúc nào kê biên tài sản cũng được áp dụng với tính chất là một biện pháp cưỡng chế để thi hành án. Điều 27 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 quy định: “Tòa án, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, Trọng tài thương mại đã ra bản án, quyết định được quy định tại Điều 2 của Luật này phải cấp cho đương sự bản án, quyết định có ghi “Để thi hành”.
Toà án phải giải thích cho người được thi hành án, người phải thi hành án về quyền yêu cầu, thời hạn yêu cầu thi hành án và nghĩa vụ thi hành án theo quy định của pháp luật ”. Người được thi hành án căn cứ vào bản sao quyết định, bản án đó có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án thi hành. Đơn yêu cầu thi hành án phải được gửi kèm cùng bản sao bản án, quyết định và phải được gửi trong thời hiệu thi hành án. Sau khi nhận 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bản sao bản án, quyết định cùng với đơn yêu cầu của người được thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự phải vào sổ nhận bản sao bản án, quyết định, sổ nhận đơn yêu cầu thi hành án.
Đồng thời cơ quan thi hành án dân sự phải cấp cho đương sự phiếu nhận đơn. Ngay sau khi nhận đơn yêu cầu thi hành án của đương sự. Sổ nhận đơn yêu cầu thi hành án phải ghi rõ nội dung yêu cầu thi hành án của đương sự. Theo Điều 31 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 quy định về việc tiếp nhận đơn, từ chối yêu cầu thi hành án thì nếu đơn yêu cầu thi hành án không đúng quy định thì cơ quan thi hành án dân sự hướng dẫn người yêu cầu thi hành án làm lại đơn đúng quy định.
Nếu người được thi hành án trực tiếp trình bày yêu cầu thi hành án bằng lời nói tại cơ quan thi hành án dân sự thì cơ quan thi hành án dân sự phải lập biên bản ghi rõ nội dung yêu cầu theo đúng hướng dẫn về nội dung đơn yêu cầu. Sau đó, yêu cầu người yêu cầu ký vào biên bản hoặc nếu không biết chữ thì điểm chỉ. Biên bản cũng có chữ ký của cán bộ lập biên bản, biên bản thay cho đơn yêu cầu thi hành án. Cán bộ lập biên bản cũng phải làm thủ tục vào sổ nhận đơn yêu cầu và cấp cho người yêu cầu phiếu nhận đơn như đối với trường hợp nhận đơn yêu cầu của đương sự.
Thời hạn ra quyết định thi hành án là 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được bản án, quyết định hoặc đơn yêu cầu thi hành án; đối với quyết định về biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải ra ngay quyết định thi hành án. Sau khi có quyết định thi hành án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải phân công Chấp hành viên thi hành. Chấp hành viên bắt đầu thủ tục thi hành án bằng thông báo cho người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (nếu có) về việc thi hành án. Chấp hành viên cũng định cho người phải thi hành án thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án để tự nguyện thi hành án.
Nếu hết thời hạn này mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì Chấp hành viên ra quyết định cưỡng chế thi hành án. Trong trường hợp cụ thể Chấp hành viên có quyền kê biên tài sản của người phải thi hành án. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy, kê biên và xử lý tài sản của người phải thi hành án dân sự là biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự, chủ thể có quyền áp dụng là cơ quan thi hành án dân sự mà cụ thể là Chấp hành viên được phân công trách nhiệm thi hành bản án, quyết định dân sự đó. Tài sản bị kê biên, xử lý là tài sản của người phải thi hành án, người phải thi hành án này có thể là cá nhân hoặc tổ chức đã được xác định cụ thể, đích danh trong bản án, quyết định của Tòa án được mang ra thi hành.
Đặc điểm của biện pháp cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án dân sự Điều 71 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 đã quy định 06 biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự. Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án dân sự là một trong sáu biện pháp đó. Chính vì vậy, biện pháp cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án dân sự có đặc điểm chung của các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự như sau: Thứ nhất, biện pháp cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án dân sự thể hiện quyền năng đặc biệt của Nhà nước và được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh của Nhà nước. Việc cưỡng chế thi hành án nói chung và cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án dân sự nói riêng phải do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện.
Người được thi hành án không có quyền tự mình dùng sức mạnh để buộc người phải thi hành án thi hành nghĩa vụ đã được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án. Ở nước ta, thẩm quyền tổ chức thi hành án dân sự thuộc về các cơ quan thi hành án dân sự của Nhà nước. Do vậy, khi cần thiết phải cưỡng chế để thi hành án dân sự thì chỉ có Chấp hành viên đại diện cho cơ quan thi hành án dân sự mới là chủ thể có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế và lựa chọn biện pháp cưỡng chế thi hành 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com án dân sự phù hợp. Tuy vậy, theo xu thế xã hội hóa thi hành án dân sự, việc cưỡng chế thi hành án dân sự Nhà nước cũng có thể giao cho chủ thể khác không thuộc cơ quan thi hành án dân sự thực hiện việc cưỡng chế.
Thứ hai, biện pháp cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án dân sự được Chấp hành viên áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án nhằm buộc họ phải thực hiện nghĩa vụ của mình theo bản án, quyết định của Tòa án. Trong thi hành án dân sự, các đương sự có quyền tự định đoạt, do vậy Nhà nước luôn khuyến khích các đương sự trong việc tự nguyện thi hành án. Việc người phải thi hành án tự nguyện thi hành án trước khi người được thi hành án có đơn yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án là thể hiện tinh thần thượng tôn pháp luật và là một cách hành xử văn minh.