Chương 1: CÁC TIỀN ĐỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG 1. Điều kiện tự nhiên và không gian thành phố 1. Điều kiện tự nhiên Thành phố Hải Dương nằm ở vị trí trung tâm của tỉnh Hải Dương có tọa độ 270 vĩ bắc, 106 045’ độ kinh Đông. Phía Đông giáp huyện Thanh Hà và huyện Nam Sách, phía Tây giáp huyện Cẩm Giàng, phía Nam giáp huyện Gia Lộc, Tứ Kỳ và phía Bắc giáp huyện Nam Sách.
Cách thủ đô Hà Nội 57km về phía Tây và cách thành phố cảng Hải Phòng 45km về phía Đông, Thành phố Hải Dương nằm án ngữ trên trục đường quốc lộ số 5. Đây là một trong những tuyến giao thông quan trọng nhất của cả nước nhằm phục vụ công tác vận chuyển hàng hóa, xuất nhập khẩu trong nước và quốc tế. Đặc biệt, qua Thành phố Hải Dương còn có tuyến đường sắt Hà Nội – Hải Phòng được xây dựng từ thời kỳ Pháp thuộc với với lưu lượng giao thông lớn. Vị trí địa lý và hệ thống giao thông trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho Thành phố Hải Dương cũng như tỉnh Hải Dương có điều kiện giao lưu với các tỉnh, thành phố trong nước và quốc tế.
Địa hình: Với diện tích 71.386km2, Thành phố Hải Dương nằm trong vùng có địa hình bằng phẳng thấp trũng hướng thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, từ cao độ +2,00 - + 2,4m thấp dần xuống +1,5 – 1,0m, có vùng thấp trũng cao độ +0,5 - +0,8m. Trong thành phố có nhiều ao hồ, kênh mương nối liền với nhau thành hệ thống liên hoàn thông với các sông, chia cắt thành phố ra làm các lưu vực nhỏ. Đặc điểm khí hậu, thủy văn: Cũng như các tỉnh miền Bắc Việt Nam, Thành phố Hải Dương nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa. Khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt: mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, nhiệt độ trung bình năm: 23,40C; độ ẩm trung bình năm: 84%; lượng mưa trung bình năm 1.
6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com LuËn v¨n th¹c sÜ §µo ThÞ TuyÕn Thành phố Hải Dương chịu ảnh hưởng trực tiếp chế độ thủy văn của các sông Thái Bình và sông Sặt. Mực nước cao nhất vào lúc đỉnh triều trung bình hàng tháng từ tháng 6 đến tháng 10 là 2,6m – 3,5m. Đất đai trong thành phố thuộc loại phù sa cổ sông Hồng và sông Thái Bình. Trong các lớp đất ở độ sâu 8 – 10m là các lớp đất đá sét, sét pha, bùn sét có cường độ chịu tải dưới 1kg/cm2.
Các công trình 3 – 4 tầng đều phải xử lý nền móng. Thành phố Hải Dương nằm ở vùng trũng, nước ngầm thường xuất hiện ở độ sâu 0,5 – 1m về mùa mưa và 1 – 2m về mùa khô. Mạch nước mạch sâu trong tầng cuội sỏi phixtoxen khi khai thác nhiều có khả năng nhiễm mặn. Quá trình hình thành Thành phố Hải Dương Theo sử cũ ghi lại, thời Lê Thánh Tông, lỵ sở Hải Dương đặt ở xã Mặc Động (Chợ Thiên, Chí Linh), lúc ấy gọi là Thành Vạn hay Doanh Vạn.
Trong giai đoạn 1735 – 1739, triều đình nhà Lê đã dời lỵ sở về đất Mao Điền (Cẩm Giàng). Năm 1804, để củng cố bộ máy cai trị, triều đình nhà Nguyễn đã phân chia lại địa giới hành chính đất nước. Theo đó lỵ sở Hải Dương được chuyển từ Mao Điền về vùng ngã ba sông Thái Bình và sông Sặt tại địa phận làng Hàn hay còn gọi là trấn Hàn. Tại đây, nhà Nguyễn đã cho xây dựng một thành khá kiên cố với tên gọi Thành Đông.
Lỵ sở Hải Dương có tên gọi là Thành Đông bắt đầu từ đó. Thành Đông đã trở thành phên dậu phía Đông của thành Thăng Long. Thành Đông buổi đầu đắp bằng đất, năm Minh Mạng thứ 5 (1824) được gia cố bằng đá ong. Năm Tự Đức thứ 9 (1856) mở rộng, đặt thêm thành Dương Mã bao quanh phía ngoài Thành Đông có chu vi 246 trượng1.
Mặt Nam 61 trượng, Mặt Đông 61 trượng, Mặt Tây 62 trượng, Mặt Bắc 62 trượng; tường thành cao 5,1 thước; hào rộng 3 trượng 3 thước, sâu 6 thước. Thành có 4 cửa: cửa Đông ở vào khoảng giữa Hồ Văn hóa và Bưu điện tỉnh. Cửa Bắc nay còn di tích cây cầu trên dường Chi Lăng bắc qua hào thành (sát Công ty dược phẩm). 1 1 trượng = 10 thước; 1 thước = 0,4m bởi vậy chu vi dài 984m – mỗi mặt thành dài 244m, tường thành cao 2,16m; hào rộng 12,2m và sâu 2,4m.
7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com LuËn v¨n th¹c sÜ §µo ThÞ TuyÕn Cửa phía Tây còn di tích cây cầu trên đường Tuệ Tĩnh từ Quân Y viện 7. Cửa Nam ở sau Sở Công an đường Nguyễn Trãi. Hào của thành là sông Hoàng Giang nối vào sông Kẻ Sặt ở cả 2 đầu hào. Trong suốt hơn 40 năm (1883 - 1923), Thành Đông chỉ là một “cái làng lớn” dưới ách thống trị của thực dân Pháp.
Ngoài nhà máy rượu, nhà máy chai, lỵ sở Hải Dương không có cơ sở công nghiệp nào khác được xây dựng. Công sứ Gơrobo trong báo cáo năm 1899 đã viết: “Ngoài dinh công sứ, nhà thờ truyền đạo của người Tây Ban Nha còn có vẻ là lâu đài, người ta chỉ thấy nhà gạch ở phố có người Tàu”… Busê (Bouchet), công sứ Hải Dương 1923 – 1927 cũng có nhận xét: Hải Dương chỉ là một cái làng lớn, bùn lầy nước đọng, các quan chức, người giàu có tiền chỉ thích cho vay nặng lãi, chứ không chịu bỏ tiền xây dựng nhà cửa, kinh doanh công thương nghiệp. Theo sách hướng dẫn của Madrolee Miền Bắc Đông Dương – Bắc Kỳ (Nhà xuất bản Hachette phát hành năm 1928 do thư viện tỉnh Hải Dương trích dịch) mô tả thị xã Hải Dương sau 40 năm bị thực dân Pháp xâm lược như sau: Trên bờ những hào lớn bảo vệ thành đối diện với sông Sặt, quần tụ xã lớn ở thị xã Hải Dương, chi chít những nhà tranh hôi hám. Cách nhau có các con đường phố hẹp, khúc khuỷu, cứ tới mùa mưa là tràn ngập do những con triều lớn hoặc các kỳ nước lũ của sông…Trong khi các tỉnh lỵ khác dần dần đổi mới thành những thành thị sạch sẽ, xây đắp đẹp đẽ xinh xắn, thì Hải Dương tiếp tục sống trong khổ sở, tối tăm ở giữa những hồ ao xung quanh chen chúc nhà tranh thảm hại.
Một vài phố có được xây đắp tốt, nhưng không có bản họa, gặp sao hay vậy, Hải Dương váng đọng lên ở trong bùn… Theo đề nghị của công sứ Busê, ngày 23/12/1923, toàn quyền Đông Dương đã ra Nghị định đầu tư ngân sách xây dựng lỵ sở Hải Dương và quyết định tên gọi mới của lỵ sở Hải Dương là Thành phố Hải Dương. Đứng đầu thành phố là Đốc lý do Công sứ kiêm nhiệm (Résident Maire), giúp việc cho Đốc lý là Hội đồng thành phố gồm 4 thành viên: 2 người Pháp và 2 người Việt với nhiệm kỳ là 3 năm. Công việc đầu tiên của Đốc lý là tổ chức san lấp mặt bằng và lập một dự án xây dựng thành phố. Từ đây việc xây dựng thành phố được đẩy mạnh.
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com LuËn v¨n th¹c sÜ §µo ThÞ TuyÕn Không gian thành phố được phân thành hai khu vực: khu vực hành chính (chủ yếu bên bờ bắc sông Sặt) và khu vực kinh tế (bao gồm dân cư từ Nhà máy rượu đến ga Hải Dương). Các phố được thành lập. Tổng số toàn thành phố lúc này đã có khoảng gần 40 phố lớn nhỏ và tên phố được gọi bắt đầu bằng chữ Đông2. Đặc biệt, lúc này ở Thành phố Hải Dương có hai nút giao thông quan trọng là ngã sáu (cuối phố Phạm Ngũ Lão, đầu đại lộ Hồ Chí Minh) và ngã năm (quảng trường Độc Lập hiện nay).
Đến cuối những năm 20 đầu những năm 30 của thế kỷ XX, nhiều công trình lớn đã được xây dựng và đưa vào sử dụng như: dinh Tổng đốc, các dinh Bố chánh, trụ sở của các sở Dây thép (Bưu Điện), Lục lộ (Giao thông), Thú y, Cadastre (Địa chính), Nhà Đoan (Thuế), Nông phố Ngân hàng…. Thành phố Hải Dương đã trở thành 1 trong 4 thành phố quan trọng nhất của Bắc kỳ bấy giờ (Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Hải Dương). Đa số các nhà ở trên phố có từ 1 đến hai tầng, kiểu cách đơn điệu, kiến trúc pha tạp theo phong cách quy hoạch và kiến trúc châu Âu. Bên cạnh những khu phố sầm uất: Đông Giàng, Đông Kiều, Đông Môn, Đông Mỹ, Đông Thuần, ven thành phố đã hình thành một xóm mà cư dân là những người dân di cư từ nơi khác đến sinh sống.
Điển hình nhất là xóm Cột Cờ ở trung tâm Thành Đông (nay là khu tập thể Công ty cổ phần chế tạo bơm Hải Dương); xóm Lò Lợn (nay là khu vực Quân y viện 7), xóm Cựu Thành (ở khu vực phía sau trường trung học cơ sở Trần Phú ngày nay). Sau cách mạng tháng Tám thành công 1945, chính quyền cách mạng đã gộp các phố và ngõ xóm thành lập 3 khu phố: Bắc Sơn, Bạch Đằng, Chi Lăng. Mỗi khu phố có một số phố và xóm ngõ. Năm 1946, sau khi tái chiếm Thành phố Hải Dương, thực dân Pháp và chính quyền tay sai tiến hành xóa cấp thành phố và thành lập quận Đông Thành.
Địa giới quận Đông Thành gồm thị xã Hải Dương và các xã phía Bắc huyện Tứ Kỳ kéo dài tới tận các thôn Ô Mễ, Xuân Nẻo thuộc xã Hưng Đạo ngày nay và một số xã thuộc huyện Gia Lộc, kéo dài tới tận Phương Điếm thuộc thị trấn Gia Lộc ngày nay. 2 Các phố: Đông Thuần (khu vực Tuy Hòa chợ Phú Yên), Đông Mỹ (khu vực trước và sau nhà máy chai đến chợ Phú Yên), Đông Hòa (khu vực nhà máy sứ). 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com LuËn v¨n th¹c sÜ §µo ThÞ TuyÕn Năm 1949 – 1950, do yêu cầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, các xã Thanh Bình, Hàn Thượng (Cẩm Giàng), Ngọc Châu (Nam Sách) được sáp nhập vào thị xã. Năm 1954 diện tích hành chính của thị xã Hải Dương khoảng 500 ha.
Khu vực nhà cửa tập trung chỉ khoảng trên 100 ha. Toàn thị xã có khoảng 35 dãy phố chính, 1.106 nhà xây kiên cố, do chiến tranh tàn phá cơ sở hạ tầng bị xuống cấp nghiêm trọng. Từ năm 1968 – 1996, thị xã Hải Dương trở thành tỉnh lỵ của tỉnh Hải Hưng. Đến năm 1969, Quốc hội ra quyết định mở rộng địa giới hành chính thị xã Hải Dương tới các xã Ngọc Châu (Nam Sách), Tứ Minh, Thanh Bình, Việt Hòa, Cẩm Thượng (Cẩm Giàng).