Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn 2007 - 2013, ngành du lịch tỉnh Phú Thọ ghi nhận sự tăng trưởng nhanh chóng khi lượng du khách tăng từ 3,0 triệu lượt lên hơn 6,2 triệu lượt, đồng thời tổng doanh thu từ du lịch tăng từ 506,1 tỷ đồng lên 1.420 tỷ đồng, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 18,9%/năm. Mặc dù sở hữu kho tàng văn hóa đồ sộ với 1.372 di tích lịch sử - văn hóa đã được kiểm kê và 92 lễ hội truyền thống, địa phương vẫn đối mặt với bài toán nan giải: làm thế nào để khai thác giá trị di sản hiệu quả nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà không làm biến dạng, mai một các giá trị văn hóa nguyên gốc.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu thương mại hóa tài nguyên du lịch và yêu cầu cấp thiết về bảo tồn di sản văn hóa trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Mục tiêu cụ thể của đề tài là hệ thống hóa cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa bảo tồn di sản và phát triển kinh tế du lịch; đánh giá toàn diện thực trạng công tác này trên địa bàn tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2005 - 2013; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ định hướng đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian kinh tế - văn hóa thuộc 13 đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh Phú Thọ, xem xét mối quan hệ tác động một chiều từ công tác bảo tồn di sản đến phát triển kinh tế du lịch. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện ở việc cung cấp luận cứ khoa học nhằm tái cơ cấu ngành du lịch, nâng cao tỷ lệ khách lưu trú từ mức 9,3% năm 2013 lên các mục tiêu cao hơn, kéo dài thời gian lưu trú bình quân vượt qua con số 1,3 ngày và gia tăng mức chi tiêu của du khách quốc tế vượt ngưỡng 50 USD/ngày.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết phát triển du lịch bền vững và mô hình lợi ích tương hỗ giữa bảo tồn di sản với kinh tế du lịch được đề xuất bởi Stephen Craig-Smith và French (1994). Mô hình này chỉ ra rằng hoạt động du lịch tạo ra cơ chế chia sẻ lợi ích kinh tế cho cộng đồng bản địa, cung cấp nguồn lực tài chính để tái đầu tư hạ tầng kỹ thuật và trở thành tấm lá chắn bảo vệ các giá trị văn hóa truyền thống. Đồng thời, luận văn kết hợp khung lý thuyết về tác động kinh tế - xã hội của Kim và cộng sự (2002) nhằm phân tích cả lợi ích hữu hình như doanh thu thuế, thu nhập việc làm, lẫn lợi ích vô hình như niềm tự hào dân tộc và vị thế điểm đến.

Khái niệm di sản văn hóa được tiếp cận theo Luật Di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), bao gồm di sản văn hóa vật thể (di tích, danh lam thắng cảnh, cổ vật) và di sản văn hóa phi vật thể (lễ hội, diễn xướng dân gian, tri thức bản địa). Khái niệm kinh tế du lịch được định vị là ngành kinh tế dịch vụ tổng hợp có tính liên vùng, biến các tài nguyên nhân văn thành sản phẩm dịch vụ nhằm tạo ra giá trị gia tăng, đóng góp vào tỷ trọng GDP ngành dịch vụ (đạt 33,7% trong cơ cấu kinh tế Phú Thọ năm 2010). Hiệu quả kinh tế du lịch di sản được xác định thông qua tương quan giữa tổng doanh thu dịch vụ du lịch và chi phí bảo tồn, tôn tạo tài nguyên.

                 Tài nguyên đầu vào phong phú & độc đáo
              Tái đầu tư nguồn thu & Nâng cao nhận thức

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử kết hợp với các phương pháp định lượng và định tính. Khảo sát được thực hiện trên tổng thể 1.372 di tích lịch sử - văn hóa và 92 lễ hội truyền thống phân bố tại 13 huyện, thị xã, thành phố trên toàn tỉnh Phú Thọ.

  • Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích đối với 281 di tích đã được xếp hạng (gồm 1 di tích quốc gia đặc biệt Đền Hùng, 73 di tích cấp quốc gia và 207 di tích cấp tỉnh) cùng 30 lễ hội dân gian tiêu biểu xếp loại A theo tiêu chuẩn của Cục Di sản văn hóa. Việc lựa chọn mẫu có chủ đích dựa trên mật độ phân bổ di tích (Việt Trì đạt 2,28 di tích/km², Lâm Thao đạt 2,6 di tích/km²) và mức độ ảnh hưởng trực tiếp đến chuỗi cung ứng du lịch của tỉnh.
  • Lý do lựa chọn phương pháp phân tích: Phương pháp thống kê mô tả và phân tích so sánh liên thời gian (giai đoạn 2007 - 2013) được lựa chọn vì tính chính xác cao trong việc đo lường biến động dòng khách, doanh thu và năng lực cơ sở lưu trú. Kết hợp phân tích tài liệu thứ cấp từ Niên giám thống kê tỉnh Phú Thọ, báo cáo chuyên ngành của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ và số liệu hiện vật từ Bảo tàng Hùng Vương (lưu trữ trên 3.500 hiện vật gốc) giúp bảo đảm tính khách quan, đa chiều khi lượng hóa đóng góp kinh tế của di sản.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, lượng khách du lịch tăng trưởng nhanh nhưng cơ cấu khách tồn tại sự mất cân đối sâu sắc. Tổng lượng khách tăng hơn 2 lần từ 3,0 triệu lượt (năm 2007) lên 6,2 triệu lượt (năm 2013). Tuy nhiên, khách tham quan trong ngày luôn chiếm tỷ trọng áp đảo trên 90,3% - 91,9%, trong khi khách lưu trú chỉ chiếm từ 8,1% (năm 2007) đến 9,3% (năm 2013). Thị trường khách quốc tế tăng trưởng khiêm tốn với tốc độ 7,61%/năm, đạt 4.300 lượt vào năm 2013, chỉ chiếm 0,74% tổng lượng khách lưu trú toàn tỉnh.

Chỉ tiêu theo dõi Năm 2007 Năm 2009 Năm 2011 Năm 2013
Tổng lượt khách du lịch (Triệu lượt) 3,00 4,50 6,00 6,20
Tỷ lệ khách đi trong ngày (%) 91,90 92,00 92,20 90,30
Lượng khách lưu trú (Lượt người) 293.190 410.000 508.800 580.000
Khách du lịch quốc tế (Lượt người) 2.760 3.500 3.700 4.300
Số lượng cơ sở lưu trú (Cơ sở) 95 135 180 220
Tổng doanh thu du lịch (Tỷ đồng) 506,10 720,50 1.100,00 1.420,00

Thứ hai, doanh thu du lịch tăng trưởng mạnh mẽ nhưng mức chi tiêu bình quân của du khách còn thấp. Tổng thu từ du lịch tăng từ 506,1 tỷ đồng năm 2007 lên 1.420 tỷ đồng năm 2013, đạt tốc độ tăng trưởng 18,9%/năm. Tuy vậy, mức chi tiêu bình quân của khách quốc tế chỉ đạt khoảng 50 USD/ngày (thấp hơn nhiều so với mức trung bình cả nước từ 60 - 80 USD/ngày), thời gian lưu trú ngắn chỉ xấp xỉ 1,3 ngày do nghèo nàn về sản phẩm kinh tế ban đêm và dịch vụ giải trí bổ trợ.

Thứ ba, năng lực lưu trú phát triển về số lượng nhưng hạn chế về quy mô và chất lượng. Số lượng cơ sở lưu trú tăng từ 95 cơ sở (năm 2007) lên 220 cơ sở (năm 2013), công suất sử dụng phòng cải thiện từ 41,3% lên 47%. Dù vậy, quy mô các cơ sở còn nhỏ lẻ, bình quân chỉ đạt 10,5 buồng/cơ sở, phần lớn là nhà nghỉ tư nhân phân bố tập trung chủ yếu tại thành phố Việt Trì, trong khi các khu du lịch sinh thái như Đầm Ao Châu hay Vườn quốc gia Xuân Sơn hầu như chưa có cơ sở đạt chuẩn.

Thứ tư, công tác bảo tồn di sản còn bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Trong số 161 di chỉ khảo cổ học được phát hiện, có 67 di tích đã khai quật nhưng chỉ có 4 di tích được xếp hạng quốc gia; nhiều hố khai quật bị biến dạng hoặc xóa sổ. Tình trạng "bê tông hóa" và trùng tu sai lệch nguyên gốc diễn ra tại một số di tích lịch sử, làm suy giảm tính tôn nghiêm và mất đi nét kiến trúc truyền thống vốn là yếu tố cốt lõi thu hút khách du lịch.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh bức tranh rõ nét qua các bảng phân tích mật độ di tích và biểu đồ tăng trưởng doanh thu giai đoạn 2007 - 2013. Mật độ di tích có sự phân hóa cực kỳ sâu sắc giữa các tiểu vùng: vùng đồng bằng ven sông như Lâm Thao (2,6 di tích/km²) và Việt Trì (2,28 di tích/km²) tập trung dày đặc các công trình kiến trúc nghệ thuật, trong khi các huyện miền núi như Yên Lập (0,01 di tích/km²) hay Tân Sơn (0,0058 di tích/km²) lại sở hữu tiềm năng di sản sinh thái và văn hóa tộc người thiểu số chưa được khai phá.

Mật độ di tích tại các địa bàn trọng điểm (di tích/km²):

Nguyên nhân chính của tình trạng doanh thu tăng nhưng tỷ trọng khách lưu trú thấp bắt nguồn từ tính mùa vụ đậm nét của du lịch Phú Thọ, tập trung cao điểm vào dịp Giỗ Tổ Hùng Vương (tháng 3 âm lịch) và thưa vắng vào các tháng còn lại. So sánh với các mô hình du lịch di sản thành công tại Quần thể di tích Cố đô Huế hay Đô thị cổ Hội An, Phú Thọ chưa khai thác tối đa tính sinh động của 2 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO vinh danh là Hát Xoan (năm 2011) và Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương (năm 2012) để tạo chuỗi sản phẩm trải nghiệm thường nhật. Bài học trùng tu biến dạng di tích từ Làng cổ Đường Lâm hay chùa Võng Thị tại các tỉnh lân cận là hồi chuông cảnh báo cho Phú Thọ trong việc giữ gìn tính nguyên bản của cảnh quan di tích Đền Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện quy hoạch không gian bảo tồn gắn với phát triển 3 cụm du lịch trọng điểm. Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cần rà soát, cắm mốc bảo vệ cho toàn bộ 1.372 di tích; quy hoạch thành phố Việt Trì trở thành "Thành phố Lễ hội về với cội nguồn dân tộc Việt Nam". Mục tiêu đặt ra là kéo dài thời gian lưu trú của du khách từ 1,3 ngày lên 2,0 - 2,5 ngày trong giai đoạn 2015 - 2020.

Thứ hai, đa dạng hóa nguồn lực tài chính và đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư. Ban chỉ đạo phát triển du lịch tỉnh cần xây dựng cơ chế huy động vốn hỗn hợp từ ngân sách nhà nước, các quỹ văn hóa quốc tế và khối doanh nghiệp tư nhân. Mục tiêu nâng tổng số cơ sở lưu trú đạt chuẩn cao cấp tại các khu trọng điểm như Đầm Ao Châu, Xuân Sơn và Thanh Thủy, đưa tỷ lệ khách lưu trú đạt trên 15% vào năm 2020 so với mức 9,3% của năm 2013.

Thứ ba, xây dựng chuỗi sản phẩm du lịch đặc thù liên vùng. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ chủ trì phối hợp cùng hai tỉnh Yên Bái và Lào Cai mở rộng chương trình "Du lịch về cội nguồn", thiết lập tuyến du lịch tâm linh dọc lưu vực sông Hồng - sông Chảy. Phát triển các điểm biểu diễn Hát Xoan định kỳ tại 4 phường Xoan gốc (xã Kim Đức, An Thái) nhằm phục vụ khách quốc tế, hướng tới nâng mức chi tiêu bình quân của khách ngoại quốc từ 50 USD lên 70 - 80 USD/ngày.

Thứ tư, chuẩn hóa nguồn nhân lực và ứng dụng công nghệ trong quảng bá di sản. Hiệp hội Du lịch tỉnh cùng các cơ sở đào tạo tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên sâu cho lực lượng lao động ngành dịch vụ, phấn đấu đến năm 2020 có trên 60% lao động du lịch được đào tạo bài bản. Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu số hóa và hệ thống biển chỉ dẫn đa ngữ tại 73 di tích quốc gia nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ủy ban nhân dân các cấp tại Phú Thọ và các tỉnh trung du miền núi phía Bắc có thể ứng dụng khung phân tích để xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế du lịch giai đoạn 2020 - 2030, điều tiết cân bằng giữa bảo tồn di sản và thu hút đầu tư.
  • Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch, lữ hành và khách sạn: Các đơn vị lữ hành khai thác căn cứ thực tiễn từ 92 lễ hội và 281 di tích xếp hạng để thiết kế các tour du lịch chuyên đề, tour trải nghiệm di sản UNESCO, đồng thời định hướng đầu tư nâng cấp chuỗi 220 cơ sở lưu trú theo hướng chuyên nghiệp.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Kinh tế, Du lịch học và Quản lý văn hóa: Luận văn là tài liệu tham khảo giàu giá trị học thuật về phương pháp lượng hóa đóng góp của tài nguyên di sản đối với tăng trưởng kinh tế địa phương thông qua chuỗi số liệu thực nghiệm giai đoạn 2007 - 2013.
  • Ban quản lý di tích và cộng đồng dân cư địa phương: Cung cấp góc nhìn thực tiễn giúp các ban quản lý di tích cấp huyện, xã xây dựng phương án trùng tu đúng quy chuẩn, gắn kết người dân bản địa vào chuỗi cung ứng dịch vụ du lịch cộng đồng để cải thiện sinh kế bền vững.

Câu hỏi thường gặp

Điểm nghẽn lớn nhất trong việc phát triển kinh tế du lịch tại tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2007 - 2013 là gì?
Điểm nghẽn lớn nhất là tính chất mùa vụ cao và cơ cấu khách du lịch mất cân đối nghiêm trọng. Khách tham quan trong ngày chiếm trên 90,3%, tỷ lệ khách lưu trú chỉ đạt 9,3% (năm 2013), mức chi tiêu của khách quốc tế thấp (50 USD/ngày) và thời gian lưu trú ngắn (1,3 ngày) khiến giá trị gia tăng tạo ra cho kinh tế địa phương chưa tương xứng với tiềm năng.

Hai di sản văn hóa phi vật thể nào của Phú Thọ được UNESCO vinh danh và ý nghĩa của chúng đối với du lịch?
Đó là Hát Xoan Phú Thọ (được vinh danh năm 2011 là di sản cần bảo vệ khẩn cấp) và Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương (vinh danh năm 2012 là di sản đại diện của nhân loại). Đây là nguồn tài nguyên văn hóa độc nhất vô nhị, đóng vai trò là hạt nhân cốt lõi để xây dựng các sản phẩm du lịch tâm linh, văn hóa cội nguồn thu hút du khách trong nước và quốc tế.

Hạ tầng cơ sở lưu trú của tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2007 - 2013 đã thay đổi như thế nào?
Hệ thống lưu trú tăng nhanh từ 95 cơ sở (năm 2007) lên 220 cơ sở (năm 2013), công suất phòng đạt 47%. Tuy nhiên, quy mô còn phân tán nhỏ lẻ với bình quân 10,5 buồng/cơ sở, chủ yếu tập trung tại thành phố Việt Trì và thiếu hụt trầm trọng các cơ sở nghỉ dưỡng cao cấp tại các vùng đệm danh thắng như Đầm Ao Châu hay Xuân Sơn.

Luận văn cảnh báo nguy cơ gì trong công tác trùng tu, tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa?
Luận văn cảnh báo nguy cơ "bê tông hóa" và làm biến dạng yếu tố nguyên gốc của di tích lịch sử văn hóa, viện dẫn bài học thực tế từ Làng cổ Đường Lâm và chùa Võng Thị. Việc can thiệp thô bạo vào cảnh quan kiến trúc cổ truyền sẽ làm phá vỡ không gian linh thiêng, gây phản cảm và làm suy giảm trực tiếp sức hấp dẫn đối với khách du lịch.

Mục tiêu chiến lược của ngành du lịch tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2020 và tầm nhìn 2030 hướng tới điều gì?
Mục tiêu là đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, phát triển thành phố Việt Trì thành thành phố lễ hội cội nguồn của cả nước. Chiến lược tập trung kéo dài thời gian lưu trú lên 2,0 - 2,5 ngày, nâng tỷ lệ khách lưu trú đạt trên 15% và kết nối chuỗi du lịch sinh thái - văn hóa liên tỉnh dọc sông Hồng.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện khung lý luận về vai trò động lực của di sản văn hóa đối với phát triển kinh tế du lịch, khẳng định văn hóa là nguồn lực nội sinh quan trọng thúc đẩy tăng trưởng dịch vụ.
  • Bức tranh thực trạng được phân tích sâu sắc qua hệ thống số liệu kiểm chứng với 1.372 di tích, 92 lễ hội và sự gia tăng doanh thu từ 506,1 tỷ đồng lên 1.420 tỷ đồng trong giai đoạn 2007 - 2013.
  • Nghiên cứu chỉ rõ các hạn chế cốt lõi về tỷ trọng khách lưu trú thấp (dưới 10%), mức chi tiêu bình quân của khách quốc tế hạn chế (50 USD/ngày) và nguy cơ mai một di tích do trùng tu thiếu quy chuẩn.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược khả thi gồm: hoàn thiện quy hoạch không gian di sản, xã hội hóa nguồn vốn đầu tư hạ tầng, xây dựng tour liên tỉnh sông Hồng - sông Chảy và chuẩn hóa nguồn nhân lực du lịch.
  • Luận văn đóng góp khung phân tích thực tiễn hỗ trợ đắc lực cho việc hiện thực hóa Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Phú Thọ, đưa du lịch trở thành khâu đột phá kinh tế - xã hội bền vững giai đoạn đến năm 2020 và tầm nhìn 2030.