Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Khái niệm đương sự và quyền của đương sự trong trong giải quyết vụ án hình sự 1. Khái niệm đương sự trong vụ án hình sự Theo Điểm g khoản 1 Điều 4 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015, đương sự trong vụ án hình sự gồm: nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự. Trong đó, nguyên đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do tội phạm gây ra và có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Bị đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức mà pháp luật quy định phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự. Như vậy, BLTTHS năm 2015 chỉ liệt kê các chủ thể tham gia tố tụng với tư cách là “đương sự” mà chưa nêu khái niệm đương sự (nội hàm của thuật ngữ “đương sự”). Trong khi đó, theo quy định của Bộ luật này, đương sự tham gia vào nhiều hoạt động tố tụng vừa với tư cách là nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
Bên cạnh đó, quy định của BLTTHS năm 2015 về nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án cho thấy, đây là nhóm chủ thể có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự nhưng không phải là người bị buộc tội và việc họ tham gia tố tụng để tự bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình và có nghĩa vụ liên quan đến tội phạm xảy ra. Quan hệ tố tụng hình sự (TTHS) mà đương sự tham gia là các quan hệ về dân sự có thể được xác lập giữa đương sự với những người tham gia tố tụng khác hoặc giữa các tư cách tham gia tố tụng thuộc đương sự với nhau. Do BLTTHS chưa 8 nêu khái niệm về đương sự, từ những phân tích, nhận định tác giả xin đưa ra khái niệm về đương sự trong vụ án hình sự như sau: Đương sự trong vụ án hình sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức tham gia vào quá trình tố tụng hình sự có quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình do tội phạm gây ra trong vụ án hình sự. Vấn đề đặt ra ở đây là, đương sự trong vụ án hình sự có mối liên hệ gì với đương sự trong vụ án dân sự không, xuất phát từ nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự quy định tại Điều 30 của BLTTHS năm 2015: “Việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được tiến hành cùng với việc giải quyết vụ án hình sự.
Trường hợp vụ án hình sự phải giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại, bồi hoàn mà chưa có điều kiện chứng minh và không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự thì vấn đề dân sự có thể tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.” Vấn đề dân sự trong vụ án hình sự bao gồm việc đòi trả lại tài sản bị chiếm đoạt, đòi bồi thường giá trị tài sản do bị can, bị cáo chiếm đoạt nhưng bị mất, hoặc bị hủy hoại, buộc phải sửa chữa tài sản bị hư hỏng, đòi bồi thường thiệt hại về lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại do tài sản bị chiếm đoạt. Đòi bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần do tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm. Giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự là một trong những nguyên tắc cơ bản của BLTTHS, nó chứa đựng những nội dung thể hiện phương châm, định hướng của Nhà nước ta là giải quyết vấn đề dân sự cùng với trách nhiệm hình sự trong vụ án hình sự, không tách riêng vấn đề dân sự để giải quyết riêng theo thủ tục tố tụng dân sự như pháp luật của một số nước trên thế giới. Nguyên tắc này chi phối toàn bộ quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án 9 đối với các vụ án có vấn đề dân sự nảy sinh do việc thực hiện tội phạm.
Vì vậy trong quá trình tố tụng, ngoài việc phải chứng minh và giải quyết phần trách nhiệm hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng còn phải chứng minh và giải quyết cả phần trách nhiệm dân sự trong một vụ án một cách chính xác, khách quan, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Nguyên tắc này không những giải quyết được triệt để, khách quan những quan hệ dân sự phát sinh do hành vi phạm tội gây ra mà còn góp phần làm sáng tỏ những nội dung thuộc trách nhiệm hình sự của người phạm tội trong việc định tội danh và định khung hình phạt hoặc việc khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội đó gây ra. Chỉ được tách để giải quyết phần dân sự trong vụ án hình sự bằng một vụ án dân sự theo thủ tục tố tụng dân sự khi có yêu cầu, nếu “chưa có điều kiện chứng minh và không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự”. Một điểm đáng chú ý là do tính đặc thù riêng nên vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được giải quyết khi khởi tố vụ án hình sự mà không cần có đơn khởi kiện của đương sự.
Khi vụ án hình sự có vấn đề dân sự phát sinh do việc thực hiện tội phạm bị khởi tố thì việc dân sự đó đương nhiên được xem xét và giải quyết mà không cần phải khởi kiện riêng bằng một thủ tục khác nữa. Và một điểm khác biệt cơ bản giữa đương sự trong vụ án dân sự và đương sự trong vụ án hình sự là về chủ thể tham gia vào việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự theo thủ tục tố tụng hình sự có thể xác định như sau: một bên là người phải bồi thường dưới tư cách tố tụng là bị can, bị cáo hoặc bị đơn dân sự với một bên là người được bồi thường với tư cách tố tụng là người bị hại hoặc nguyên đơn dân sự hoặc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, còn chủ thể tham gia vào việc giải quyết dân sự theo thủ tục tố tụng dân sự thì giữa một bên là người khởi kiện với tư cách là nguyên đơn dân sự với một bên là người bị khởi kiện với tư cách là bị đơn dân sự. Qua đó, có thể thấy trong thủ tục tố tụng 10 hình sự thì tư cách tố tụng của bị đơn có thể đồng thời là bị can, bị cáo, còn trong tố tụng dân sự tư cách của bị đơn là người bị kiện về dân sự. Khái niệm quyền của đương sự trong vụ án hình sự 1.
Quyền của nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự Nguyên đơn dân sự có thể là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về vật chất do hành vi phạm tội gây ra, những thiệt hại này có thể là thiệt hại về tài sản hoặc những thiệt hại khác dẫn đến những tổn thất về vật chất như những thiệt hại do danh dự, uy tín bị xâm hại …Nguyên đơn dân sự cũng có thể là cá nhân bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do hành vi phạm tội gây ra. Nguyên đơn dân sự không phải là nạn nhân trực tiếp của tội phạm. Nguyên đơn dân sự phải có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại. Trong thực tế không phải mọi trường hợp yêu cầu của nguyên đơn đều được thể hiện bằng hình thức đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại mà có thể thể hiện yêu cầu của mình trong đơn trình báo hoặc do Cơ quan điều tra ghi nhận yêu cầu của họ qua lời trình bày về thiệt hại do tội phạm gây ra và có yêu cầu bồi thường.
Nguyên đơn dân sự có phải là chủ thể bị thiệt hại do tội phạm gây ra hay không chỉ là mang tính chất giả định cần phải chứng minh trong quá trình giải quyết vụ án. Căn cứ để xác định tư cách nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự là căn cứ mang tính hình thức, đó là giấy triệu tập đương sự với tư cách nguyên đơn dân sự, trên cơ sở yêu cầu bồi thường thiệt hại của họ. Nguyên đơn dân sự có thể tự mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng hoặc thực hiện thông qua người đại diện hợp pháp của họ. Quyền của nguyên đơn dân sự được quy định tại Điều 63 của BLTTHS năm 2015: Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá; Được thông báo kết quả điều tra, giải quyết vụ án; Yêu cầu giám định, định giá tài sản theo quy định của pháp luật; Đề nghị thay đổi người 11 có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật; Đề nghị mức bồi thường thiệt hại, biện pháp bảo đảm bồi thường; Tham gia phiên tòa; trình bày ý kiến, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi người tham gia phiên tòa; tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn; xem biên bản phiên tòa; Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình; Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về phần bồi thường thiệt hại; Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
Nguyên đơn dân sự tham gia tố tụng trong vụ án hình sự là để giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại của họ. Vì vậy, nguyên đơn dân sự chỉ có quyền kháng cáo về phần bồi thường, mà không có quyền kháng cáo về phần hình phạt. Quyền của bị đơn dân sự trong vụ án hình sự Bị đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức mà pháp luật quy định phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.