Chương 1 : Lý luận vai trò của hệ thống truyền thanh cơ sở. Chương 2 : Thực trạng hệ thống truyền thanh cơ sở trên địa ban tinh Vĩnh Long trong bối cảnh hiện nay. Chương 3 : Giải pháp và khuyến nghị. 10 CHUONG 1: NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VAI TRÒ HỆ THONG TRUYEN THANH CO SO.
Một Số Khái Niệm Co Ban. Theo từ điển Tiếng Việt — Viện Khoa học xã hội Việt Nam — Viện Ngôn ngữ học[ 13, tr.1074], Vai trò : tac dụng chức năng trong sự hoạt động, sự phát triển của cái gì đó; vai trò người quan lý; giữ vai trò quyết định. Trong nhiều tài liệu tham khảo khác, “Vai trò” có nghĩa là tác dụng, chức năng của ai hoặc cái gì trong sự hoạt động, phát triển chung của một tập thể, một tô chức. Vai trò được hiểu đơn giản là một phân vai được đóng vai bởi một người nào đó trong một hoàn cảnh cụ thé và mỗi cá nhân đóng vai trò khác nhau trong cuộc sống của họ.
Cụm từ “vai trò” được sử dụng khá phổ biến trong giao tiếp cũng như văn viết. Đây là cụm từ để nói về vị trí chức năng, nhiệm vụ mục đích của sự vật, sự việc, hiện tượng trong một hoàn cảnh, bối cảnh và mối quan hệ nao đó. Vai trò là một phân vai mà chủ thé đó đóng vai trong một hoàn cảnh cụ thé. Một sự vật, sự việc hiện tượng có thé thực hiện các vai trò khác nhau, trong các hoàn cảnh khác nhau, mỗi vai trò liên quan đến một bộ chức năng và trách nhiệm khác nhau.
Vai trò là một tình huống mà sự vật, sự việc hiện tượng có được nhờ đặc trưng của nó; mặt khác, chức năng là hành động mà một vai trò đóng vai. Ví dụ: Một giáo viên đóng vai trò trung gian, người tổ chức, người hướng dẫn, người tâm sự, v.; các chức năng của giáo viên dạy kèm bao gồm day học sinh, đánh giá kiến thức của học sinh và t6 chức các bai học, v. - Là một phân vai ma một chủ thể nào đó được đóng vai trong một hoàn cảnh cụ thể. - Một phân vai được đóng vai bởi một người nao đó trong một điều kiện cụ thê.
11 - Một cá nhân có thê thực hiện các vai trò khác nhau trong các khuôn khổ khác nhau. - Một tình huống mà người ta có được nhờ đặc tính của nó. Tựu trung lại từ “vai trò” là bao trùm hết cả về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, mục đích, “ vai trò” nhấn mạnh vào vi trí chức năng, nhiệm vụ mục dich của đối tượng trong hoàn cảnh cụ thể. Một sự vật, sự việc hiện tượng có thé thực hiện các vai trò khác nhau trong các hoàn cảnh khác nhau và mỗi vai trò liên quan đến một bộ chức năng và trách nhiệm khác nhau.
Hệ Thống Theo từ điển Tiếng Việt — Viện Khoa học xã hội Việt Nam — Viện Ngôn ngữ học, [9, tr. 435], “Hệ thống” là tập hợp nhiều yếu tố, đơn vị cùng loại hoặc cùng chức năng, có liên hệ hoặc quan hệ với nhau chặc chẽ, làm thành một hệ thống thống nhất. Ví dụ : Hệ thống giao thông, Hệ thống đường sắt, Hệ thống tổ chức Tập hợp những tư tưởng, nguyên tắc, quy tắc liên kết với nhau một cách logic, làm thành một thể thống nhất: Vi du: Hệ thong phan loai thuc vat Tính chat có trình tự, có quan hệ logic giữa các yếu t6. Cũng có thể hiểu là, “Hệ thống” là tập hợp các thành phần bao gồm thực thé và tài nguyên ( máy móc, con ngudi .), giữa chúng có mối quan hệ, tương tác với nhau.
Ví dụ : một hệ thống sản xuất bao gồm : máy móc, băng tải hàng hóa sản xuất, điều độ sản xuất, hàng hóa tồn kho. Nhiều tài liệu tham khảo cũng nêu rằng: “ Hệ thông” ( hệ : liên tiếp, kết hợp; thống : hợp lại) tập hợp những bộ phận có liên hệ chặc chẽ với nhau theo trình tự sắp xếp có qui củ và có sự liên tục. Hệ thống là một thể thống nhất bao gồm các yếu tô có quan hệ, liên hệ lẫn nhau hay là tập hợp các yếu t6 có liên quan hoặc tương tác lẫn nhau. 12 Có một vai khái niệm phân tích sâu hơn, chỉ ra đặc trưng về “Hệ thống”, là tập hợp những yếu tố, những bộ phận có mối liên hệ qua lại với nhau, tác động lẫn nhau và tạo thành một chỉnh thể nhất địnhvà đặc trưng của hệ thống không phải chỉ là các mối quan hệ và liên hệ nhau giữa các yêu tố, các bộ phận câu thành mà còn là sự thống nhất với môi trường, thông qua những mối quan hệ qua lại của nó với môi trường.
Theo định nghĩa của Lý thuyết công tác xã hội hiện đại : “Hệ thống” là một tập hợp các thành tố được sắp xếp có trật tự và liên hệ với nhau dé hoạt động thống nhất, hay là hệ thống là tập hợp nhiều yếu tố đối với cùng loại hoặc cùng chức năng có quan hệ hoặc liên hệ với nhau chặt chẽ làm thành một thê thống nhất. Mặc dù có nhiều khái niệm, định nghĩa về “Hệ thống” theo nhiều cách khác nhau, trong các tài liệu tham khảo phần lớn thường đưa ra định nghĩa riêng và cụ thể về hệ thống theo đề tài quan tâm. Theo tác giả khái niệm “Hệ thống” của đề tài này được hiểu : là tập hợp nhiều yếu tố, đơn vị cùng loại hoặc cùng chức năng, có liên hệ hoặc quan hệ chặc chẽ với nhau, tác động lẫn nhau, tạo thành một chỉnh thé nhất định. Dé trở thành một “Hệ thống” phải đảm bảo hai điều kiện đó là : tập hợp các yếu tố và có những mối quan hệ, liên hệ lẫn nhau giữa các yếu tố; từ đó tạo thành một chỉnh thể thống nhất.
Phát thanh - truyền thanh. * Phát thanh Có nhiều khái niệm khác nhau về phát thanh, dựa vào phương thức truyền thông tin và đặc điểm của loại hình.TS Tạ Ngọc Tan trong giáo trình “Truyền thông đại chúng" đã đưa ra khái niệm : “phát thanh là loại hình truyền thông đại chúng, trong đó nội dung thông tin được chuyên tải qua âm thanh. Âm thanh trong phát thanh bao gôm lời nói, âm nhạc, các loại tiêng động làm nên hoặc minh họa 13 cho lời nói như tiếng mưa, gió, nước chảy, sóng vỗ, chim hót, tiếng vỗ tay, tiếng ồn đường phố, v. Phạm Thành Hưng trong cuốn “Thuật ngữ báo chí truyền thông” cũng đã định nghĩa phát thanh như sau : "phát thanh là một phương tiện truyền thông đại chúng dựa trên nguyên tắc kỹ thuật truyền âm thanh để chuyển tải các chương trình tin tức, tri thức, nghệ thuật tới đông đảo công chúng thính gia cũng như cho các nhóm thính giả đặc thu" .132] Còn theo giáo trình "Báo phát thanh" của Học viện Báo chí và Tuyên truyền, khái niệm Báo phát thanh được dùng từ việc mở rộng và phát triển khái niệm báo chí: "Báo phát thanh được hiểu như một kênh truyền thông, một loại hình báo chí điện tử hiện đại mà đặc trưng cơ bản của nó là dùng thế giới âm thanh phong phú và sinh động (lời nói, tiếng động, âm nhạc) để chuyền tải thông điệp nhờ sử dụng kỹ thuật sóng điện tử và hệ thống truyền thanh, tác động vào thính giác của công chung.TS Nguyễn Văn Dững “phát thanh là kênh truyền thông đại chúng sử dụng kỹ thuật sóng điện từ và hệ thống truyền dẫn, truyền đi âm thanh tác động trực tiếp vào thính giác người tiếp nhận.
Chất liệu chính của phát thanh là nghệ thuật sử dụng lời nói, tiếng động và âm nhạc trong việc tái hiện cuộc sống hiện thực”. 111] Phát thanh được hiểu như : “ một kênh truyền thông, một loại hình báo chí , mà đặc trưng cơ bản của nó là dùng thế giới âm thanh phong phú và sinh động ( lời nói, tiếng động, âm nhạc ) đề chuyên tải thông điệp nhờ sử dụng kỹ thuật sóng điện từ và hệ thống truyền thanh, tác động vào thính giác (vào tai ) của công chúng”.51] Theo Luật Báo chí năm 2016, tại Điều 3, khoản 4 định nghĩa “ Báo nói là loại hình báo chí sử dụng tiếng nói, âm thanh, được truyền dẫn, phát sóng trên hạ tầng kỹ thuật ứng dụng công nghệ khác nhau”. 14 Như vậy, có thể nói rằng phát thanh là loại hình truyền thông đại chúng, trong đó nội dung thông tin được chuyên tải qua âm thanh, bao gồm 3 yếu tố : lời nói, tiếng động, âm nhạc. Trong hệ thống báo chí nước ta, phát thanh là phương tiện thông tin đại chúng thuận tiện, gần dân nhất, phủ sóng khắp mọi miền, tận từng thôn, xóm, khu dân cư.
Phát thanh là loại hình thông tin đại chúng mà nội dung thông tin được chuyên tải bằng âm thanh, tiếng nói qua làn sóng vô tuyến điện và truyền thanh qua hệ thống dây dẫn. Phát thanh có lợi thế to lớn trong việc cung cấp cho công chúng những thông tin nhanh nhất, những chương trình âm nhạc, giải trí chất lượng cao, phương tiện, thiết bị phát và thu tín hiệu phát thanh gọn nhẹ hơn, thông tin tới người nghe ở các vùng hiểm trở, cách xa đô thị, ké cả những người khiếm thị và người mù chữ. + Phát thanh thành hai loại: AM (Amplitude Modulation) là kỹ thuật điều biên được áp dụng trong phát thanh sóng đài, sóng trung và sóng ngăn. FM (Frequency Modulation) là kỹ thuật điều tần được áp dụng trong phát thanh sóng cực ngắn.
Theo tài liệu Bồi dưỡng kiến thức cán bộ thông tin và truyền thông cơ sở : “Truyền thanh là phương thức truyền tải thông tin bằng âm thanh qua dây dẫn, tín hiệu từ máy phát tổng đài đến các loa. Hệ thống truyền thanh được vận hành bởi tập hợp các thiết bị đầu cuối, từ thu âm, thu tín hiệu đầu vào sóng radio, thiết bị khuếch đại tín hiệu âm thanh, hệ thống dây dẫn và các loa”.5] Theo Quyết định số 52/2016/QĐ-TTg ngày 06/12/2016 của Thủ tướng Chính phủ ban hành quy chế hoạt động thông tin cơ sở đã nêu định nghĩa: “Truyền thanh là việc các đài truyền thanh cấp xã tiếp, phát lại các chương trình phát thanh phục vụ nhiệm vụ chính trị, thông tin, tuyên truyền thiết yếu 15 của quốc gia và địa phương do các cơ quan được cấp phép hoạt động báo nói sản xuất và phát sóng theo quy định của Luật Báo chí”.2] Như vậy, truyền thanh chủ yếu là việc đưa âm thanh phát ra trên các loa phóng thanh, mục đích nhằm truyền tải âm thanh đến tai người nghe.