Chương 1 MOT SO VAN DE LÍ LUẬN VÀ THUC TIEN VE TRUYEN HINH VA HOAT DONG XA HOI TU THIEN 1. Các khái niệm liên quan đến đề tài 1. An sinh xã hội Trên thé giới, An sinh xã hội là từ rất phố cập, đặc biệt là ở những quốc gia công nghiệp phát triển. Trong tiếng Anh, từ này thường được dùng là"social security" (an toàn xã hội).
Day là khái nệm được dùng trong hệ thống luật pháp, các giáo trình học, từ điển và các dịch vụ xã hội khác. An sinh xã hội có thê hiểu theo hai nghĩa: An sinh xã hội ở nghĩa hẹp là sự hỗ trợ bằng vật chất, tinh thần, các dịch vụ xã hội. của Nhà nước, cộng đồng xã hội cho những đối tượng (cá nhân, gia đình, cộng đồng) nghèo đói, yếu thé, dé bị tốn thương, khi họ gặp khó khăn dé đáp ứng nhu cau cơ bản của con người. An sinh xã hội ở nghĩa rộng là hệ thống chính sách, pháp luật, chương trình dịch vụ xã hội.
được Nhà nước, thị trường và cộng đồng thực hiện bằng nguồn ngân sách Nhà nước, đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động nhằm nâng cao năng lực của người dân, gia đình và cộng đồng đảm bảo dé tăng cường khả năng ngăn ngừa, giảm nhẹ và đối phó với rủi ro. Nhân đạo Theo Từ điển Tiếng Việt, nhân đạo thuộc về “đạo đức”, “thé hiện tình thương yêu và ý thức tôn trọng giá trị, phâm chất của con người”. Giá trị nhân đạo là những giá trị vừa có tính riêng tương ứng với lập trường xã hội và quyền lợi của từng giai cấp, đặc điểm của từng chế độ xã hội, vừa mang tính chung toàn nhân loại như: lòng từ thiện, đức tinh hy 13 sinh vì hạnh phúc và sinh mạng của người khác, sự xót thương trước những nỗi khổ dau cụ thé của đồng loại. "Nhân đạo, có thê hiểu là những phẩm chất đạo đức thê hiện ở nhận thức, thai độ và hành vi thương yêu, quý trọng chăm sóc va bảo vệ con người, nhất là những con người những thân phận đang gặp những khó khăn bất trắc.
Trong báo chí truyền thông, nhân đạo là thái độ tiếp cận, đánh giá sự kiện và van dé trong cuộc sống hàng ngày liên quan đến cộng đồng cũng như những số phận con người; đó là quan điểm, thái độ và những nỗ lực không mệt mỏi trong cuộc dau tranh vì quyền con người, dân chủ, dân sinh, vì sự tiến bộ xã hội và những giá tri nhân đạo chân chính. Giá trị nhân dao biểu hiện cụ thể ở mỗi cộng đồng, dân tộc theo bản sắc văn hoá và trình độ phát triển mỗi quốc gia, cộng đồng. Bat kỳ ai, dân tộc nào, sống ở đâu,.cũng đều có khát vọng sống, mong muốn có cuộc sống ấm no, hạnh phúc trong hoà bình. Như vậy, tính nhân đạo là một trong những nguyên tắc đặc thù của báo chí, là yêu cầu khách quan cần có giúp nhà báo đạt được mục đích trong quá trình tác nghiệp, là tiêu chí để đánh giá năng lực và bản lĩnh nghề nghiệp, trách nhiệm xã hội và là yếu tổ cơ bản định hình phong cách, nhân cách của nhà báo trong quá trình tiếp cận cuộc sống cộng đồng dé tim hiéu, đánh giá, đồng cảm.với hoàn cảnh sống cu thé của con người.
Công tác xã hội - từ thiện Công tác xã hội từ thiện là những hoạt động nhân đạo hướng tới trợ giúp con người có hoàn cảnh khó khăn có cơ hội vươn lên và hoà nhập cộng đồng. Hoạt động này xuất phát từ tình yêu đồng loại giữa con người và con người, song đôi khi sự giúp đỡ bị chi phối bởi động cơ cá nhân là làm việc thiện trên cơ sở của lòng nhân ai, sự cưu mang dum bọc hay tạo ra uy tín cá nhân qua hoạt động xã hội từ thiện. Trong hoạt động xã hội từ 14 thiện, phương pháp giúp đỡ dựa trên nền tảng “cho” và “nhận”, nên người được giúp đỡ thường tỏ ra thụ động đón nhận sự trợ giúp đó. Hình thức trợ giúp trong hoạt động xã hội từ thiện chủ yếu thông qua phân phối, cấp phát, đưa những vật chất cần thiết tới những người có nhu cầu.
Trong hoạt động này, người làm hoạt động xã hội từ thiện không cần được đào tạo và trang bị các kiến thức và kỹ năng nghé nghiệp công tác xã hội, điều cốt lõi là phải có tắm lòng, sự nhiệt huyết, tính nhân văn và có điều kiện nhất định về vật chat, tinh than dé có thé trợ giúp những người đang có khó khăn. Nếu như các hoạt động từ thiện chủ yếu hướng tới việc giúp đối tượng giải quyết vấn đề tức thời và đánh giá kết quả thường ít chú trọng đến tính bền vững thì công tác xã hội từ thiện luôn tính đến hiệu quả lâu dài bên cạnh việc giải quyết khó khăn trước mắt. Công tác xã hội - từ thiện không chỉ là hoạt động từ thiện xuất phát từ tình yêu đồng loại giữa con người và con người, mà là sự giúp đỡ có tính trách nhiệm xã hội, nhằm tạo ra sự thay đổi tích cực của đối tượng tiếp nhận. Trong hoạt động từ thiện, phương pháp giúp đỡ dựa trên nền tảng “cho” và “nhận”, nên người được giúp đỡ thường tỏ ra thụ động đón nhận sự trợ giúp.
Hình thức trợ giúp trong hoạt động từ thiện chủ yếu thông qua phân phối, cấp phát, đưa những vật chất cần thiết tới những người có nhu cầu. Hoạt động này giải quyết các vấn đề tức thời, hoặc cần sự trợ giúp nhanh chóng với khối lượng lớn. Ví dụ: các hoạt động cứu trợ cho hàng trăm nghìn người bị ảnh hưởng trong các thảm họa tự nhiên (động đất, sóng thần, lũ lụt,. Trong khi đó, công tác xã hội — từ thiện cần vận dụng các kiến thức, kỹ năng, tuân thủ các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp vào thực hiện các 15 phương pháp khác nhau dé giúp đối tượng (cá nhân, gia đình nhóm, cộng đồng) nâng cao khả năng tự giải quyết van đề.
Công tác xã hội là một khoa học và một nghệ thuật. Người nhân viên xã hội cần sử dụng các kiến thức kỹ năng làm việc với cá nhân gia đình và cộng đồng dé giúp họ giải quyết những vấn đề và tăng cường chức năng xã hội, cải thiện mối quan hệ với môi trường xã hội. Hoạt động từ thiện chủ yếu hướng tới giúp đối tượng giải quyết vấn đề tức thời. Sự đói nghèo của một gia đình được cải thiện hơn thông qua hoạt động từ thiện của một tô chức hay cá nhân như tặng quần áo, hỗ trợ lương thực phần nào được giải quyết, như vậy gia đình tạm thời vượt qua khó khăn ở thời điểm đó.
Trong khi công tác xã hội — tự thiện sẽ bao gồm cả việc hướng tới sự tác động có tính lâu dài, bền vững, hướng vào giải quyết các nguyên nhân làm nảy sinh vấn đề và tăng cường năng lực đối phó của đối tượng đối với những vấn đề tương tự trong tương lai. Công tác xã hội từ thiện không chỉ nhằm mục tiêu từ thiện, mà còn hướng tới sự thay đổi, tăng năng lực cho người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ trở nên tốt đẹp hơn. Truyền hình Truyền hình là một loại hình phương tiện truyền thông đại chúng chuyền tải thông tin bằng hình ảnh động và âm thanh. Truyền hình xuất hiện vào dau thé ky XX và phát trién với tốc độ vũ bão nhờ sự tiễn bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ, tạo ra một kênh thông tin quan trọng trong đời sống xã hội.
Ngày nay truyền hình trở thành công cụ sắc bén trên mặt trận tư tưởng văn hóa cũng như các lĩnh vực kinh tế- xã hội, an ninh, quốc phòng. Nước Mỹ là nơi xuất hiện truyền hình hoàn chỉnh đầu tiên trên thế giới. Những năm 1950, thế kỷ 20, truyền hình màu xuất hiện ở Mỹ sau đó 16 lan rộng sang châu Âu và Nhật Bản. Ngày nay, các quốc gia trên thế giới đang xúc tiến nhanh việc thay đổi công nghệ truyền hình từ truyền hình tương tự sang truyền hình số.
Ưu điểm của truyền hình số là chất lượng hình ảnh, âm thanh cao, có thể truyền đồng thời nhiều tiếng cùng với đường hình, cung cấp nhiều dịch vụ thông tin, cho phép truyền vài chương trình trong một kênh. Ở Việt Nam, truyền hình đang ngày càng hoàn thiện các phương tiện thu phát. Từ năm 1999 đến 2010, các đài truyền hình trong cả nước cô găng phát triển truyền hình cáp và thay thế cách ghi hình bằng phương tiện hiện đại, kỹ thuật số. Đến năm 2020, các đài truyền hình trong cả nước hoàn thành việc thu phát bằng phương tiện kỹ thuật số.
Như vậy cùng với sự phát triển của kỹ thuật và công nghệ, truyền hình đã có những bước tiến khá xa và hoàn thiện hơn so với nhiều thập kỷ trước. Đến thời điểm hiện tại, truyền hình đã phát triển đến thế hệ thứ ba trong hệ thống phát triển công nghệ số và được thê hiện bằng các dạng truyền hình số mặt dat, truyền hình cáp, truyền hình vệ tinh DTH, truyền hình số mặt đất và đặc biệt là truyền hình IPTV một loại truyền hình phát sóng qua hệ thống mạng Internet băng thông rộng và công nghệ này sẽ trở thành một lựa chọn của ngành truyền hình trong tương lai. Ở thập kỷ 50 của thế kỷ XX, truyền hình chỉ được sử dụng như là một phương tiện giải trí và thông tin. Dan dan, truyền hình đã trực tiếp tham gia vào quá trình quản lý và giám sát xã hội, tạo lập và định hướng dư luận, giáo dục và phổ biến kiến thức, phát triển văn hóa, quảng cáo và dịch vụ.
Sự ra đời của truyền hình với sự phát triển không chỉ về số lượng mà còn cả chất lượng đã góp phần làm cho hệ thống truyền thông đại chúng có 17 sức ảnh hưởng xã hội to lớn. Công chúng của truyền hình trên thế giới vì thế ngày càng đông đảo. Chương trình truyền hình Chương trình truyền hình là sự liên kết bố trí hợp lý các tin bài, bảng tư liệu, hình ảnh, âm thanh trong một thời gian nhất định., đáp ứng yêu cầu tuyên truyền của cơ quan báo chí truyền hình nhằm mang lại hiệu quả cao nhất. Chương trình truyền hình là sản phẩm truyền hình, là kết qua của hoạt động truyền hình, trong đó có cả quá trình sáng tạo gồm nhiều công đoạn: tạo dựng kế hoạch, hoạch định tác phẩm, hình thành chương trình.
Nhìn chung, có thé xem chương trình là hình thức thực tế hóa của truyền hình trong đời sống xã hội dé chuyền tải thông tin với công chúng.