Tổng quan nghiên cứu

Trong lịch sử bang giao Việt Nam - Trung Quốc thế kỷ XVIII, chuyến đi sứ năm Canh Thìn 1760 kéo dài đến năm Nhâm Ngọ 1762 là một mốc son đặc biệt rực rỡ về mặt giao lưu học thuật. Được ghi chép tường tận trong tác phẩm Bắc sứ thông lục ký hiệu A.179 gồm 354 trang với gần 60.000 chữ Hán, công trình của sứ thần Lê Quý Đôn là pho tư liệu độc bản vô giá. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn xuất phát từ một khoảng trống học thuật: phần lớn các công trình trước đây chỉ tập trung khảo sát thể chế triều cống, thơ văn đi sứ hoặc lộ trình ngoại giao đơn thuần mà chưa đi sâu đánh giá hoạt động trao đổi học thuật mang tính chuyên sâu giữa các sứ thần Việt Nam và giới quan lại, học giả Trung Hoa.

Mục tiêu cụ thể của luận văn là tiến hành khảo cứu văn bản học, dịch thuật chú giải toàn diện tác phẩm, đồng thời phục dựng bức tranh giao lưu học thuật song phương trong không gian văn hóa Đông Á thế kỷ XVIII. Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ tiến trình trù bị kéo dài hơn 1 năm từ mùa đông 1758 đến cuối năm 1759, cùng hành trình thực địa 2 năm qua hơn 5 tỉnh lớn của Trung Quốc như Giang Tô, An Huy, Giang Tây, Hồ Bắc, Hồ Nam và Quảng Tây. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc lượng hóa các dữ liệu lịch sử, phân tích hơn 10 chủ đề học thuật lớn từ Kinh học, Triết học đến Địa lý và Thể chế, qua đó định vị vững chắc tiềm lực tri thức của Đại Việt trong khu vực.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng 2 hệ thống lý thuyết nền tảng: Lý thuyết giao lưu văn hóa khu vực đồng văn Đông Á và Lý thuyết Thực học - Khảo chứng học đời Minh - Thanh. Trong đó, tác giả tiếp cận mô hình giao lưu văn hóa đa chiều, phân tích hiện tượng tiếp xúc học thuật không chỉ giới hạn giữa Đại Việt và Trung Hoa mà còn mở rộng trong bối cảnh cuộc hội ngộ giữa sứ thần Việt Nam, Triều Tiên và cống sinh Nhật Bản.

Khung phân tích tập trung vào 4 khái niệm then chốt:

  1. Bút đàm học thuật: Hình thức trao đổi tư tưởng, văn chương và học thuật trực tiếp thông qua văn tự chữ Hán giữa các trí thức không cùng tiếng nói.
  2. Thực học Nho gia: Khuynh hướng tư tưởng đề cao tính thực tiễn, khảo biện thư tịch, phê phán tính chất viển vông của Tống Nho.
  3. Văn bản học Hán Nôm: Hệ thống phương pháp giám định niên đại, khảo sát húy tự và đối chiếu dị bản văn tự cổ.
  4. Thể chế bang giao triều cống: Khung khổ quan hệ ngoại giao chính thống quy định nghi lễ, phẩm cấp và trách nhiệm ngoại giao phong kiến.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu chính là văn bản chép tay độc bản Bắc sứ thông lục A.179 khổ 28 x 16cm, kết hợp đối chiếu với hệ thống tư liệu bổ trợ gồm 4 tác phẩm tiêu biểu của Lê Quý Đôn: Quần thư khảo biện A.252 gồm hơn 60.000 chữ, Thánh mô hiền phạm lục VHv.275 gồm 12 quyển, Quế Đường thi vựng tuyển toàn tập VHv.2341 tập hợp 514 bài thơ và bộ bách khoa toàn thư Kiến văn tiểu lục.

Phương pháp nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa văn bản học, liên văn bản, thống kê - phân tích - tổng hợp và phương pháp sử học liên ngành. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 91 tờ của quyển 1 và 86 tờ của quyển 4 còn lưu giữ. Phương pháp chọn mẫu toàn bộ được áp dụng bắt buộc do tính chất độc bản của văn bản lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Lý do lựa chọn phương pháp văn bản học kết hợp liên văn bản là nhằm giải mã chính xác các lớp văn tự bị kiêng húy, xác định thời điểm sao chép và làm rõ mối liên hệ giữa các trước tác của Lê Quý Đôn với các cuộc thảo luận học thuật trên đường đi sứ.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về mặt văn bản học, nghiên cứu chứng minh bản chép tay A.179 dày 354 trang hiện nay là bản sao chép lại từ thời vua Thành Thái giai đoạn 1889 - 1907 cho đến trước năm 1957. Căn cứ xác thực là sự xuất hiện của các chữ kiêng húy thời Lê Trung Hưng như chữ cửu và chữ đề tại 10 vị trí khác nhau ở quyển 1, cùng hiện tượng đổi chữ thì thành chữ thìn kiêng húy vua Tự Đức tại 5 vị trí ở quyển 4, kết hợp với các con dấu kiểm kê của Viện Viễn Đông Bác Cổ thành lập năm 1900.

Thứ hai, công tác tổ chức hậu cần và tài chính của đoàn sứ được ghi chép cực kỳ chi tiết. Phái đoàn chính thức gồm 25 thành viên gồm 3 Bồi thần, 9 Hành nhân và 13 Tùy nhân. Ngân sách thuê phu dịch lên tới 2.445 quan tiền, huy động 240 phu gánh cho các đoàn tiền trạm, cùng 84 phu gánh công trang và 675 phu gánh tư trang. Triều đình đã cấp phát 148 lạng bạc, hơn 274 quan tiền các loại, 152 bình nước mắm và 25 lạng bạc mua sắm dược liệu, bút mực.

Thứ ba, hoạt động bút đàm học thuật diễn ra với tần suất dày đặc và chất lượng học thuật đỉnh cao. Riêng trong tháng 8 năm Tân Tỵ 1761, Phó sứ Lê Quý Đôn đã thực hiện 4 cuộc bút đàm chuyên sâu với Khâm sai Tần Triều Vu về Kinh Thi, cơ cấu thi cử và đặc biệt là việc hiệu đính, viết lời tựa cho 2 bộ sách đồ sộ Quần thư khảo biện và Thánh mô hiền phạm lục.

Thứ tư, tác phẩm phản ánh chân thực mặt trái của xã hội phong kiến nhà Thanh thời Càn Long. Tiến độ hồi hương của sứ đoàn bị chậm trễ hơn 5 tháng, nguyên nhân trực tiếp do các chủ thuyền câu kết với viên quản gia của quan Khâm sai để dừng đỗ buôn lậu muối với giá 28 đồng tiền một cân tại khắp các bến sông vùng Giang Nam.

Thảo luận kết quả

Khi xem xét toàn bộ diễn trình, các dữ liệu có thể được mô hình hóa sinh động qua biểu đồ đường thể hiện tốc độ di chuyển dọc sông Tiêu Tương và hồ Động Đình, kết hợp cùng bảng ma trận phân loại 5 chủ đề bút đàm chính. Nguyên nhân của sự bùng nổ giao lưu học thuật nằm ở sự trỗi dậy của trào lưu Thực học và Khảo chứng học tại Trung Quốc, gặp gỡ tư tưởng duy lý, bác học của Lê Quý Đôn. So sánh với các đoàn sứ giai đoạn đầu thế kỷ XVIII trước năm 1760 và giai đoạn sau năm 1762, chuyến đi sứ này vượt trội hoàn toàn về chiều sâu học thuật. Thay vì chỉ dừng lại ở nghi thức xướng họa thơ ca ngoại giao thông thường, đoàn sứ Việt Nam đã chủ động xuất bản, giới thiệu các công trình học thuật tầm cỡ, buộc giới quan chức và học giả Trung Hoa phải thay đổi hoàn toàn cái nhìn về tiềm lực văn hiến của Đại Việt.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Đẩy mạnh số hóa và công bố toàn bộ 79 tác phẩm thuộc tổng tập Việt Nam Hán văn Yên hành trong giai đoạn 2026 - 2028 nhằm tạo cơ sở dữ liệu mở phục vụ nghiên cứu quốc tế, do Viện Nghiên cứu Hán Nôm chủ trì thực hiện.
  2. Tăng cường ứng dụng phương pháp tiếp cận liên ngành giữa Văn bản học, Sử học và Quan hệ quốc tế, nâng tỷ lệ các đề tài nghiên cứu tư liệu đi sứ trong các cơ sở giáo dục đại học lên mức 25% trong vòng 3 năm tới.
  3. Thiết lập mạng lưới hợp tác học thuật trực tuyến kết nối hơn 50 chuyên gia nghiên cứu Hán Nôm và Đông Á học tại Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản trong vòng 18 tháng nhằm làm sáng tỏ các mối quan hệ học thuật đa phương thời trung đại.
  4. Triển khai dự án phục chế khẩn cấp và bảo quản vật lý đối với hơn 40% khối tài liệu Hán Nôm quý hiếm đang trong tình trạng rách ố tại các kho lưu trữ chuyên ngành trước năm 2030.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Các nhà nghiên cứu Hán Nôm và Văn bản học: Nắm bắt phương pháp giám định niên đại bản sao, kỹ thuật tra cứu húy tự từ thời Lê Trung Hưng đến thời Nguyễn trên mẫu tư liệu 354 trang.
  2. Giảng viên và nghiên cứu sinh chuyên ngành Lịch sử, Quan hệ quốc tế: Khai thác trường hợp nghiên cứu điển hình về ngoại giao triều cống, thực tiễn bang giao và chiến lược ngoại giao văn hóa thế kỷ XVIII.
  3. Giới nghiên cứu tư tưởng, văn học trung đại và cuộc đời danh nhân: Tiếp cận nguồn sử liệu gốc để làm sáng tỏ quá trình hình thành tư duy bách khoa cùng gần 50 công trình trước tác của Bảng nhãn Lê Quý Đôn.
  4. Chuyên viên thư viện, trung tâm lưu trữ và bảo tồn di sản: Áp dụng kinh nghiệm xử lý tài liệu độc bản, phân loại ấn triện cổ của Viện Viễn Đông Bác Cổ và quản lý hồ sơ thư tịch Hán Nôm.

Câu hỏi thường gặp

Văn bản Bắc sứ thông lục A.179 hiện lưu trữ có phải là bản gốc của Lê Quý Đôn không? Không, đây là bản chép tay sao chép lại khoảng từ thời Thành Thái năm 1889 đến trước năm 1957. Bằng chứng là văn bản chứa các chữ kiêng húy vua Tự Đức thời Thành Thái và đóng dấu kiểm kê của Viện Viễn Đông Bác Cổ thành lập năm 1900.

Quy mô nhân sự của sứ đoàn Đại Việt năm 1760 được tổ chức như thế nào? Sứ đoàn chính thức gồm 25 người, đứng đầu là Chánh sứ Trần Huy Mật cùng 2 Phó sứ Lê Quý Đôn và Trịnh Xuân Thụ, hỗ trợ bởi 9 Hành nhân chuyên trách thông sự, y viện, thư ký và 13 Tùy nhân phục vụ.

Tại sao hành trình trở về nước của sứ bộ lại bị kéo dài nhiều tháng? Nguyên nhân chủ yếu do các chủ thuyền lợi dụng việc hộ tống để buôn lậu muối tại 2 tỉnh Giang Tô và An Huy nhằm thu lợi 28 tiền mỗi cân, cố tình trì hoãn khởi hành dù gặp gió thuận.

Các tác phẩm nào của Lê Quý Đôn được đưa ra đàm luận trực tiếp với học giả nhà Thanh? Hai tác phẩm trọng tâm được đưa ra thảo luận sâu là Quần thư khảo biện gồm 2 quyển hơn 60.000 chữ và Thánh mô hiền phạm lục gồm 12 quyển, cả hai đều nhận được sự tán thưởng và đề tựa từ Khâm sai Tần Triều Vu.

Chuyến đi sứ 1760 - 1762 có tác động gì đến sự nghiệp trước thuật của Lê Quý Đôn? Chuyến đi giúp ông tiếp cận kho sách đồ sộ của đời Thanh, trực tiếp đàm luận với các tiến sĩ Trung Hoa và sứ thần Triều Tiên, tạo bước ngoặt để ông hoàn thành các bộ bách khoa thư đồ sộ như Kiến văn tiểu lục năm 1777 và Vân đài loại ngữ năm 1773.

Kết luận

  • Khẳng định giá trị lịch sử và văn bản học của bản chép tay độc bản Bắc sứ thông lục A.179 gồm 354 trang ghi chép toàn diện hành trình đi sứ 1760 - 1762.
  • Làm rõ quy mô chuẩn bị ngoại giao công phu kéo dài hơn 1 năm với kinh phí hàng nghìn quan tiền cùng 25 thành viên chính thức.
  • Phục dựng diện mạo giao lưu học thuật đỉnh cao thông qua hàng loạt cuộc bút đàm chuyên sâu về Kinh học, Triết học và Lịch sử.
  • Cung cấp góc nhìn thực tiễn về bối cảnh kinh tế, tệ buôn muối và đời sống xã hội Trung Quốc dưới thời Càn Long.
  • Nâng cao vị thế văn hiến và tiềm lực học thuật của trí thức Đại Việt trong không gian văn hóa Đông Á thế kỷ XVIII.

Công trình là tài liệu tham khảo thiết yếu cho việc nghiên cứu lịch sử văn hóa và ngoại giao cổ trung đại. Các nhà nghiên cứu và học viên quan tâm có thể tiếp cận trọn vẹn bản dịch chú chi tiết tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm để đào sâu thêm những giá trị học thuật đặc sắc của di sản này.