Chương 1: LÊ QUÝ ĐÔN VÀ VĂN BẢN BẮC SỨ THÔNG LỤC 北使通錄 A.179 Ở chƣơng một, chúng tôi trình bày hai nội dung lớn: Giới thiệu cuộc đời - sự nghiệp trƣớc thuật của Lê Quý Đôn và các vấn đề về văn bản Bắc sứ thông lục A. Cuộc đời sự nghiệp Lê Quý Đôn đã đƣợc nhiều ngƣời nghiên cứu, ở đây chúng tôi tìm hiểu và đặc biệt nhấn mạnh vai trò sự kiện đi sứ năm 1760 -1762 đối với sự nghiệp quan trƣờng và trƣớc thuật của ông. Tiếp đến chúng tôi tiến hành mô tả khảo cứu văn bản học, đọc hiểu xuyên suốt các nội dung và giá trị tác phẩm Bắc sứ thông lục. Lê Quý Đôn 黎貴惇 – cuộc đời và sự nghiệp trước thuật 1.
Tiểu sử Lê Quý Đôn Nhìn lại lịch sử cổ trung đại của dân tộc, mỗi ngƣời dân Việt Nam đều vô cùng biết ơn ông cha ta đã vất vả kiên cƣờng xây dựng gìn giữ giang sơn đất nƣớc và bản sắc dân tộc. Lịch sử ghi chép vô vàn những ngƣời có công lao với đất nƣớc, sáng chói tên tuổi nhiều vị anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa. Trong đó Lê Quý Đôn đƣợc biết đến với tƣ cách một danh nhân văn hóa, một tác gia có cống hiến lớn nhất cho nền văn hóa học thuật Việt Nam trong thế kỷ XVIII. Gia tộc Lê Quý Đôn sinh ngày mồng 5 tháng 7 năm Bính Ngọ (tức ngày 2 tháng 8 năm 1726) tại phƣờng Bích Câu, Thăng Long.
Ông tên khai sinh là Lê Danh Phƣơng, tên hiệu là Quế Đƣờng, tên tự là Doãn Hậu. Ông xuất thân trong một gia đình khoa bảng giàu có đƣơng thời. Cụ tổ Lê Quý Đôn là Phúc Thiện công, vốn là ngƣời huyện Đông Ngàn, trấn Kinh Bắc, sau di cƣ đến ở làng Phú Hiếu, Diên Hà, 11 Thái Bình. Cụ Phúc Thiện công sinh ra cụ Phúc Lý là ông nội của Lê Quý Đôn, nhà nghèo nhƣng chăm chỉ học hành, thi đỗ Sinh đồ rồi làm nghề dạy học.
Cha Lê Quý Đôn là Lê Trọng Thứ [1694 – 1781], tính tình ngay thẳng, trung trực và nghiêm khắc. Ông Trọng Thứ đỗ Tiến sĩ năm Bính Thìn [1724], làm quan đại thần có danh tiếng trong triều, từng giữ nhiều trọng trách nhƣ: Cấp sự trung bộ Hình, Tri Công phiên ở phủ chúa, Nhập thị Bồi tụng, Tả chính ngôn, Giám sát ngự sử Hải Dƣơng, Đông Các đại học sĩ, Phó đô ngự sử, Công bộ Tả Thị lang, Hình bộ Thƣợng thƣ… Lê Trọng Thứ đƣợc ban tƣớc Diên Phƣơng bá, sau thăng là Diễn Phái hầu, sau khi mất phong hàm Thái bảo, tƣớc Hà quận công. Mẹ Lê Quý Đôn là bà Trƣơng Thị Ích – con gái thứ ba của cụ Trƣơng Minh Lƣợng. Cụ Trƣơng đỗ Tiến sĩ năm Canh Thìn, niên hiệu Chính Hoà thứ 21 [1700], từng đƣợc phong Hoàng tín Đại phu, giữ chức Công bộ Tả Thị lang, tƣớc Hoàng Công hầu.
Lê Quý Đôn có tám anh em trai và mƣời hai chị em gái. Lê Quý Đôn là anh cả, em trai thứ hai là Đình Thái, giữ chức Câu kê Công phiên, tặng Tham chính Quảng Yên, em thứ ba là Quý Hằng đƣợc tiến triều, giữ chức Đông các học sĩ, em thứ tƣ là Trọng Quản giữ chức Hiến sát phó sứ Hải Dƣơng, em trai thứ năm là Trọng Tiến giữ chức Chỉ huy đồng tri, tƣớc bá, em trai thứ sáu là Quý Tự làm Trung Úy, em trai thứ bảy là Quý Điêu làm Trung uý, em trai thứ tám là Quý Ngạc giữ chức Mậu lâm lang. chị em gái 10 ngƣời đều gả cho nhà danh gia vọng tộc. Đức nghiệp của tổ tiên dòng họ, sự nghiêm khắc chú trọng giáo dục và đạo đức chính trực của thân phụ Lê Quý Đôn đã ảnh hƣởng trực tiếp sâu sắc đến cuộc đời ông.
Tuổi thơ thông minh hiếu học, sớm được giáo dục nghiêm ngặt Nhiều sách sử truyền thuyết ghi chép, ngay từ lúc hai tuổi, cha ông đã dạy ông phân biệt chữ hữu 有 và vô 無. Lê Quý Đôn năm tuổi đã học thuộc nhiều thơ ca trong sách Kinh Thi 經詩. Năm 1731 khi Lê Trọng Thứ bị giáng chức, Lê Quý Đôn sáu tuổi, từ biệt ông ngoại, theo cha về sống ở Diên Hà – Thái Bình. Đến năm mƣời một tuổi, Lê Quý Đôn học Tống sử 宋史, Nguyên Sử 元史, một ngày thuộc đến tám 12 chín mƣơi chƣơng, học Kinh Dịch 易經 thì mỗi ngày đọc đƣợc phần 綱型 Cương hình và 圖說 Đồ thuyết.
Năm mƣời bốn tuổi, Lê Quý Đôn đã đọc hết các sách Tứ thư 四書, Ngũ kinh 五經, Sử 史, Truyện 傳, Bách gia chư tử 百家諸子. Mỗi ngày làm mƣời bài phú không phải suy nghĩ, không phải viết nháp. Từ nhỏ Lê Quý Đôn nổi tiếng thông minh, thơ phú tài tình khiến dân làng và bạn bè của cha mẹ đều ca ngợi là thần đồng. Thƣờng ngày cha ông Lê Trọng Thứ luôn chú ý dạy bảo mọi điều trong sách sử, kinh truyện và lễ tiết ứng đối cho Lê Quý Đôn.
Ông thƣờng mua và mƣợn nhiều sách sử của bạn bè về đọc và cho Lê Quý Đôn cùng xem. Hai cha con ông thƣờng chong đèn đọc sách, trao đổi thảo luận về kinh sử và thế sự. Ông cũng thƣờng xuyên dẫn Lê Quý Đôn đi chơi bạn hữu, du ngoạn cảnh sắc, khi lên đỉnh Côn Sơn, lúc thăm chùa Phật Tích, buổi ngƣợc miền Tả ngạn… Những lần đi theo cha trong dịp công cán, có lúc đơn thuần du lãm đều khiến Lê Quý Đôn tiếp xúc, học hỏi và mở rộng nhiều tri thức kiến văn và kinh nghiệm thực tiễn. Lê Trọng Thứ vừa là ngƣời cha vừa là ngƣời thầy dạy mẫu mực đầu tiên của Lê Quý Đôn.
Lúc bị giáng chức ở quê, ngoài việc Lê Quý Đôn học tập ở nhà, Lê Trọng Thứ còn cho Lê Quý Đôn đến theo học ông nghè Hoàng Công Lạc, ngƣời xã Đô Kỳ (nay thuộc huyện Hƣng Hà, Thái Bình). Đến năm 1740, khi cha ông đƣợc chúa Trịnh Doanh phục chức, vời ra kinh đô, Lê Quý Đôn lại trở về Thăng Long, nên càng có nhiều dịp đƣợc theo cha dự những buổi bình thơ đàm văn, gặp gỡ tiếp xúc với nhiều quan chức, danh sĩ nhƣ Bùi Sĩ Tiêm, Vũ Công Trấn, Nguyễn Công Hãng, Ngô Đình Thạc, Phạm Quang Dung, Nguyễn Công Cơ, Đoàn Thị Điểm, Lê Trọng Tín, Nguyễn Bá Lân, Ngô Thì Sĩ… Khi ở Thăng Long, Lê Quý Đôn theo học Nguyễn Tông Quai, từng đƣợc thầy dạy kể nhiều chuyện đi sứ phƣơng Bắc và đọc cho nghe nhiều thơ văn xƣớng họa với các quan lại Trung quốc và Hàn Quốc. Tuổi trẻ học rộng tài cao, đỗ đạt nổi danh khắp kinh thành 13 Lê Quý Đôn đỗ đầu kì thi Hƣơng năm Quý Hợi đời vua Lê Hiển Tông [1743]. Mấy năm liền sau đó ông tham gia thi Hội nhƣng không đỗ.
Ông ở nhà dạy học, say mê đọc sách và viết sách. Tuy không ra làm quan nhƣng tiếng tăm văn chƣơng ông nghè Diên Hà đã nổi tiếng khắp quê nhà và chốn kinh thành. Năm Lê Quý Đôn 22 tuổi, Lê Hữu Kiều quý mến tài hoa văn chƣơng, hiểu biết sâu rộng của ông liền gả con gái thứ bảy là Lê Thị Trang cho ông. Năm 1749, khi mới 24 tuổi, Lê Quý Đôn viết sách Lê triều thông sử, gồm hơn 30 quyển, khảo chép lịch sử hơn 100 năm từ Lê Thái Tổ đến Lê Cung Hoàng.
Hoàn thành xong bộ sách này, giới trí thức đƣơng thời đều vô cùng ngƣỡng mộ tuổi trẻ tài cao, kiến thức sâu rộng và khả năng bác văn cƣờng kí của Lê Quý Đôn. Từ đó danh tiếng của ông nghè Diên Hà càng vang xa. Năm Nhâm Thân [1752], Lê Quý Đôn đỗ đầu Hội nguyên, vào thi Đình ông đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ nhị danh. Khoa thi ấy không lấy Trạng nguyên nên ông đỗ Bảng nhãn là ngƣời đỗ đầu khoa.
Ông là một trong số ít ngƣời đỗ đầu cả ba kì thi Hƣơng – Hội – Đình. Từ đây Lê Quý Đôn bắt đầu bƣớc vào con đƣờng quan trƣờng rạng rỡ nhƣng nhiều gian truân và thăng trầm. Những năm đầu làm quan thỏa chí tang bồng [1752-1763] Ngay sau khi yết bảng đề danh, vinh quy bái tổ, Lê Quý Đôn đƣợc phân bổ làm Thị thƣ viện Hàn Lâm. Hai năm sau, ông đƣợc thăng làm Toản tu Quốc sử quán.
Tháng 4 năm 1756, Lê Quý Đôn phụng mệnh Trịnh Doanh đi liêm phóng các lộ ở Sơn Nam. Tháng 5, ông đƣợc biệt phái sang phủ chúa giữ chức Tri binh phiên. Tháng 8, ông đƣợc sai đem quân phối hợp với các đạo ở Sơn Tây, Tuyên Quang, Hƣng Hóa dẹp loạn Hoàng Công Chất. Về triều Lê Quý Đôn dâng khải tâu mƣời chín điều về chức Chƣởng phiên binh, đƣợc chúa Trịnh Doanh khen ngợi, thƣởng cho năm mƣơi lạng bạc.
Năm 1757, Lê Quý Đôn hoàn thành hai bộ sách Quần thư khảo biện và Thánh mô hiền phạm lục. Nhờ công lao dẹp loạn Hoàng Công Chất ở Sơn Tây, tâm huyết soạn bản tấu khải dâng chúa Trịnh và công phu hoàn thành các sách khảo cứu sƣu tầm thƣ tịch, nên năm Đinh Sửu [1757] Lê Quý Đôn đƣợc thăng chức Hàn lâm viện Thị giảng, tƣớc Dĩnh Thành bá. Thời gian này, Lê Quý Đôn đƣợc chúa Trịnh Doanh rất mực yêu mến và trọng dụng. 14 Năm 1758, khi triều đình tuyển chọn quan viên đi sứ phƣơng Bắc, Lê Quý Đôn đƣợc liệt vào danh sách Phó sứ.
Chúa Trịnh Doanh sai Cổn quân công Trƣơng Khuông hỏi ý Lê Quý Đôn, có ý muốn giữ ông lại để giúp rập công việc phủ chúa rồi sẽ đi dịp sau. Nhƣng Lê Quý Đôn xin đi chuyến này để sớm đƣợc quan quang phong cảnh đất Bắc, mở mang tri thức kiến văn. Trong thời gian đi sứ hơn hai năm từ mùa xuân năm Canh Thìn [1760] đến cuối xuân năm Nhâm Ngọ [1762], Lê Quý Đôn không chỉ hoàn thành trọn vẹn sứ mệnh bang giao, tích cực giới thiệu khẳng định văn hiến dân tộc, giữ thể diện vinh dự cho đất nƣớc, mà bản thân ông đƣợc thỏa chí nguyện tiếp xúc với học thuật đƣơng đại Trung Quốc, trao đổi trực tiếp với các quan lại và nhân sĩ Trung Quốc, Sứ thần Hàn Quốc và Cống sinh Nhật Bản. Có thể nói chuyến hoàng hoa đất Bắc là nốt son chói ngời nhất trong mƣời năm đầu làm quan hanh thông thuận lợi của ông.
Đồng thời đây cũng là chuyến đi sứ có nhiều hoạt động giao lƣu văn hóa học thuật Việt – Trung nổi bật nhất trong thế kỉ XVIII, trong đó Lê Quý Đôn là ngƣời có công lao đầu tiên. Thời gian đi sứ tiếp xúc với học thuật đƣơng đại Trung Quốc có ảnh hƣởng nhiều đến các khuynh hƣớng trƣớc thuật của ông sau này. Sau khi về nƣớc, vua Lê – chúa Trịnh ban thƣởng và thăng chức Lê Quý Đôn làm Hàn lâm viện Thừa chỉ.