Chương 1. TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TRƯỚC ĐÂY LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm nước ngoài Các nghiên cứu đánh giá tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế trên thế giới khá phong phú và đa dạng. Nhìn chung các nghiên cứu này được chia làm 2 trường phái là: nghiên cứu đưa ra kết luận tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế là tác động tích cực, tương quan dương; một số nghiên cứu khác lại đưa ra kết quả ngược lại, họ nhận xét rằng FDI tác động không đáng kể đến tăng trưởng kinh tế hoặc có tác động tiêu cực.
Chúng ta cùng đi qua một số nghiên cứu để thấy rõ quan điểm của hai trường phái trên. Nghiên cứu đưa ra kết luận FDI ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế: Các nghiên cứu dựa vào một trong hai lý thuyết để phân tích là lý thuyết tăng trưởng ngoại sinh và tăng trưởng nội sinh. Mô hình tăng trưởng ngoại sinh, còn được gọi là mô hình tăng trưởng Solow, được phát triển bởi Robert Solow, người đoạt giải Nobel năm 1987. Nghiên cứu thực nghiệm dựa trên lý thuyết này cho kết luận rằng kết quả tăng trưởng sản lượng dựa vào các yếu tố đầu vào như gia tăng chất lượng và số lượng lao động thông qua tăng trưởng dân số và giáo dục; gia tăng vốn thông qua vốn đầu tư nước ngoài và tiến bộ trong công nghệ.
Tỷ lệ tăng trưởng dài hạn của một quốc gia là ngoại sinh được xác định bằng cách giả định một tỷ lệ tiết kiệm hoặc tỷ lệ tiến bộ kỹ thuật (Solow, 1956). Tuy nhiên, mô hình ngoại sinh không giải thích lý do tại sao hoặc làm thế nào để tiến bộ công nghệ xảy ra. Điều này đã dẫn đến sự phát triển của lý thuyết tăng trưởng nội sinh. Lý thuyết tăng trưởng nội sinh đã đưa mô hình Solow tiến thêm một bước xa hơn nữa bằng cách giải thích hiệu quả của FDI vào tăng trưởng kinh tế thông qua tác động lan tỏa kiến thức và sự tồn tại của vốn con người.
Lan tỏa kiến thức là một kênh chuyển giao kiến thức (công nghệ) từ các chi nhánh của các công ty nước ngoài (các công ty đầu tư) đến các công ty nhận đầu tư. Romer (1990), Lucas (1988), Mankiw, Romer và Weil (1992) thử nghiệm mô hình lý thuyết tăng trưởng nội sinh và tìm thấy rằng, với nguồn nhân lực bổ Trang 8 sung và vốn vật chất thì tốc độ hội tụ chậm hơn nhiều. Bị ảnh hưởng bởi cách tiếp cận này, hầu hết các mô hình thực nghiệm đều cộng giáo dục vào phương trình phân tích như là một đại diện cho vốn con người. Blomstrom et al.
(1994) và Coe et al. (1995) tìm thấy rằng, FDI có tác động tích cực vào tăng trưởng kinh tế, nước nhận đầu tư cần phải đạt được một mức độ phát triển nhất định sẽ giúp gặt hái những lợi ích của năng suất cao hơn nữa. Sử dụng mẫu dữ liệu lớn hơn, Borensztein et al. (1998) thấy rằng FDI có ảnh hưởng tích cực trên sự tăng trưởng có tác động mạnh nhất thông qua sự tương tác giữa FDI và vốn con người.
De Mello (1999) tìm thấy tác động tích cực của FDI vào tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển. Ông nhận thấy rằng tăng trưởng dài hạn ở nước sở tại được xác định bởi các ngoại tác lan truyền công nghệ và kiến thức từ các nước đầu tư sang các nước nhận đầu tư. Zhang (2001) cũng đã có phân tích về tác động FDI vào tăng trưởng kinh tế tại Trung Quốc. Nghiên cứu của ông nêu lên rằng FDI góp phần vào tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc thông qua các tác động trực tiếp, chẳng hạn như sự gia tăng năng suất và đẩy mạnh xuất khẩu, cũng như hiệu ứng yếu tố bên ngoài tích cực trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chuyển đổi và lan truyền công nghệ.
Lopez - Calva và Rodriguez - Clare (2000) lập luận rằng đầu tư của Intel ở Costa Rica vào năm 1997 đã làm gia tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế bằng cách tạo ra các lợi ích lan tỏa đáng kể cho nền kinh tế địa phương, chẳng hạn như việc tạo ra các chương trình đào tạo mới trong các cơ sở giáo dục đại học và thu hút các nhà cung cấp mới đến Costa Rica. Hơn nữa, Bengoa và Sanchez - Robles (2003) cho thấy rằng FDI là tương quan tích cực với tốc độ tăng trưởng kinh tế mà các nước sở tại yêu cầu nguồn nhân lực, ổn định kinh tế và tự do hóa thị trường để được hưởng lợi từ FDI dài hạn. Sử dụng các phương pháp tiếp cận, Baharumshah và Thanoon (2005) khẳng định tác động tích cực của FDI vào tăng trưởng kinh tế ở các nước Đông Á, bao gồm Trung Quốc, trong ngắn hạn và dài hạn. Họ cho thấy rằng ảnh hưởng tích cực của FDI vào tăng trưởng cao hơn so với tiết kiệm trong nước ủng hộ giả thuyết cho rằng dòng vốn FDI hiệu quả hơn so với đầu tư trong nước.
Ngoài ra, nghiên cứu cũng kết luận rằng hiệu ứng lan toả kiến thức thể hiện trong FDI có thể tăng Trang 9 năng suất trong nước, và do đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Các nghiên cứu của Xiaoying Li và Xiaming Liu (2005) điều tra xem FDI ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế như thế nào dựa trên một bảng dữ liệu cho 84 quốc gia trong giai đoạn 1970-1999, cả hai kỹ thuật phương trình đơn nhất và phương trình hệ thống đồng thời được áp dụng để kiểm tra mối quan hệ này. Một mối quan hệ nội sinh quan trọng giữa FDI và tăng trưởng kinh tế được xác định từ giữa những năm 1980 trở đi. FDI không chỉ trực tiếp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà còn gián tiếp thông qua sự tương tác của nó với vốn con người.
Sự tương tác giữa FDI với vốn con người tạo nên một hiệu ứng tích cực về tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển. Trong các nghiên cứu gần đây, Alfaro et al. (2004) và Durham (2004) tập trung vào xem xét tác động của vốn đầu tư nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào sức mạnh của các thị trường tài chính trong nước của nước sở tại như thế nào. Alfaro et al.
(2004) sử dụng dữ liệu hàng năm trong giai đoạn 1975 - 1995, và họ tìm thấy rằng với các nước có ngân hàng và các tổ chức tài chính phát triển thì sẽ có được lợi ích từ vốn đầu tư nước ngoài. Durham (2004) tìm thấy kết quả tương tự, vốn đầu tư nước ngoài chỉ có một ảnh hưởng tích cực đến sự tăng trưởng ở các nước với hệ thống tài chính vững mạnh. Ngoài ra, ông thấy rằng các nước có quản trị chất lượng cao, phát triển thể chế mạnh mẽ và môi trường pháp lý thông thoáng thì hiệu ứng tích cực của FDI vào tăng trưởng là đáng kể. Nhiều nghiên cứu đã so sánh hiệu quả giữa FDI và đầu tư trong nước.
Đối với các nước đang phát triển, FDI đã được chứng minh là hiệu quả hơn đầu tư trong nước (Borenzstein et al, 1998). De Gregorio (1992) trong nghiên cứu của ông tìm thấy rằng FDI là hiệu quả hơn gấp ba lần so với đầu tư trong nước. Blomstrom et al. (1992) khẳng định rằng không có bằng chứng hiệu ứng "tác động tràn" về đầu tư trong nước.
Về tác động tràn, Gorge (2004) cho rằng FDI có sinh ra tác động tràn về công nghệ, tuy nhiên việc xuất hiện tác động tràn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, thậm chí phụ thuộc cả vào phương pháp ước lượng. Kokko (1994), Blomstrom (1985) nghiên cứu trường hợp của Mehico đưa ra một kết luận rất đáng quan tâm là tác động tràn dường như ít xảy ra đối với các ngành được bảo hộ. Cũng theo các tác giả Trang 10 này, năng lực hấp thụ công nghệ và khoảng cách về công nghệ của nước đầu tư và nước nhận đầu tư là hai yếu tố ảnh hưởng tới việc xuất hiện tác động tràn. Chakraborty và Nunnenkamp (2006) phân tích dữ liệu trong giai đoạn 1987-2000, kiểm tra mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế ở Ấn Độ.
Tác giả sử dụng phương pháp kiểm định Granger, kết quả cho thấy có tồn tại mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa FDI và tăng trưởng kinh tế nhưng mối quan hệ này chỉ tồn tại trong lĩnh vực sản xuất. Cũng sử dụng phương pháp Granger của Holtz-Eakin, Ali-Iriani và Al-Shamsi (2007) sử dụng dữ liệu trong giai đoạn 1970 - 2004 để phân tích mối quan hệ hai chiều giữa FDI và tăng trưởng kinh tế ở Bahrain, Kuwait, Oman, Saudi Arabia, và Các tiểu vương quốc Ả Rập, họ kết luận rằng có sự tương tác qua lại giữa FDI và tăng trưởng kinh tế và có tồn tại mối quan hệ nhân quả hai chiều tích cực. Byron Gangnes và Tam Bang Vu (2007) sử dụng dữ liệu của FDI để đánh giá những tác động theo ngành của FDI đối với tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam và Trung Quốc. Dữ liệu của Việt Nam từ năm 1990-2003 với 5 khu vực như sau: công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải và truyền thông, bất động sản và nông – lâm – ngư nghiệp.
Dữ liệu của Trung Quốc cũng tập trung vào 5 lĩnh vực này nhưng trong giai đoạn 1997 - 2004. Kết quả cho thấy rằng, hai nền kinh tế đang phát triển chuyển đổi (Trung Quốc và Việt Nam) thì FDI có ý nghĩa thống kê tích cực, ảnh hưởng trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế và ảnh hưởng gián tiếp thông qua tương tác của nó với lao động ở cả hai nước. Bên cạnh đó, họ tìm thấy rằng những tác động của FDI dường như là rất khác nhau trên khắp các khu vực kinh tế; trong đó ngành công nghiệp luôn cho thấy bằng chứng về tác động tích cực của FDI vào tăng trưởng cao hơn so với các ngành khác. Và một điều thú vị là đối với Trung Quốc là ngành thương buôn bán và dịch vụ ăn uống thì FDI có hiệu ứng tích cực cao hơn một chút so với ngành kinh tế khác.
Và trong trường hợp của Việt Nam thì là ngành xây dựng. Gheorghe Ruxand và Andreea Muraru (2010) phân tích việc đầu tư trực tiếp nước ngoài có tác động đến tăng trưởng kinh tế của Romania như thế nào?