Chương 1- TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng luận các công trình đã công bố về vấn đề nghiên cứu. *Trên thế giới Trong nghiên cứu lãnh thổ thường nảy sinh những khái niệm khác nhau khi sử dụng từ “quy hoạch”, có nơi hiểu quy hoạch là kế hoạch. Trên thực tế, quy hoạch và kế hoạch gần nghĩa như nhau, bao hàm hai tầng nghĩa: một là suy nghĩ phác họa miêu tả tương lai - giả tưởng căn cứ vào nhận thức hiện tại đối với mục tiêu và trạng thái phát triển trong tương lai; hai là hành vi quyết sách về trình tự và các bước hành động thực hiện mục tiêu tương lai [6]. Quy hoạch tổng thể phát triển KT - XH huyện thuộc phạm trù quy hoạch vùng lãnh thổ.
Quy hoạch tổng thể phát triển KT - XH huyện là quy hoạch vùng lãnh thổ được giới hạn trong đơn vị hành chính cấp huyện. Vì quy hoạch vùng lãnh thổ mang tính chất hành chính kinh tế [10]. Mục đích quy hoạch vùng lãnh thổ: Quy hoạch vùng lãnh thổ nhằm xác định các biện pháp tổ chức lãnh thổ và kinh tế, kỹ thuật để giải phóng và phát triển sức sản xuất, sử dụng hợp lý và hiệu quả đất đai, tài nguyên thiên nhiên, lao động tăng cường cơ sở hạ tầng, khai thác các nguồn lực trong địa phương để nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội, đáp ứng với yêu cầu đời sống của mọi người trong xã hội, góp phần xây dựng nông thôn mới và xã hội mới. Nhiệm vụ của quy hoạch vùng lãnh thổ: Xây dựng cơ cấu kinh tế đúng đắn để chuyên môn hóa sản xuất và phát triển tổng hợp.
Bố trí cơ cấu đất đai phù họp với cơ cấu kinh tế. Xây dựng cơ sở hạ tầng (thủy lợi, giao thông, cơ khí, năng lượng và dịch vụ sản xuất và đời sống). Tố chức lao động, xây dựng và phát triển các ngành phù hợp với lợi ích xã hội. Xây dựng các biện pháp bảo vệ môi trường.
4 Nguyên tắc của quy hoạch vùng lãnh thổ: Xây dựng nền kinh tế hàng hóa phù hợp với nhu cầu xã hội và cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Khai thác sử dụng các nguồn tài nguyên đất, rừng và lao động một cách có hiệu quả nhằm tạo ra cơ cấu kinh tế hợp lý, giải phóng và phát triển sức sản xuất. Trên cơ sở phát triển kinh tế, giải quyết yêu cầu nâng cao đời sống văn hóa, vật chất và tinh thần của mọi người. Tăng cường xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triến sản xuất và đời sống.
Xây dựng hệ thống các điểm dân cư, tạo điều kiện cho sự phát triển đồng bộ về sản xuất, văn hóa đời sống tinh thần của nhân dân trong vùng. Áp dụng các quy trình công nghệ tiên tiến, hiện đại các giải pháp tổ chức lãnh thổ và kinh tế kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất lao động, tăng hiệu quả sản xuất xã hội. Giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên với việc bảo vệ môi trường sống. Nội dung quy hoạch vùng lãnh thổ: Điều tra đánh giá điều kiện cơ bản về tự nhiên, kinh tế - xã hội.
Nội dung Quy hoạch tổng thể phát triển KT - XH huyện. + Phân tích các đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của vùng trên các mặt khó khăn, thuận lợi, tiềm năng và thách thức liên quan đến điều kiện cơ bản, kỹ thuật và công nghệ. + Xác định phương hướng và mục tiêu cơ bản. + Bố trí cơ cấu sử dụng đất + Xác định phương hướng, quy mô phát triển các ngành và các lĩnh vực.
+ Bố trí các cơ sở kết cấu hạ tầng. 5 +Tổ chức sử dụng lao động. + Tổ chức các khu dân cư. + Bảo tồn thiên nhiên và bảo vệ môi trường.
+ Ước tính nhu cầu vốn đầu tư cho phương án. + Dự tính hiệu quả của phươg án quy hoạch. Quy hoạch vùng lãnh thổ ở một số quốc gia Một số nước Đông Ấu và Châu Ấu Liên Xô (cũ): Ở Liên xô (cũ), nghiên cứu tổ chức lãnh thổ (Quy hoạch) thể hiện ở tổng sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất cả nước và các vùng vĩ mô, đây cũng là cơ sở cho nghiên cứu quy hoạch vùng (ray-on-naia plan-nhia-rôpka). Nội dung quy hoạch vùng gắn với quy hoạch đất đai, thực hiện trên qui mô một tỉnh, một tiểu vùng.
Những tư liệu luận chứng kinh tế kỹ thuật này được chấp nhận là cơ sở khoa học cho công tác xây dựng kế hoạch. Sơ đồ quy hoạch vùng thể hiện cơ cấu kiến trúc - quy hoạch, bảo đảm các điều kiện hợp lý cho sự phát triển sản xuất, dịch vụ, xây dựng đô thị, sử dụng hợp lý điều kiện tự nhiên và bảo vệ môi trường [6]. Phương hướng phát triển kinh tế - xã hội phải gắn được với phương hướng sử dụng đất. Quy mô diện tích của bản quy hoạch vùng hành chính tỉnh (Liên Xô cũ) giới hạn trong phạm vi 0,1 triệu km2.
Các cơ sở công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng. được bố trí từ việc hình thành mạng lưới các điểm dân cư đô thị và nông thôn, kéo theo là các dịch vụ đời sống, các khu văn hóa - vui chơi giải trí, nơi an dưỡng trên cơ sở sử dụng hợp lý quỹ đất, nguồn nước, môi trường,. Từ đó mới tiến hành sơ đồ thiết kế mặt bằng tỷ lệ 1/100 000, bố trí các cơ sở kinh tế xã hội trên mặt bằng nhỏ hơn 0,1 triệu km2, thể hiện việc sử dụng đất chi tiết cho khu hành chính, khu công nghiệp, nhà hát, trường học, bệnh viện, khu vui chơi giải trí, các khu dân cư, các vành đai giao thông vận tải, cảng biển, sông, nhà ga đường sắt, hàng không, kho tàng, 6 các vành đai nông nghiệp, khu xanh, khu đệm, khu dự phòng, bảo vệ môi trường (bản đồ tỷ lệ 1/25 000 - 1/50 000). Trên cơ sở bản thiết kế quy hoạch này tiến hành quy hoạch các cụm công nghiệp, kế hoạch xây dựng mặt bằng thành phố, vùng cây xanh (bản đồ tỷ lệ 1/1000-1/25000) [6].
Ở các nước phương Tây, các chương trình, dự án phát triển vùng đều tiến hành dựa trên sơ đồ cơ cấu kiến trúc - quy hoạch vùng gắn với quy hoạch sử dụng đất, dựa trên phương hướng mục tiêu phát triển (hay chiến lược) của vùng vĩ mô [6]. Nội dung tổ chức lãnh thổ (organisation du territoire) ở nước Pháp là chấn chỉnh lãnh thổ, chia cả nước thành 21 vùng, sau nâng lên thành 22 vùng, 95 tỉnh. Năm 1965 thành lập cơ quan chuyên trách về tổ chức lãnh thổ, lấy mục tiêu cân bằng để chấn chỉnh lãnh thổ, khống chế dân số và ngành nghề quá tập trung vào vùng Thủ đô Paris; sử dụng các biện pháp kinh tế và hành chính để phát triển các vùng núi lạc hậu; chú trọng xây dựng đô thị mới, phát triển du lịch và bảo vệ môi trường trên cơ sở các sơ đồ kiến trúc - quy hoạch chi tiết tỉnh, thành phố [6]. Nghiên cứu phát triển vùng ở nước Anh thể hiện chủ yếu trong công tác Kế hoạch hóa vùng (Regional Planning), nhằm sử dụng hợp lý quỹ đất quốc gia trong chính sách định vị công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ và các đô thị; giải quyết những vấn đề cơ cấu liên ngành, liên vùng, liên ngành - liên vùng, xây dựng các phương án phân vùng vĩ mô (11 và 16 vùng); với các chính sách can thiệp thúc đẩy các vùng mới, cải thiện các vùng đình đốn [6].
Một sổ nước Châu Á Malaysia: Phát triển kinh tế lãnh thổ ở Malaysia được tiến hành mạnh từ năm 1972, Quốc hội phê chuẩn thành lập 7 vùng; cùng với sự chỉ đạo của Bộ Tài nguyên đất và Phát triển vùng ở Trung ương, mỗi vùng có cơ quan phát triển vùng chỉ đạo trực tiếp các trọng điểm, soạn thảo chiến lược phát 7 triển kinh tế xã hội, đưa ra các quyết định ngân sách đảm bảo thực thi các dự án như một động lực thúc đẩy mọi hoạt động sản xuất, lưu thông phân phối trong công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ và kết cấu hạ tầng kỹ thuật - xã hội, gắn kết các đô thị lớn hình thành mạng lưới các cực tăng trưởng trong phát triển vùng và các điếm dân cư ở các vùng biên giới [6]. Nhật Bản: Chương trình phát triển vùng ở Nhật Bản là một chương mục trong kế hoạch toàn diện quốc gia, phải mang tính toàn diện, không chỉ vì kinh tế xã hội, mà phải đảm bảo tiêu chuẩn sử dụng hiệu quả quỹ đất quốc gia, tài nguyên nước, năng lượng, giao thông.sau chiến tranh phải tập trung vào những khu vực liền kề các thành phố lớn Tokyo - Osaka - Chibu, hình thành vành đai Thái Bình Dương. Sau đó bố trí phân tán các công xưởng mới ở ngoại vi các thành phố lân cận tạo thành các trung tâm công nghiệp mới, khống chế đô thị lớn, chấn hưng địa phương theo loại hình phân tán nhiều cực, khai thác các vùng định cư, nhằm phát triển cân đối toàn quốc. Phát triển mạng lưới quốc gia có vai trò chiến lược trong gia tăng nguồn lực trên các vùng chậm phát triển, kết họp chính sách công nghệ với chính sách vùng.
Chiến lược được thực hiện bởi các sơ đồ kiến trúc - quy hoạch cụ thể [6]. Trung Quốc: Khoảng 300 năm trước công nguyên, nước Trung Hoa đã mô tả đất, nước và sản vật các vùng trên bản đồ, lấy sản xuất nông nghiệp là chính, xoay quanh các trung tâm là thành thị, có nhiều đường nhỏ chạy ngang dọc, xung quanh là ruộng, vườn; ở thời kỳ đó đã tính đến bao nhiêu đất có thể nuôi sống bao nhiêu người, xây dựng bao nhiêu thành thị thị trấn là thích hợp. Sản vật đã mở rộng nhiều mặt hàng nông lâm thủy sản, khoáng sản, thủ công nghiệp; thành phố được khảo sát tại những nút giao thông quan trọng, đi lại thuận lợi, hàng hóa giao lưu xuất nhập phồn vinh. Những mô tả và phân tích bố trí sản xuất và định cư đã phản ánh tư tưởng quy hoạch vùng, tuy còn sơ lược.
8 Sau cách mạng công nghiệp, quy hoạch vùng là vấn đề kinh tế xã hội đặt ra nhằm giải quyết mối quan hệ giữa phát triển công nghiệp và mở rộng thành thị. Chủ xí nghiệp tự lựa chọn vị trí vùng công nghiệp, tuyến đường giao thông, vị trí vùng cảng., gây nhiều lộn xộn và xung đột giữa sản xuất.