Chương 1 tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận, khái quát chung về dự án đầu tư và quản trị dự án đầu tư như khái niệm, vai trò, nhiệm vụ, trình tự thực hiện và nội dung hoạt động quản trị dự án. Một số vấn đề chung về dự án đầu tư 1. Khái niệm dự án đầu tư 1. Khái niệm dự án và khái niệm đầu tư Dự án là một tập hợp các hoạt động có liên quan đến nhau được thực hiện trong một khoảng thời gian có hạn, với những nguồn lực đã được giới hạn; nhất là nguồn tài chính có giới hạn để đạt được những mục tiêu cụ thể, rõ ràng, làm thỏa mãn nhu cầu của đối tượng mà dự án hướng đến.
Thực chất, Dự án là tổng thể những chính sách, hoạt động và chi phí liên quan với nhau được thiết kế nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong một thời gian nhất định.[27] Dự án bao gồm dự án đầu tư và dự án hỗ trợ kỹ thuật sản phẩm phải được đánh giá cao và chất lượng.Theo Nguyễn Quốc Duy: “Dự án là một nỗ lực phức tạp, không thường xuyên, mang tính chất đơn nhất được thực hiện trong điều kiện ràng buộc nhất định về thời gian, ngân sách, nguồn lực và các tiêu chuẩn chất lượng để đáp ứng yêu cầu của khách hàng”.[1,tr3] Theo Nguyễn Bạch Nguyệt, đầu tư là việc bỏ ra các nguồn lực (tiền, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động, trí tuệ) ở hiện tại để thực hiện các hoạt động nhằm thu được kết quả, mục tiêu nhất định trong tương lai. [5] Theo luật đầu tư năm 2020: Đầu tư là hoạt động nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp 7 vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư. [17] Từ những định nghĩa trên có thể hiểu dự án là một kế hoạch cụ thể về chất lượng, mục tiêu cần đạt được trong một điều kiện chính sách, nguồn lực tài chính, nhân lực nhất định, được thực hiện trong một khoảng thời gian cụ thể. Đầu tư là việc sử dụng vốn bao gồm cả các nguồn lực vật chất, nhân lực để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh trong một khoảng thời gian nhất định với mục tiêu mang lại hiệu quả kinh doanh trong tương lai.
Khái niệm dự án đầu tư Theo Điều 3 Luật Đầu tư 2020, “Dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định”.[17] Dự án đầu tư là tập hợp những đề xuất kiến nghị bỏ vốn trung và dài hạn để triển khai những hoạt động giải trí đầu tư trên địa phận đơn cử, trong khoảng chừng thời hạn xác lập. Về mặt hình thức: dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch nhằm đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai. Xét trên góc độ quản lý: dự án đầu tư là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn; vật tư; lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế xã hội trong một thời gian dài. Trên góc độ kế hoạch hóa: dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết của một công cuôc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế xã hội, làm tiền đề cho các quyết định đầu tư và tài trợ.
Xét theo góc độ này dự án đầu tư là một hoạt động kinh tế riêng biệt nhỏ nhất trong công tác kế hoạch hóa nền kinh tế nói chung (một đơn vị sản xuất kinh doanh cùng một thời kỳ có thể thực hiện nhiều dự án). Xét về mặt nội dung: dự án đầu tư là tổng thể các hoạt động và chi phí cần thiết, được bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ với lịch thời gian và địa điểm xác định 8 để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định trong tương lai. Đặc điểm của dự án đầu tư Một dự án đầu tư sẽ gồm có 4 thành phần chính sau: Thứ nhất, đó là mục tiêu của dự án. Mục tiêu của dự án gồm có 2 mức như sau: Mục tiêu phát triển thể hiện đóng góp của dự án vào việc thực hiện các mục tiêu chung của một quốc gia.
Mục tiêu này được thực hiện thông qua những lợi ích dự án mang lại cho nền kinh tế xã hội. Mục tiêu trực tiếp của chủ đầu tư là các mục tiêu cụ thể cần đạt được của việc thực hiện dự án. Mục tiêu này được thực hiện thông qua những lợi ích tài chính mà chủ đầu tư thu được từ dự án. Thứ hai, đó là các kết quả, kết quả ở đây là những kết quả cụ thể, có thể định lượng được từ các hoạt động khác nhau của dự án.
Đây là điều kiện cần thiết để thực hiện được các mục tiêu của dự án. Thứ ba là các hoạt động: Là những nhiệm vụ hoặc hành động được thực hiện trong dự án để tạo ra các kết quả nhất định. Những nhiệm vụ hoặc hành động này cùng với một lịch biểu và sự phân công trách nhiệm cụ thể của các bộ phận thực hiện sẽ tạo thành kế hoạch làm việc của dự án. Các nguồn lực: Về vật chất, tài chính và con người cần thiết để tiến hành các hoạt động của dự án.
Giá trị hoặc chi phí của các nguồn lực này chính là vốn đầu tư cần cho dự án Ngoài ra, dự án đầu tư còn có những đặc điểm sau: Dự án có mục tiêu rõ ràng. Dự án có chu kỳ phát triển riêng và thời gian tồn tại hữu hạn. Dự án có sự tham gia của nhiều bên như: Chủ đầu tư, nhà thầu, cơ quan cung cấp dịch vụ trong đầu tư, cơ quan quản lý nhà nước. Sản phẩm dự án mang tính chất đơn chiếc, độc đáo.
9 Môi trường hoạt động của dự án là “va chạm”, có sự tương tác phức tạp giữa dự án này với dự án khác, giữa bộ phận quản lý này với bộ phận quản lý khác. Dự án có tính bất định và rủi ro cao, do đặc điểm mang tính dài hạn của hoạt động đầu tư phát triển. Những đặc trưng nêu trên đã chi phối trực tiếp đến công tác lập, quản lý quá trình thực hiện đầu tư và vận hành khai thác dự án. Các yêu cầu cơ bản đối với dự án đầu tư Để đảm bảo tính khả thi, dự án đầu tư phải đáp ứng các yêu cầu cơ bản sau: Tính khoa học: Tính khoa học yêu cầu người soạn thảo dự án phải có một sự nghiên cứu chỉn chu, tỉ mỉ, tính toán chi tiết, cẩn thận, chính xác từng nội dung dự án đặc biệt là nội dung về tài chính, nội dung về công nghệ, nội dung về kĩ thuật.
Tính khoa học được thể hiện qua những khía cạnh như: Về số liệu thông tin: những dữ liệu, số liệu để xây dựng nên dự án cần trung thực, chính xác, tức là phải chứng minh được nguồn gốc và xuất xứ của những thông tin và số liệu đã thu thập được. Về phương pháp lý giải: các nội dung của dự án không tồn tại độc lập, riêng rẽ mà luôn nằm trong một thể thống nhất, đồng bộ. Vì lẽ đó, quá trình phân tích, lý giải các nội dung nêu trong dự án cần đảm bảo tính logic, chặt chẽ. Tính đồng nhất: các dự án đầu tư cần tuân thủ các quy định chung của cơ quan chức năng về hoạt động đầu tư, kể cả các quy định về thủ tục đầu tư.
Với các dự án đầu tư quốc tế, cần phải tuân thủ cả những quy định chung mang tính quốc tế. Tính pháp lý: dự án đầu tư cần có cơ sở pháp lý vững chắc phù hợp với chính sách và pháp luật Nhà nước. Muốn tuân thủ theo tính pháp lý cần tìm hiểu, nghiên cứu kỹ càng những quy định, luật pháp quy định do nhà nước ban hành liên quan tới hoạt động đầu tư. Tính thực tiễn: tính thực tiễn cần xem xét trên hai khía cạnh sau: Thứ nhất, các nội dung của dự án cần phải được tìm hiểu, đánh giá, nghiên cứu kỹ, xác định trên cơ sở xem xét, phân tích đó để đánh giá đúng mực các điều kiện và hoàn cảnh cụ thể liên quan trực tiếp và gián tiếp đến các hoạt động đầu tư.
10 Thứ hai, các nội dung, khía cạnh phân tích cần cụ thể, chi tiết, không thể chung chung, mà cần phải có căn cứ thực tế khách quan, phải được xây dựng dựa trên điều kiện và hoàn cảnh cụ thể về mặt bằng, thị trường… Tính phỏng đoán: Những tính toán, nội dung được phác thảo khi xây dựng dự án về chi phí, doanh thu, lợi nhuận… đôi khi chỉ là mức dự trù, mang tính khách quan, dự báo. Thực tế đôi khi sẽ xảy ra nhiều vấn đề, có nhiều yếu tố tác động làm cho dự án không thực sự đi theo con đường đã vạch ra ban đầu, kết quả cũng có thể không được như mong đợi ban đầu. Do đó, dự án cũng cần có tính phỏng đoán để dự đoán trước những tình huống có thể xảy đến và lên các kế hoạch trước để đề phòng điều không hay nhất xảy đến thì dự án vẫn có thể tiếp tục và đạt được kết quả tốt như mong đợi. Phân loại dự án đầu tư 1.
Xét theo cơ cấu tái sản xuất Dự án đầu tư được phân thành dự án đầu tư theo chiều rộng và dự án đầu tư theo chiều sâu. Trong đó dự án đầu tư theo chiều rộng thường đòi hỏi khối lượng vốn lớn, thời gian thực hiện đầu tư và thời gian cần hoạt động để thu hồi vốn lâu, tính chất kỹ thuật phức tạp, độ mạo hiểm cao. Còn dự án đầu tư theo chiều sâu thường đòi hỏi khối lượng vốn ít hơn, thời gian thực hiện đầu tư không lâu, độ mạo hiểm thấp hơn so với đầu tư theo chiều rộng. Xét theo lĩnh vực hoạt động Dự án đầu tư có thể phân chia thành dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật, dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng (kỹ thuật và xã hội) .hoạt động của các dự án đầu tư này có quan hệ tương hỗ với nhau.