Thực trạng quản lý đất phi nông nghiệp tại quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng

Luận văn đánh giá thực trạng quản lý đất phi nông nghiệp ở Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng, phân tích các tồn tại và đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả.

Trường đại học

Đại học Nông Lâm Huế

Chuyên ngành

Quản lý đất đai

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2016

91
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh luận văn quản lý đất phi nông nghiệp Ngũ Hành Sơn

Luận văn “Thực trạng quản lý đất phi nông nghiệp tại quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng” là một công trình nghiên cứu chuyên sâu, cung cấp cái nhìn toàn diện về công tác quản lý tài nguyên đất trong bối cảnh đô thị hóa nhanh chóng. Nghiên cứu này không chỉ hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về đất đai mà còn đi sâu vào phân tích thực tiễn tại một trong những quận phát triển năng động nhất của Đà Nẵng. Mục tiêu chính của luận văn là đánh giá chính xác thực trạng quản lý đất đai, xác định những thành tựu, tồn tại và nguyên nhân, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý đất một cách hiệu quả và bền vững. Với vị trí chiến lược, Ngũ Hành Sơn đang đối mặt với áp lực lớn từ việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất phi nông nghiệp, đặc biệt là đất ở tại đô thịđất thương mại dịch vụ. Do đó, việc nghiên cứu và đưa ra các giải pháp kịp thời có ý nghĩa quan trọng, góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội quận Ngũ Hành Sơn và đảm bảo việc sử dụng đất tuân thủ Luật Đất đai.

1.1. Mục tiêu và ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu

Đề tài tập trung vào ba mục tiêu cốt lõi: (1) Đánh giá thực trạng công tác quản lý đất phi nông nghiệp tại Ngũ Hành Sơn; (2) Phân tích các thuận lợi và thách thức trong quá trình quản lý; (3) Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả quản lý, phù hợp với thực tế địa phương. Về mặt khoa học, luận văn góp phần làm rõ cơ sở lý luận, hệ thống hóa các khái niệm và nguyên tắc trong quản lý nhà nước về đất đai, đặc biệt là đối với loại đất phi nông nghiệp. Về thực tiễn, kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo giá trị cho các nhà quản lý, giúp chính quyền địa phương nắm bắt thông tin cập nhật, từ đó hoàn thiện chính sách đất đai và nâng cao hiệu quả sử dụng đất.

1.2. Đối tượng và phạm vi không gian thời gian của luận văn

Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là toàn bộ diện tích đất phi nông nghiệp, tập trung sâu vào đất ở đô thịđất sản xuất kinh doanh tại quận Ngũ Hành Sơn. Phạm vi không gian được giới hạn trong địa giới hành chính của quận, bao gồm các phường Mỹ An, Khuê Mỹ, Hòa Hải và Hòa Quý. Các số liệu, dữ liệu phân tích trong luận văn được thu thập và tổng hợp trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2014. Đây là giai đoạn chứng kiến sự biến động sử dụng đất mạnh mẽ, phản ánh rõ nét tác động của quá trình đô thị hóa đến cơ cấu và hiệu quả sử dụng đất tại địa phương.

II. Phân tích bất cập trong quản lý đất phi nông nghiệp hiện nay

Quá trình đô thị hóa nhanh chóng tại Ngũ Hành Sơn đã tạo ra những áp lực khổng lồ lên công tác quản lý đất đai, làm bộc lộ nhiều bất cập trong quản lý đất đai. Một trong những thách thức lớn nhất là công tác quy hoạch sử dụng đất còn chồng chéo, thiếu đồng bộ và kém hiệu quả. Nhiều quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị chưa được lập đầy đủ, dẫn đến khó khăn trong việc quản lý và cấp phép xây dựng, gây ra tình trạng sử dụng đất sai mục đích. Tốc độ đô thị hóa cũng kéo theo nhu cầu đất ở và kinh doanh bất động sản tăng cao, làm nảy sinh tình trạng chuyển nhượng trái phép, lấn chiếm đất công. Vấn đề cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) còn chậm, đặc biệt là việc lập sổ theo dõi biến động đất đai chưa được thực hiện tốt, gây khó khăn cho cả người dân và cơ quan quản lý. Những hạn chế này không chỉ gây lãng phí tài nguyên mà còn tiềm ẩn nguy cơ tranh chấp, khiếu kiện, ảnh hưởng đến sự phát triển ổn định của quận.

2.1. Thách thức từ tốc độ đô thị hóa và biến động sử dụng đất

Theo số liệu nghiên cứu, giai đoạn 2010-2014 chứng kiến sự biến động sử dụng đất mạnh mẽ tại Ngũ Hành Sơn. Diện tích đất nông nghiệp giảm từ 1037,43 ha (năm 2010) xuống còn 527,13 ha (năm 2014), trong khi đất phi nông nghiệp tăng từ 2217,94 ha lên 3242,05 ha. Sự chuyển dịch cơ cấu đất đai quá nhanh này đặt ra thách thức lớn về hạ tầng và quản lý. Nhu cầu về đất ở tại đô thị tăng đột biến đã dẫn đến tình trạng "mua bán chuyển nhượng quyền sử dụng đất phi nông nghiệp trái phép xảy ra vẫn còn nhiều", gây khó khăn cho công tác quản lý và ổn định thị trường.

2.2. Hạn chế trong công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Công tác đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, đặc biệt là cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn nhiều yếu kém. Luận văn chỉ ra rằng: “Công tác đăng ký quyền sử dụng đất ở, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp GCNQSDĐ còn yếu. Nhất là việc lập sổ theo dõi biến động để quản lý biến động về đất phi nông nghiệp và tình trạng cấp GCNQSDĐ ở còn chậm”. Sự chậm trễ này không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của người dân mà còn làm giảm hiệu quả của công tác quản lý nhà nước về đất đai, gây khó khăn trong việc thu thuế và giải quyết tranh chấp.

III. Phương pháp quy hoạch sử dụng đất phi nông nghiệp hiệu quả

Để giải quyết các tồn tại, việc nâng cao chất lượng công tác quy hoạch sử dụng đất được xem là giải pháp nền tảng. Một quy hoạch hiệu quả phải đảm bảo tính đồng bộ, khả thi và có tầm nhìn dài hạn, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội quận Ngũ Hành Sơn. Luận văn nhấn mạnh sự cần thiết phải lập quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị cho tất cả các phường, làm cơ sở pháp lý vững chắc cho việc quản lý. Quy hoạch cần phân định rõ ràng các khu chức năng, từ đất ở tại đô thị, đất thương mại dịch vụ đến đất công cộng và hạ tầng kỹ thuật. Quá trình lập quy hoạch phải được thực hiện công khai, minh bạch, có sự tham gia của cộng đồng để đảm bảo tính thực tiễn và nhận được sự đồng thuận cao. Việc tuân thủ nghiêm ngặt quy hoạch đã được phê duyệt là yếu tố quyết định để ngăn chặn tình trạng sử dụng đất sai mục đích, xây dựng trái phép và đảm bảo hiệu quả sử dụng đất.

3.1. Tầm quan trọng của việc lập quy hoạch chi tiết đồng bộ

Nghiên cứu chỉ rõ: “Quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị các phường trên địa bàn quận cũng chưa được lập đầy đủ, đồng bộ nên việc quản lý và sử dụng đất gặp nhiều khó khăn”. Điều này cho thấy sự cấp thiết của việc xây dựng một hệ thống quy hoạch chi tiết, thống nhất từ cấp quận đến cấp phường. Quy hoạch chi tiết sẽ là công cụ pháp lý để nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, đảm bảo mọi hoạt động sử dụng đất phi nông nghiệp đều tuân thủ định hướng phát triển chung, tránh xung đột lợi ích và tối ưu hóa nguồn lực đất đai.

3.2. Công khai hóa quy hoạch và tăng cường giám sát thực hiện

Minh bạch hóa thông tin quy hoạch là một giải pháp quan trọng để tăng cường sự giám sát của người dân và doanh nghiệp. Việc công bố công khai các dự án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hàng năm tại trụ sở UBND các phường giúp người dân nắm bắt thông tin, tham gia góp ý và giám sát quá trình thực hiện. Đồng thời, các cơ quan chức năng cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra để kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm quy hoạch, đảm bảo tính kỷ cương trong quản lý đất đai.

IV. Giải pháp hoàn thiện chính sách đất đai và quản lý nhà nước

Bên cạnh quy hoạch, việc hoàn thiện hệ thống chính sách đất đai và nâng cao năng lực quản lý nhà nước về đất đai là yếu tố then chốt. Cần rà soát, điều chỉnh các chính sách liên quan đến bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để đảm bảo hài hòa lợi ích giữa nhà nước, nhà đầu tư và người dân có đất bị thu hồi. Đặc biệt, chính sách tài chính về đất đai, bao gồm định giá đất phi nông nghiệp, thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, cần được xây dựng một cách khoa học, sát với giá thị trường để chống thất thu ngân sách và ngăn chặn đầu cơ. Đồng thời, cần đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý đất đai để rút ngắn thời gian cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp thực hiện các quyền của mình theo Luật Đất đai. Nâng cao năng lực và đạo đức công vụ của đội ngũ cán bộ địa chính cũng là một giải pháp không thể thiếu.

4.1. Cải cách thủ tục hành chính và hiện đại hóa hồ sơ địa chính

Việc chậm trễ trong các thủ tục hành chính là một trong những nguyên nhân gây bức xúc cho người dân. Cần xây dựng quy trình một cửa liên thông, đơn giản hóa các thủ tục liên quan đến đăng ký, chuyển nhượng, thừa kế quyền sử dụng đất. Xây dựng hệ thống thông tin đất đai và cơ sở dữ liệu địa chính số hóa, hiện đại là giải pháp căn cơ để quản lý hiệu quả biến động sử dụng đất, minh bạch hóa thông tin và phục vụ công tác quản lý, tra cứu một cách nhanh chóng, chính xác.

4.2. Tăng cường công tác thanh tra giải quyết tranh chấp đất đai

Để đảm bảo pháp luật được thực thi nghiêm minh, cần tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra việc chấp hành Luật Đất đai. Luận văn cho thấy công tác này đã được chú trọng, tuy nhiên cần thực hiện thường xuyên và quyết liệt hơn nữa để ngăn chặn các hành vi vi phạm như lấn chiếm đất công, sử dụng đất sai mục đích. Cùng với đó, cần nâng cao hiệu quả công tác hòa giải, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai ngay từ cấp cơ sở, tránh để các vụ việc phức tạp, kéo dài gây mất ổn định xã hội.

V. Đánh giá thực trạng sử dụng đất ở và đất thương mại dịch vụ

Luận văn đã cung cấp những số liệu cụ thể, phản ánh rõ nét thực trạng quản lý đất đai tại Ngũ Hành Sơn. Trong giai đoạn 2010-2014, đất ở tại đô thị đã tăng thêm 61,28 ha, chủ yếu để phục vụ nhu cầu tái định cư và giao đất cho các hộ gia đình. Diện tích đất sản xuất, kinh doanh cũng tăng mạnh, từ 412,17 ha (2010) lên 862,88 ha (2014), cho thấy sự phát triển nhanh chóng của các ngành du lịch, dịch vụ. Cụ thể, năm 2014, quận có 959,88 ha đất ở đô thị, chiếm 24,87% tổng diện tích tự nhiên. Trong khi đó, đất thương mại dịch vụ và sản xuất kinh doanh chiếm 22,36%. Mặc dù việc mở rộng quỹ đất này đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội quận Ngũ Hành Sơn, nhưng cũng bộc lộ những hạn chế. Tình trạng đất được giao nhưng bỏ trống, không đưa vào sử dụng trong thời gian dài vẫn còn tồn tại, đặc biệt tại các khu quy hoạch mới, gây lãng phí nguồn lực.

5.1. Hiện trạng và biến động quỹ đất ở tại đô thị quận Ngũ Hành Sơn

Nhu cầu đất ở tăng cao là một đặc trưng của quá trình đô thị hóa tại quận. Luận văn chỉ ra, “nhu cầu về đất ở của người dân trong thành phố ngày càng tăng và tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh kéo theo nhu cầu đất ở và kinh doanh bất động sản tăng”. Việc đáp ứng nhu cầu này thông qua các dự án tái định cư và giao đất ở đã đạt được một số kết quả nhất định. Tuy nhiên, việc quản lý quỹ đất này vẫn còn thách thức, đặc biệt là kiểm soát tình trạng chuyển nhượng và xây dựng sau khi giao đất.

5.2. Hiệu quả sử dụng đất thương mại dịch vụ và sản xuất kinh doanh

Sự gia tăng của đất thương mại dịch vụ và sản xuất kinh doanh phản ánh đúng định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của quận. Các khu du lịch, nhà hàng, khách sạn ven biển đã góp phần thay đổi diện mạo đô thị và tạo nguồn thu lớn cho ngân sách. Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng đất tại một số dự án chưa cao. Một số dự án chậm triển khai như khu đô thị FPT, công viên văn hóa Ngũ Hành Sơn... gây lãng phí tài nguyên và ảnh hưởng đến môi trường đầu tư chung. Cần có cơ chế giám sát và xử lý mạnh mẽ hơn đối với các dự án này.

04/10/2025
Luận văn thạc sĩ kiểm soát và bảo vệ môi trường thực trạng quản lý đất phi nông nghiệp tại quận ngũ hành sơn thành phố đà nẵng

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận của các vấn đề nghiên cứu 1. Khái niệm quản lý nhà nước về đất đai Quản lý là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã định.

Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật nhà nước để điều chỉnh hành vi hoạt động của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm thoả mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội. Đối với đất đai, Nhà nước thay mặt nhân dân quản lý toàn bộ đất đai trong phạm vi cả nước thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền như: Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, hội đồng nhân dân và uỷ ban nhân dân các cấp, cơ quan quản lý đất đai các cấp. Quản lý nhà nước về đất đai được hiểu ở hai khía cạnh: Thứ nhất, quản lý nhà nước về đất đai là quản lý hành chính đối với đất đai thông qua việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật đất đai, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và bằng các quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (như quyết định giao đất, quyết định thu hồi đất, quyết định xử phạt hành chính đối với hành vi vi phạm pháp luật đất đai. Thứ hai, quản lý nhà nước về đất đai là quản lý kinh tế đối với đất đai thông qua các công cụ tài chính của Nhà nước (như xác định khung giá đất, thuế sử dụng đất, thuế chuyển quyền sử dụng đất, lệ phí trước bạ.

Như vậy, quản lý nhà nước về đất đai là một lĩnh vực của quản lý nhà nước. Quản lý nhà nước về đất đai được hiểu là hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền trong việc sử dụng các phương pháp, các công cụ quản lý thích hợp tác động đến hành vi, hoạt động của người sử dụng đất nhằm đạt được mục đích sử dụng đất tiết kiệm, có hiệu quả trên phạm vi cả nước và trên từng địa phương. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 4 Khái niệm trên cho thấy quản lý nhà nước về đất đai bao hàm các yếu tố cơ bản sau: - Chủ thể của quản lý nhà nước về đất đai bao gồm các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với tư cách là chủ sở hữu của toàn bộ đất đai thực hiện quyền quản lý nhà nước của mình thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền như Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp, Chính phủ, uỷ ban nhân dân các cấp và hệ thống cơ quan quản lý đất đai được tổ chức thống nhất từ Trung ương đến địa phương.

- Đối tượng của quản lý nhà nước về đất đai là hành vi, hoạt động của các cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai, bao gồm: + Các chủ thể sử dụng đất: Cá nhân, hộ gia đình, tổ chức trong nước và nước ngoài được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, có quyền sử dụng đất hợp pháp. + Dưới góc độ quản lý nhà nước, các cơ quan quản lý nhà nước về đất đai cấp dưới cũng là đối tượng chịu sự quản lý của cơ quan quản lý nhà nước về đất đai cấp trên. + Quản lý nhà nước về đất đai còn được hiểu là việc Nhà nước quản lý toàn bộ diện tích đất đai nằm trong đường biên giới quốc gia, kể cả đất đang sử dụng và đất chưa sử dụng. Đặc điểm của quản lý nhà nước về đất đai 1.

Quản lý nhà nước về đất đai có những đặc điểm chung của công tác quản lý nhà nước - Quản lý nhà nước về đất đai mang tính chính trị: Khi Nhà nước ra đời, Nhà nước đã thực hiện quản lý đất đai nhằm phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị. Trong điều kiện cách mạng nước ta hiện nay, Đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội, do đó việc quản lý nhà nước về đất đai phải phục vụ cho những mục tiêu chính trị của Đảng. Vì vậy, mọi hoạt động quản lý nhà nước về đất đai phải được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. phương hướng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai phải được xây dựng trên cơ sở các chỉ thị, nghị quyết của Đảng.

- Quản lý nhà nước về đất đai mang tính quyền lực nhà nước: Ở nước ta hiện nay, Nhà nước là đại diện chủ sở hữu quản lý toàn bộ đất đai. Giữa Nhà nước và các đối tượng sử dụng đất không bình đẳng về địa vị pháp lý trong PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 quan hệ đất đai. Trong thẩm quyền của mình, Nhà nước ra các quyết định mang tính mệnh lệnh, còn người sử dụng đất có nghĩa vụ thi hành. - Quản lý nhà nước về đất đai mang tính tổ chức: Có tổ chức thì mới phân định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cấp, các ngành, giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý.

Tính tổ chức là tính năng quan trọng của quản lý nhà nước về đất đai; vì xét về nội dung, tổ chức là phối hợp, liên kết hoạt động của nhiều người để thực hiện mục tiêu đề ra, là yếu tố quyết định hiệu quả quản lý. - Quản lý nhà nước về đất đai mang tính khoa học: Điều 18 Hiến pháp 1992 quy định: “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đất đúng mục đích và có hiệu quả”. Lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là hoạt động chủ quan của con người nhưng lại dựa trên những yếu tố khách quan (như trình độ phát triển kinh tế - xã hội, nhu cầu của các đối tượng sử dụng đất,. Điều đó đòi hỏi cơ quan quản lý đất đai phải có cách nhìn nhận khoa học, nắm bắt những quy luật phát triển kinh tế - xã hội mới xây dựng được quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phù hợp.

Mặt khác, chỉ có cách làm việc khoa học mới giúp cơ quan quản lý đất đai quản lý được toàn diện, tổng thể, cập nhật kịp thời những biến động để đưa ra những thông tin chính xác. - Quản lý nhà nước về đất đai mang tính sáng tạo: Xã hội ngày càng phát triển, các mối quan hệ đất đai ngày càng đa dạng, phức tạp, trong đó có những mối quan hệ chưa từng phát sinh trong tiền lệ. Để giải quyết các mối quan hệ này đòi hỏi cơ quan quản lý nhà nước về đất đai phải có những sáng tạo. Tuy nhiên, mọi trường hợp không thể chủ động sáng tạo ra ngoài phạm vi khuôn khổ, thẩm quyền mà pháp luật quy định.

Những đặc điểm riêng của quản lý nhà nước về đất đai - Quản lý nhà nước về đất đai được thực hiện trên cơ sở đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Hiến pháp năm 1980; Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp sửa đổi, bổ sung năm 2001, Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai sửa đổi, bổ sung năm 1998, năm 2001 và Luật Đất đai năm 2003 đều khẳng định toàn bộ đất đai ở nước ta thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý. Việc Nhà nước ta đưa ra quy định này hoàn toàn dựa trên các luận cứ khoa học: PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 + Xét về mặt lịch sử, “Trải qua nhiều thế hệ, nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập được vốn đất đai như ngày nay” nên đất đai phải là tài sản chung. + Xét về mặt xu thế, xã hội ngày càng phát triển, sức sản xuất ngày càng tăng đòi hỏi phải tập trung hoá tư liệu sản xuất, do đó sở hữu toàn dân về đất đai là một quy luật tất yếu khách quan.

- Quản lý nhà nước về đất đai diễn ra trên phạm vi rộng: + Về mặt không gian, Nhà nước quản lý toàn bộ diện tích đất đai nằm trong biên giới quốc gia, bao gồm tất cả các loại đất, trên tất cả các vùng lãnh thổ: Đất liền, đất có mặt nước, hải đảo, thềm lục địa. + Về mặt xã hội, quản lý nhà nước về đất đai liên quan đến mọi cá nhân, hộ gia đình, tổ chức trong toàn xã hội. Theo quy định của pháp luật đất đai hiện hành, người sử dụng đất không chỉ có quyền sử dụng đất mà còn có các quyền chuyển nhượng, chuyển đổi, cho thuê, thừa kế, thế chấp, bảo lãnh và góp vốn bằng giá trị sử dụng đất để liên doanh, liên kết. - Quản lý nhà nước về đất đai 1à một hoạt động rất khó khăn, phức tạp: Trước đây do điều kiện chiến tranh và nhận thức chưa đúng về vai trò của đất đai cho nên chúng ta đã coi nhẹ công tác quản lý đất đai dẫn đến việc sử dụng đất rất tuỳ tiện.

Bên cạnh đó, do diện quản lý rộng, tài liệu còn thiếu nhiều, hệ thống pháp luật mới hình thành và luôn phải điều chỉnh, bổ sung trong khi tình hình sử dụng đất luôn luôn biến động, các mối quan hệ đất đai ngày càng đa dạng, phức tạp đã làm cho công tác quản lý nhà nước về đất đai gặp nhiều khó khăn. Vai trò của quản lý nhà nước về đất đai Đất đai là vật báu thiên nhiên ban tặng cho con người. Con người sử dụng sức lao động của mình tác động lên đất đai tạo nên những thành quả phục vụ cho xã hội nhằm nuôi sống con người, tạo nên nơi ăn, chốn ở, nơi làm việc, chỗ vui chơi giải trí. Vì thế, đất đai luôn gắn bó với con người trong mọi lĩnh vực.

Trong quá trình phát triển của lịch sử nhân loại, đất đai luôn xuất hiện như một vấn đề kinh tế - xã hội sống còn, nó là nguyên nhân của nhiều cuộc đấu tranh quyết liệt giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với con người. Đất đai của một lãnh thổ quốc gia là một trong những dấu hiệu để xác định sự tồn tại của một quốc gia, dân tộc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ