Luận Văn Pháp Luật Về Hoàn Thuế GTGT Và Thực Tiễn Áp Dụng Tại Công Ty TNHH TEP

Chuyên khảo luật học phân tích Luận văn pháp luật về hoàn thuế gtgt và thực ti n thực hiện tại công ty tnhh tep, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp

Trường đại học

Đại học Thương mại

Chuyên ngành

Kinh tế - Luật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2015

71
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH THUẾ GTGT VÀ HOÀN THUẾ GTGT

1.1. Một số khái niệm cơ bản liên quan thuế GTGT và hoàn thuế GTGT

1.2. Khấu trừ thuế GTGT

1.3. Hoàn thuế GTGT

1.4. Ý nghĩa của việc quy định hoàn thuế GTGT

1.5. Mối liên hệ giữa khấu trừ và hoàn thuế GTGT

1.6. Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh hoàn thuế GTGT

1.6.1. Cơ sở ban hành

1.6.2. Nội dung pháp luật điều chỉnh hoàn thuế GTGT

1.6.3. Yêu cầu, nguyên tắc về pháp luật điều chỉnh hoàn thuế GTGT

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOÀN THUẾ GTGT VÀ THỰC TIẾN THỰC HIỆN TẠI CÔNG TY TNHH TEP

2.1. Khái quát hệ thống pháp luật điều chỉnh hoàn thuế GTGT

2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc đến thực thi pháp luật hoàn thuế GTGT

2.3. Thực trạng các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoàn thuế GTGT và thực tiễn thực hiện tại Công ty TNHH TEP

2.4. Thực trạng và thực tiễn đối tượng và những trường hợp được hoàn thuế GTGT

2.5. Điều kiện hoàn thuế GTGT

2.6. Hồ sơ hoàn thuế GTGT

2.7. Quy trình, thời hạn giải quyết hoàn thuế GTGT

2.8. Giải quyết tranh chấp hoàn thuế GTGT

2.9. Các kết luận và phát hiện qua nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN (HOẶC TỔ CHỨC TRIỂN KHAI ÁP DỤNG) PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOÀN THUẾ GTGT

3.1. Quan điểm định hướng hoàn thiện (hoặc triển khai áp dụng) pháp luật điều chỉnh hoàn thuế GTGT

3.2. Các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện (hoặc tổ chức triển khai áp dụng) pháp luật điều chỉnh hoàn thuế GTGT

3.2.1. Giải pháp đối với doanh nghiệp

3.2.2. Kiến nghị đối với cơ quan quản lý Nhà nước

3.3. Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về thuế GTGT và hoàn thuế GTGT

Thuế GTGT là một trong những sắc thuế quan trọng, được áp dụng rộng rãi trên toàn cầu. Bản chất của thuế GTGT là đánh vào phần giá trị gia tăng của hàng hóa và dịch vụ, giúp khắc phục tình trạng thuế chồng thuế. Luật Thuế GTGT tại Việt Nam được Quốc hội thông qua vào năm 1997 và có hiệu lực từ năm 1999. Sau gần 20 năm thực hiện, nhiều vấn đề bất cập đã xuất hiện, đặc biệt là trong quy định về hoàn thuế GTGT. Việc hoàn thuế GTGT không chỉ đảm bảo công bằng cho người nộp thuế mà còn khuyến khích hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc thực hiện quy trình hoàn thuế, dẫn đến tình trạng thất thoát ngân sách nhà nước.

1.1. Khái niệm và vai trò của thuế GTGT

Thuế GTGT là khoản tiền mà cá nhân, tổ chức phải nộp vào ngân sách nhà nước dựa trên giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ. Vai trò của thuế GTGT rất quan trọng trong việc tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, đồng thời thúc đẩy sự phát triển kinh tế. Theo thống kê, thuế GTGT chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu ngân sách nhà nước, góp phần ổn định nền kinh tế.

1.2. Hoàn thuế GTGT và ý nghĩa của nó

Hoàn thuế GTGT là một chế định quan trọng trong Luật Thuế GTGT, nhằm đảm bảo quyền lợi cho người nộp thuế. Việc hoàn thuế không chỉ giúp doanh nghiệp có nguồn vốn quay vòng mà còn khuyến khích họ đầu tư, mở rộng sản xuất. Tuy nhiên, quy trình hoàn thuế hiện nay còn nhiều bất cập, gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc thực hiện.

II. Thực trạng pháp luật về hoàn thuế GTGT tại Công ty TNHH TEP

Công ty TNHH TEP là một trong những doanh nghiệp chịu ảnh hưởng lớn từ các quy định về hoàn thuế GTGT. Thực trạng cho thấy, quy trình hoàn thuế tại công ty này gặp nhiều khó khăn, từ việc chuẩn bị hồ sơ đến thời gian chờ đợi hoàn thuế. Các quy định pháp luật hiện hành chưa thực sự phù hợp với thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp, dẫn đến tình trạng chậm trễ trong việc giải quyết hoàn thuế. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến dòng tiền của công ty mà còn làm giảm động lực đầu tư và phát triển.

2.1. Quy trình hoàn thuế GTGT tại Công ty TNHH TEP

Quy trình hoàn thuế GTGT tại Công ty TNHH TEP bao gồm nhiều bước, từ việc lập hồ sơ hoàn thuế đến việc nộp cho cơ quan thuế. Tuy nhiên, thời gian xử lý hồ sơ thường kéo dài, gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc quản lý dòng tiền. Nhiều trường hợp, công ty phải chờ đợi hàng tháng mới nhận được quyết định hoàn thuế, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh.

2.2. Những khó khăn trong thực hiện hoàn thuế GTGT

Công ty TNHH TEP gặp phải nhiều khó khăn trong việc thực hiện hoàn thuế GTGT, bao gồm việc thiếu thông tin hướng dẫn từ cơ quan thuế, quy trình phức tạp và yêu cầu hồ sơ không rõ ràng. Những khó khăn này không chỉ làm tăng chi phí cho doanh nghiệp mà còn gây ra sự chậm trễ trong việc nhận lại tiền thuế đã nộp. Điều này cần được xem xét và cải thiện để tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp.

III. Giải pháp hoàn thiện quy định về hoàn thuế GTGT

Để cải thiện quy trình hoàn thuế GTGT tại Công ty TNHH TEP, cần có những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện quy định pháp luật. Đầu tiên, cần đơn giản hóa quy trình hoàn thuế, giảm thiểu thủ tục hành chính không cần thiết. Thứ hai, cần tăng cường đào tạo cho cán bộ thuế để họ có thể hướng dẫn doanh nghiệp một cách hiệu quả hơn. Cuối cùng, cần có cơ chế giám sát và đánh giá quy trình hoàn thuế để kịp thời phát hiện và khắc phục những bất cập.

3.1. Đề xuất cải cách quy trình hoàn thuế

Cải cách quy trình hoàn thuế cần tập trung vào việc giảm thiểu thời gian xử lý hồ sơ và đơn giản hóa các bước thực hiện. Cần có quy định rõ ràng về thời gian giải quyết hồ sơ hoàn thuế để doanh nghiệp có thể chủ động trong kế hoạch tài chính của mình.

3.2. Tăng cường hỗ trợ từ cơ quan thuế

Cơ quan thuế cần tăng cường hỗ trợ cho doanh nghiệp trong việc thực hiện hoàn thuế, bao gồm việc cung cấp thông tin đầy đủ và kịp thời. Việc tổ chức các buổi hội thảo, tập huấn về hoàn thuế cũng sẽ giúp doanh nghiệp nắm rõ hơn về quy trình và các yêu cầu cần thiết.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH THUẾ GTGT VÀ HOÀN THUẾ GTGT 1. Một số khái niệm cơ bản liên quan thuế GTGT và hoàn thuế GTGT 1. Thuế GTGT Hiện nay, có rất nhiều quan điểm về định nghĩa thuế GTGT ở nhiều góc độ khác nhau. Tuy nhiên, để hiểu thế nào là thuế GTGT thì trước hết cần phải hiểu thế nào là thuế và thế nào là GTGT.

Thứ nhất, thuế là một khoản nộp bắt buộc mà các cá nhân và pháp nhân có nghĩa vụ phải thực hiện đối với Nhà nước, phát sinh trên cơ sở các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành, không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp thuế. Thuế không phải là một hiện tượng tự nhiên mà là một hiện tượng xã hội do chính con người định ra và nó gắn liền với phạm trù Nhà nước và pháp luật. Thứ hai, GTGT là thuật ngữ dùng để chỉ giá trị tăng thêm được tạo ra ở mỗi giai đoạn của quá trình sản xuất và lưu thông.  Thuế GTGT là khoản tiền bắt buộc tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh từ quá trình sản xuất lưu thông đến tiêu dùng mà cá nhân, tổ chức phải nộp vào NSNN theo mức độ tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ.

Thuế GTGT có nguồn gốc từ thuế doanh thu. Pháp là nước đầu tiên trên thế giới ban hành Luật Thuế GTGT (1954). Thuế GTGT theo tiếng Pháp gọi là: Taxe Sur La Valeur Ajou tée (viết tắt là TVA), tiếng Anh gọi là Value Added Tax (viết tắt là VAT), dịch ra tiếng Việt là Thuế GTGT. Khai sinh từ nước Pháp, Thuế GTGT đã được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới.

Tính đến nay đã có khoảng 130 quốc gia áp dụng thuế GTGT trong đó có Việt Nam. Ở nước ta, tại ký họp lần thứ 11 Quốc hội khoá IX, Quốc hội nước ta đã thông qua Luật Thuế GTGT và có hiệu lực thi hành kề từ ngày 01-01-1999. Từ đó cho đến nay, Quốc hội đã có 08 lần thay thế, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình kinh tế xã hội của đất nước vào các năm: 1999; 2000; 2001; 2002; 2003; 2005; 2008 và 2013. Theo quy định của Luật Thuế GTGT 2008 sửa đổi, bổ sung 2013 thì thuế GTGT là một loại thuế gián thu “tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng” (6) và được nộp vào ngân sách Nhà nước theo mức độ tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ.

Ðây là một loại thuế đánh vào mỗi giai đoạn sản xuất, lưu thông sản phẩm hàng hoá, từ khi còn là nguyên liệu thô sơ cho đến sản phẩm hoàn thành, và cuối cùng là 6() Điều 2 – Luật Thuế GTGT 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2013 7 giai đoạn tiêu dùng. Thuế GTGT được cộng vào giá bán hàng hoá, dịch vụ, và do người tiêu dùng chịu khi mua hàng hoá, sử dụng dịch vụ. Qua định nghĩa về thuế GTGT có thể thấy, thuế GTGT có những đặc điểm cơ bản sau: Một là, thuế giá trị gia tăng có đối tượng chịu thuế rất lớn. Đó là mọi đối tượng tồn tại trong xã hội, kể cả cá nhân và tổ chức đều phải chi trả thu nhập của mình để thụ hưởng kết quả sản xuất kinh doanh tạo ra cho xã hội.

Việc đánh thuế trên phạm vi lãnh thổ với mọi đối tượng thể hiện sự công bằng của thuế, đồng thời thể hiện thái độ của Nhà nước đối với các loại tiêu dùng trong xã hội. Đối với trường hợp cần khuyến khích tiêu dùng hoặc hạn chế việc trả tiền thuế của người tiêu dùng, Nhà nước sẽ không đánh thuế hoặc đánh thuế với mức thuế suất thấp nhất. Hai là, thuế giá trị gia tăng chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa dịch vụ. Việc đánh thuế chỉ trên phần giá trị tăng thêm mà không phải đối với toàn bộ giá trị hàng hóa dịch vụ làm cho số thuế giá trị gia tăng áp dụng trong mỗi khâu của quá trình lưu thông không gây ra những đột biến về giá cả cho người tiêu dùng.

Đây là đặc điểm cơ bản để phân biệt thuế giá trị gia tăng với những loại thuế gián thu khác. Nếu như thuế tiêu thụ đặc biệt chỉ đánh một lần ở khâu sản xuất hay nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ; thuế xuất – nhập khẩu chỉ đánh ở khâu xuất hoặc nhập khẩu thì thuế giá trị gia tăng lại đánh ở tất cả các khâu của quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa. Ba là, nếu dựa trên giá mua cuối cùng của hàng hóa dịch vụ, số thuế giá trị gia tăng phải nộp không thay đổi phụ thuộc vào các giai đoạn lưu thông khác nhau. Đánh thuế ở tất cả các khâu của quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa trong nước, nhập khẩu và lưu thông hàng hóa nhập khẩu nhưng cơ sở xác định số thuế phải nộp chỉ là phần giá trị mới tăng thêm của khâu sau so với khâu trước nên nếu coi giá thanh toán tính đến khi người tiêu dùng thụ hưởng hàng hóa dịch vụ đã xác định trước và không thay đổi, các phần giá trị hàng hóa, dịch vụ có bị chia nhỏ và đánh thuế, tổng số thuế giá trị gia tăng phải nộp qua các khâu chính là số thuế cuối cùng tính trên tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng phải gánh chịu.

Bốn là, Đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hóa được tiêu dùng, dịch vụ được sử dụng trên lãnh thổ Việt Nam mà cụ thể là phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ đó. Như vậy, thuế GTGT chỉ đánh vào hoạt động tiêu dùng diễn ra trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam, không đánh vào những hoạt động bên ngoài phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Điều kiện để hàng hóa dịch vụ là đối tượng chịu thuế của thuế GTGT: (i) Phải là hàng hóa, dịch vụ hợp pháp và được phép lưu thông trên thị trường Việt Nam; (ii) Các khâu của quá trình lưu thông hàng hóa, dịch vụ từ sản xuất đến tiêu dùng phải là những giao dịch hợp pháp. 8 Đặc điểm này tạo ra sự công bằng trong những giao dịch quốc tế thông qua việc không thu thuế đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu và đánh thuế đối với hàng hóa dịch vụ nhập khẩu.

Năm là, thuế GTGT có căn cứ tính thuế là phần giá trị tăng thêm trong các khâu của quá trình lưu thông từ sản xuất đến tiêu dùng. Khác với thuế doanh thu, thuế GTGT chỉ đánh vào phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ trong quá trình lưu thông. Trường hợp không có GTGT thì sẽ không phải nộp thuế GTGT hoặc nếu có GTGT âm thì được hoàn thuế GTGT. Đây là điểm ưu việt vượt trội của thuế GTGT nhằm tạo ra tính công bằng, hợp lý cho đối tượng nộp thuế.

Đặc điểm này yêu cầu các chủ thể là đối tượng nộp thuế phải tự kiểm soát lẫn nhau về giá trị hàng hóa, dịch vụ nhằm bảo vệ lợi ích của mình. Hệ quả của căn cứ này là nhằm khuyến khích các chủ thể sản xuất, kinh doanh sử dụng hệ thống hóa đơn chứng từ nhằm chứng minh giá trị tăng thêm làm căn cứ tính thuế, góp phần làm lành mạnh hóa thị trường và nhà nước có thể kiểm soát được giá cả, số lượng hàng hóa, dịch vụ lưu thông trên thị trường nhằm kiểm soát lạm phát và cung cấp số liệu thống kê hợp lý cho các mục đích kinh tế khác. Để kiểm soát được số tiền thuế mà đối tượng nộp thuế phải nộp, cán bộ, cơ quan thuế không chỉ căn cứ vào hóa đơn chứng từ do phía tổ chức kinh doanh xuất trình làm căn cứ tính thuế mà còn phải đối chiếu với hệ thống hóa đơn chứng từ của chủ thể cung cấp hàng hóa, dịch vụ. Nếu kiểm soát tốt hoạt động này sẽ hạn chế tình trạng trốn thuế GTGT nói riêng và tình trạng trốn thuế nói chung.

Sáu là, thuế GTGT là một loại thuế gián thu đánh trực tiếp vào đối tượng tiêu dùng hàng hóa dịch vụ chịu thuế GTGT. Đây là một yếu tố cấu thành trong giá cả hàng hóa, dịch vụ, là khoản cộng thêm vào giá bán của người cung cấp, hay nói cách khác giá cả hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng mua bao gồm cả thuế GTGT Bảy là, thuế GTGT là loại thuế có tính trung lập cao. Tính trung lập biểu hiện ở hai khía cạnh: Thứ nhất, thuế GTGT không chịu ảnh hưởng bởi kết quả kinh doanh của người nộp thuế, bởi chủ thể nộp thuế chỉ là người “thay mặt” người tiêu dùng nộp khoản thuế này vào NSNN. Do vậy, thuế GTGT không phải là yếu tố của chi phí sản xuất mà là một khoản thu được cộng thêm vào giá bán của nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ.

Thứ hai, thuế GTGT không bị ảnh hưởng bởi quá tình tổ chức và phân chia quá trình sản xuất kinh doanh, bởi tổng số thuế ở tất cả các giai đoạn luôn bằng số thuế tính trên giá bán ở giai đoạn cuối cùng bất kể số giai đoạn nhiều hay ít. Khấu trừ thuế GTGT Phương pháp khấu trừ thuế GTGT là số thuế GTGT phải nộp được tính trên cơ sở số thuế GTGT đầu ra trừ đi số thuế GTGT đầu vào. Qua khái niệm trên, có thể đưa ra công thức tính như sau: Số thuế GTGT đầu vào Số thuế GTGT phải nộp = Số thuế GTGT đầu ra - được khấu trừ Đối với phương pháp khấu trừ thuế GTGT, số thuế được xác định một cách trực tiếp, là hiệu số thuế của các khâu trong quá trình sản xuất lưu thông mà không phải phần giá trị gia tăng được xác định trực tiếp qua các khâu. Thuế GTGT đầu ra là số thuế xuất hiện ở khâu bán ra, chủ thể nộp thuế đã xác định và tính trong giá bán cho người nhận hàng hóa dịch vụ (trong giá thanh toán).

Hay nói cách khác “Số thuế GTGT đầu ra chính là tổng số thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ bán ra ghi trên hóa đơn GTGT. Phần thuế này được tính trên toàn bộ giá trị hàng hóa, dịch vụ cung cấp cho khách hàng. Giá tính thuế của hàng hóa, Số thuế GTGT đầu ra = x Thuế suất thuế GTGT dịch vụ bán ra Thuế GTGT đầu vào xuất hiện ở khâu mua vào, được tính trong tổng giá mà chủ thể nộp thuế đã trả để nhận được hàng hóa dịch vụ. Tương tự thuế GTGT đầu vào, “Số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ chính là tổng số thuế GTGT ghi trên hóa đơn GTGT mua hàng hóa, dịch vụ, chứng từ nộp thuế GTGT hàng hóa nhập khẩu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu Luận Văn Pháp Luật Về Hoàn Thuế GTGT Và Thực Tiễn Tại Công Ty TNHH TEP cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy định pháp luật liên quan đến hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT) và thực tiễn áp dụng tại một công ty cụ thể. Luận văn không chỉ phân tích các quy định pháp lý hiện hành mà còn đánh giá hiệu quả thực hiện và những thách thức mà Công ty TNHH TEP gặp phải trong quá trình hoàn thuế. Điều này giúp người đọc hiểu rõ hơn về quy trình hoàn thuế, từ đó có thể áp dụng vào thực tiễn kinh doanh của mình.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn pháp luật về hoàn thuế gtgt và thực tiễn thực hiện tại công ty tnhh tep. Tài liệu này sẽ cung cấp thêm thông tin chi tiết và các khía cạnh khác nhau liên quan đến hoàn thuế GTGT, giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề này.