Luận văn: Quản lý nhà nước xây dựng NTM kinh tế tại Quế Sơn, Quảng Nam

Luận văn nghiên cứu sâu về QLNN trong xây dựng NTM kinh tế tại Quế Sơn. Cung cấp cơ sở lý luận, thực tiễn và các giải pháp phát triển hiệu quả.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn

2021

86
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Luận văn NTM kinh tế Quế Sơn Tổng quan và mục tiêu

Chương trình mục tiêu quốc gia (MTQG) xây dựng nông thôn mới (NTM) là một nhiệm vụ chiến lược, được khẳng định trong Nghị quyết số 26-NQ/TW, nhằm thay đổi toàn diện bộ mặt nông thôn Việt Nam. Luận văn “Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực kinh tế từ thực tiễn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam” đi sâu phân tích quá trình này tại một huyện trung du điển hình. Quế Sơn bắt đầu chương trình với xuất phát điểm thấp, dân số nông thôn chiếm tới 82% (thống kê 2019), đặt ra nhiều thách thức cho việc phát triển kinh tế nông thôn. Mục tiêu chính của chương trình tại địa phương là lấy phát triển sản xuất làm khâu đột phá, tập trung vào việc nâng cao thu nhập bình quân đầu người và cải thiện đời sống người dân. Việc nghiên cứu thực tiễn tại huyện Quế Sơn không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về thực trạng kinh tế Quế Sơn mà còn đưa ra những bài học kinh nghiệm quý báu trong công tác quản lý nhà nước. Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước, góp phần thúc đẩy xây dựng nông thôn mới một cách bền vững, hiệu quả, rút ngắn khoảng cách phát triển giữa nông thôn và thành thị.

1.1. Bối cảnh và đặc điểm kinh tế huyện Quế Sơn ban đầu

Trước khi đẩy mạnh chương trình NTM, kinh tế huyện Quế Sơn chủ yếu dựa vào nông nghiệp với quy mô sản xuất nhỏ lẻ. Là một huyện trung du của tỉnh Quảng Nam, Quế Sơn có địa hình đa dạng gồm cả đồi núi và đồng bằng, vừa tạo thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp nhưng cũng đối mặt với các hiện tượng xói mòn, thoái hóa đất. Dân số năm 2019 là 80.821 người, trong đó 82% sống ở khu vực nông thôn, cho thấy áp lực lớn về việc làm và sinh kế. Xuất phát điểm thấp được thể hiện qua thu nhập bình quân đầu người còn hạn chế và tỷ lệ hộ nghèo ở mức cao. Cụ thể, năm 2015, tỷ lệ hộ nghèo của huyện là 12,12%. Đây là những thách thức lớn đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị trong việc triển khai chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.

1.2. Vai trò của chương trình NTM đối với kinh tế địa phương

Xây dựng nông thôn mới đóng vai trò là động lực cốt lõi cho sự phát triển kinh tế nông thôn tại Quế Sơn. Chương trình không chỉ tập trung vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng mà còn là một cuộc cách mạng trong tư duy sản xuất. Mục tiêu hàng đầu là nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân, mà trọng tâm là tăng thu nhập và giảm nghèo bền vững. Tác động của NTM đến kinh tế thể hiện qua việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các mô hình sản xuất hàng hóa, và tạo ra việc làm tại chỗ. Thông qua việc thực hiện các tiêu chí nông thôn mới, đặc biệt là nhóm tiêu chí về kinh tế, chương trình đã định hướng cho địa phương tập trung nguồn lực, khai thác tiềm năng, lợi thế để tạo ra bước đột phá về kinh tế - xã hội.

II. Thách thức cốt lõi trong xây dựng NTM kinh tế Quế Sơn

Quá trình triển khai chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tại huyện Quế Sơn đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, tuy nhiên cũng đối mặt với không ít thách thức. Một trong những khó khăn lớn nhất là việc hoàn thành và duy trì các tiêu chí nông thôn mới liên quan trực tiếp đến kinh tế. Tiêu chí về thu nhập được xem là một trong những tiêu chí khó thực hiện nhất. Theo Quyết định 1980/QĐ-TTg, mục tiêu thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn đến năm 2020 là ≥ 45 triệu đồng, trong khi thực tế tại Quế Sơn đến hết năm 2019 mới đạt 34,5 triệu đồng. Bên cạnh đó, việc huy động nguồn lực xây dựng NTM còn gặp nhiều hạn chế. Cơ cấu vốn đầu tư cho thấy sự phụ thuộc lớn vào ngân sách nhà nước (chiếm 84,27% năm 2019), trong khi vốn ngoài nhà nước còn thấp (15,73%), ảnh hưởng đến tính bền vững của chương trình. Thách thức về giảm nghèo bền vững cũng là một bài toán nan giải, đòi hỏi các giải pháp đồng bộ và lâu dài thay vì các biện pháp hỗ trợ tức thời.

2.1. Khó khăn trong việc nâng cao thu nhập bình quân đầu người

Việc nâng cao thu nhập bình quân đầu người là một thách thức lớn. Nguyên nhân chính là do đời sống của người dân, đặc biệt ở các vùng khó khăn, còn phụ thuộc nhiều vào sản xuất nông nghiệp manh mún, chịu nhiều rủi ro từ thiên tai, dịch bệnh và biến động thị trường. Mặc dù huyện đã có nhiều nỗ lực trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các mô hình cây ăn quả, dược liệu, nhưng hiệu quả chưa như kỳ vọng. Đại dịch Covid-19 cũng tác động tiêu cực đến các hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là du lịch, khiến việc cải thiện thu nhập gặp thêm khó khăn. Tính đến cuối năm 2019, toàn huyện chỉ có 5/13 xã đạt tiêu chí về thu nhập, cho thấy đây vẫn là một nút thắt trong quá trình xây dựng nông thôn mới.

2.2. Bài toán giảm nghèo bền vững và tiêu chí hộ nghèo đa chiều

Công tác giảm nghèo bền vững tại Quế Sơn đối mặt với thách thức từ việc áp dụng chuẩn nghèo đa chiều theo Quyết định 59/2015/QĐ-TTg. Tiêu chí này không chỉ xét đến thu nhập mà còn cả mức độ thiếu hụt trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch. Điều này đòi hỏi các giải pháp phải mang tính toàn diện. Mặc dù tỷ lệ hộ nghèo đã giảm mạnh từ 12,12% (2015) xuống còn 4,31% (2019), nguy cơ tái nghèo vẫn còn hiện hữu. Việc tạo sinh kế bền vững, đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm, và hỗ trợ vốn sản xuất là những nhiệm vụ trọng tâm cần được thực hiện quyết liệt hơn nữa để đảm bảo kết quả giảm nghèo thực chất và lâu dài.

III. Phương pháp quản lý nhà nước về kinh tế NTM Quế Sơn

Để vượt qua thách thức, công tác quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực kinh tế tại huyện Quế Sơn được triển khai một cách bài bản và có hệ thống. Chính quyền huyện đã chủ động cụ thể hóa chủ trương của trung ương và tỉnh bằng việc ban hành hàng loạt văn bản chỉ đạo, kế hoạch hành động phù hợp với thực tiễn địa phương. Điển hình là Kế hoạch số 61/KH-UBND và Nghị quyết số 07-NQ/HU về thực hiện chương trình mục tiêu giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020. Một bộ máy tổ chức chặt chẽ từ huyện đến xã đã được thiết lập. Ban Chỉ đạo (BCĐ) Chương trình MTQG xây dựng NTM huyện Quế Sơn được thành lập và kiện toàn thường xuyên, đóng vai trò điều phối, chỉ đạo toàn diện. Cơ chế phân công, phân cấp được xác định rõ ràng, gắn trách nhiệm cụ thể cho từng ngành, từng cấp, đảm bảo sự phối hợp đồng bộ. Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan thường trực, phối hợp chặt chẽ với Phòng Kinh tế hạ tầng và các đơn vị liên quan để giám sát, đôn đốc việc thực hiện các tiêu chí nông thôn mới về kinh tế.

3.1. Hệ thống văn bản pháp lý và cơ chế chính sách đặc thù

UBND huyện Quế Sơn đã ban hành nhiều văn bản quan trọng để định hướng và điều hành chương trình. Nghị quyết số 49/NQ-HĐND quy định cụ thể về tỷ lệ hỗ trợ từ ngân sách, tỷ lệ đóng góp của nhân dân và các nguồn huy động hợp pháp khác. Điều này tạo ra một khung pháp lý rõ ràng để huy động hiệu quả nguồn lực xây dựng NTM. Các kế hoạch hàng năm và giai đoạn 5 năm đều được xây dựng bám sát thực tiễn, xác định nhiệm vụ trọng tâm, chọn lựa tiêu chí ưu tiên, và lồng ghép hiệu quả các dự án phát triển kinh tế - xã hội khác trên địa bàn. Việc công khai quy hoạch NTM tại các khu dân cư cũng được thực hiện tốt, giúp người dân nắm bắt thông tin, tham gia góp ý và giám sát quá trình thực hiện.

3.2. Cơ cấu tổ chức và cơ chế phối hợp liên ngành hiệu quả

Bộ máy quản lý được tổ chức chặt chẽ. Ở cấp huyện, BCĐ do Chủ tịch UBND huyện làm Trưởng ban, các thành viên là lãnh đạo các phòng, ban liên quan. Phòng Nông nghiệp và PTNT đóng vai trò cơ quan thường trực, trong khi Phòng Kinh tế hạ tầng tham mưu trực tiếp các nội dung liên quan đến nhóm tiêu chí nông thôn mới về kinh tế. Ở cấp xã, Ban quản lý xây dựng NTM được thành lập do Chủ tịch UBND xã làm Trưởng ban. Cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chuyên môn và các đoàn thể được thực hiện đồng bộ. Sự phối hợp này đảm bảo các chính sách, kế hoạch được triển khai thống nhất, giải quyết kịp thời các vướng mắc, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp và kinh doanh.

IV. Top giải pháp đột phá thúc đẩy kinh tế NTM tại Quế Sơn

Để hiện thực hóa mục tiêu xây dựng nông thôn mới, huyện Quế Sơn đã triển khai đồng bộ các giải pháp đột phá nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn. Trọng tâm là tái cơ cấu ngành nông nghiệp, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao giá trị gia tăng. Huyện đã tích cực chỉ đạo, hỗ trợ nông dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Bên cạnh đó, việc phát triển các hình thức tổ chức sản xuất hiệu quả như kinh tế trang trạihợp tác xã kiểu mới được đặc biệt chú trọng. Các mô hình liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm chủ lực được nhân rộng, giúp nông dân yên tâm sản xuất và tăng thu nhập. Huyện cũng tập trung phát triển công nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch vụ để tạo thêm việc làm, đa dạng hóa nguồn thu cho người dân. Các giải pháp này đã tạo ra một sức bật mạnh mẽ, làm thay đổi căn bản nền kinh tế huyện Quế Sơn, góp phần quan trọng vào việc hoàn thành các tiêu chí nông thôn mới.

4.1. Cách chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp hiệu quả

Một trong những giải pháp then chốt là tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Huyện đã hỗ trợ nông dân chuyển đổi hơn 600ha đất lúa kém hiệu quả sang trồng các loại cây có giá trị kinh tế cao hơn như bắp lai, mè, đậu phộng. Các mô hình này cho thu nhập từ 85 - 95 triệu đồng/ha/năm, cao hơn trồng lúa từ 25 - 40 triệu đồng. Trong chăn nuôi, huyện khuyến khích phát triển kinh tế trang trại quy mô vừa và lớn. Hiện có 13 trang trại và 41 gia trại mang lại lợi nhuận cao. Về lâm nghiệp, với lợi thế 6.800ha rừng sản xuất, việc trồng rừng nguyên liệu đã trở thành hướng đi chủ lực, mang lại doanh thu hàng chục tỷ đồng mỗi năm. Những nỗ lực này đã góp phần đáng kể vào việc phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững.

4.2. Bí quyết phát triển hợp tác xã và mô hình liên kết sản xuất

Phát triển các hình thức tổ chức sản xuất tập thể là một hướng đi đột phá. Mô hình hợp tác xã kiểu mới hoạt động theo Luật Hợp tác xã 2012 được khuyến khích thành lập. Điển hình là HTX Nông nghiệp Quế Long, đơn vị đầu mối thu gom, kiểm định và xây dựng thương hiệu cho sản phẩm “Gà tre Đèo Le”. Mô hình này không chỉ giúp bảo vệ và phát triển thương hiệu địa phương mà còn tạo việc làm và thu nhập ổn định cho người dân. Bên cạnh đó, huyện còn thúc đẩy các mô hình liên kết sản xuất giữa nông dân và doanh nghiệp, như mô hình sản xuất 200ha lúa giống bao tiêu sản phẩm mỗi năm, giúp nông dân tăng thêm thu nhập đáng kể, đảm bảo đầu ra ổn định cho nông sản.

V. Kết quả thực tiễn tác động của NTM đến kinh tế Quế Sơn

Sau một giai đoạn nỗ lực thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, kinh tế huyện Quế Sơn đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ. Tác động của NTM đến kinh tế được thể hiện rõ nét qua các chỉ số kinh tế - xã hội tích cực. Giai đoạn 2015-2019, giá trị sản xuất trên địa bàn tăng trưởng ấn tượng với tốc độ bình quân 16,17%/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tỷ trọng ngành nông - lâm - thủy sản giảm còn 19,12%, trong khi công nghiệp - xây dựng tăng lên 47,18% và thương mại - dịch vụ là 33,69% (năm 2019). Thành tựu nổi bật nhất là sự cải thiện rõ rệt đời sống người dân. Thu nhập bình quân đầu người năm 2020 ước đạt 36 triệu đồng, vượt chỉ tiêu nghị quyết đề ra. Công tác giảm nghèo bền vững đạt kết quả vượt bậc. Những con số này là minh chứng thuyết phục cho hiệu quả của chương trình NTM trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn tại Quế Sơn, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển trong tương lai.

5.1. Phân tích sự thay đổi thu nhập và tỷ lệ hộ nghèo

Một trong những kết quả ấn tượng nhất là sự cải thiện đáng kể về thu nhập và giảm nghèo. Thu nhập bình quân đầu người năm 2018 đã đạt 31 triệu đồng/năm, tăng gần 4 triệu đồng so với 3 năm trước đó và ước đạt 36 triệu đồng vào năm 2020. Song song với đó, tỷ lệ hộ nghèo của huyện đã giảm ngoạn mục. Từ con số 12,12% vào năm 2015, đến cuối năm 2019 chỉ còn 4,31% và năm 2018 là 6,36%. Sự thay đổi này không chỉ là những con số mà còn phản ánh sự cải thiện thực chất trong đời sống của hàng ngàn hộ gia đình, khẳng định mục tiêu cốt lõi của chương trình mục tiêu quốc gia là nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân nông thôn.

5.2. Đánh giá sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và sản xuất

Chương trình NTM đã tạo ra một cú hích mạnh mẽ cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại Quế Sơn. Giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng năm 2020 ước đạt 3.948 tỷ đồng, tăng 2.003 tỷ đồng so với năm 2015. Lĩnh vực thương mại - dịch vụ cũng tăng trưởng mạnh mẽ. Tổng số có 60 doanh nghiệp và 896 cơ sở sản xuất cá thể trong lĩnh vực công nghiệp - xây dựng, giải quyết việc làm ổn định cho hàng ngàn lao động. Sự phát triển này cho thấy nền kinh tế của huyện không còn phụ thuộc quá nhiều vào nông nghiệp, mà đã phát triển cân đối và đa dạng hơn, tạo ra nền tảng vững chắc cho sự tăng trưởng kinh tế bền vững trong dài hạn.

04/10/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực kinh tế từ thực tiễn huyện quế sơn tỉnh quảng nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRONG LĨNH VỰC KINH TẾ 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò quản lý nhà nước đối với xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực kinh tế 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về kinh tế Kinh tế (economic) theo nghĩa kinh tế học, đó là tiết kiệm, là sự lựa chọn trong việc sử dụng vốn, tài nguyên để đạt lợi ích nhất.

Kinh tế dùng để chỉ toàn bộ các hoạt động sản xuất, trao đổi, phân phối, lưu thông và tiêu dùng trong một khoảng thời gian nhất định của cả một cộng đồng dân cư, một quốc gia để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người trong một xã hội với một nguồn lực có hạn. Tuy nhiên, theo nghĩa đầy đủ nhất, kinh tế được hiểu đó là hoạt động sản xuất của cải vật chất, là toàn bộ phương thức sản xuất và trao đổi của một chế độ xã hội; là tổng hòa các mối quan hệ sản xuất (quan hệ sở hữu, quan hệ tổ chức, quản lý và quan hệ phân phối, lưu thông sản phẩm xã hội), dựa trên một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất, tạo nên kết cấu kinh tế của chế độ xã hội hay cơ sở hạ tầng kinh tế của xã hội. (Lê Thị Thu Thảo, 2015) Theo Mác và Ăng-ghen, sản xuất vật chất là cơ sở cho sự phát triển của xã hội loài người. Việc chuyển từ nấc thang phát triển xã hội này sang nấc thang phát triển xã hội khác, trước hết gắn liền với sự phát triển của phương thức sản xuất vật chất; Theo Chủ nghĩa Mác: phương thức sản xuất vật chất quy định những quá trình sinh hoạt chính trị, xã hội nói chung.

Nói đến kinh tế là nói đến lợi ích kinh tế, hiệu quả kinh tế và sự phát triển của lực lượng sản xuất gắn liền với mỗi thành viên tham gia quá trình sản xuất và tái sản xuất, cũng như lợi ích của mỗi tập đoàn, giai cấp, nhóm xã hội. Phát triển kinh tế được hiểu là quá trình tích lũy và tăng tiến của nền 9 kinh tế. Khái niệm phát triển kinh tế có nội dung phản ánh rộng hơn so với khái niệm tăng trưởng kinh tế. Phát triển kinh tế là bao hàm tăng trưởng kinh tế; sự hoàn chỉnh thể chế, cơ cấu kinh tế; và thu nhập của đời sống.

Nếu như “tăng trưởng kinh tế” dùng để chỉ sự gia tăng về mặt lượng của các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp (GDP, GDP/đầu người hoặc GNP, GNP/đầu người…); thì “phát triển kinh tế” vừa bao hàm quá trình gia tăng về mặt lượng của nền kinh tế, vừa bao hàm sự biến đổi về mặt chất của nền kinh tế – xã hội, mà điển hình là sự chuyển dịch CCKT theo hướng CNH,HĐH và nâng cao mức sống toàn dân, trình độ phát triển văn minh xã hội… 1. Khái niệm về xây dựng nông thôn mới Xây dựng NTM là một cuộc vận động chuyển biến cách mạng của cộng đồng cư dân ở khu vực nông thôn để họ đồng tâm hiệp lực vừa xây dựng phát triển toàn diện về lĩnh vực sản xuất nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ; vừa đảm bảo cải thiện thu nhập và đời sống nông dân, tạo lập được nếp sống văn hóa, bảo vệ môi trường sinh thái và giữ vững ổn định an ninh nông thôn; vừa xây dựng gia đình, thôn, xã văn minh, sạch đẹp. (Lê Thị Thu Thảo, 2015) Nước ta trong giai đoạn hiện nay, chương trình nhiệm vụ xây dựng NTM được xem là một cuộc vận động chuyển biến lớn, thể hiện sự nhất quán quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước để tạo dựng một nông thôn hiện đại, văn minh, phát triển toàn diện và không ngừng cải thiện nâng cao đời sống người nông dân Việt Nam. Xây dựng NTM là chương trình có hệ mục tiêu, quan điểm, nội dung cơ bản và các nhiệm vụ giải pháp cùng với phương thức thực hiện một cách cụ thể (Vũ Văn Phúc, 2012).

Như vậy: Xây dựng NTM được hiểu là quá trình xây dựng nông thôn đạt mười chín tiêu chí theo quy định của Bộ tiêu chí QG về NTM, nhằm tạo dựng một nông thôn văn minh, hiện đại và phát triển toàn diện, không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống người nông dân. Quản lý nhà nước đối với xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực kinh tế Quản lý nhà nước về khu vực nông thôn được hiểu đó là sự tác động hướng đích và tổ chức điều hành bằng công cụ quyền lực Nhà nước thông qua hệ thống chính sách, pháp luật và bộ máy quản lý cùng nhân sự của mình để tác động lên các quá trình kinh KT-XH ở khu vực nông thôn nhằm hiện thực hóa các mục tiêu phát triển KT-XH đã đề ra” (Học viện Hành chính Quốc gia, 2008). Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới là một nội dung quan trọng của quản lý nhà nước, bao gồm sự tập hợp mọi hoạt động của hệ thống cơ quan nhà nước để tác động vào nông nghiệp - nông dân - nông thôn nhằm thực hiện các nội dung và mục tiêu phấn đấu trong xây dựng nông thôn mới theo hướng phát triển nền kinh tế bền vững, bảo đảm cuộc sống người dân ở khu vực nông thôn nước ta ngày một tốt đẹp hơn và tạo lập môi trường ổn định cho sự phát triển đất nước. (Lê Thị Thu Thảo, 2015) Mặt khác, theo tiêu chí số 10, 11, 12 và 13 về kinh tế trong Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 (được ban hành theo Quyết định 1980/QĐ-TTg ngày 17 tháng 10 năm 2016), xã được công nhận đạt tiêu chí về kinh tế phải đáp ứng các điều kiện: Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn đến năm 2020 ≥ 45 triệu đồng/người; Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giai đoạn 2016-2020 ≤ 6%; Tỷ lệ người có việc làm trên dân số trong độ tuổi lao động có khả năng tham gia lao động ≥ 90%; Xã có hợp tác xã hoạt động theo đúng quy định của Luật Hợp tác xã năm 2012 hoặc Xã có mô hình liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản chủ lực đảm bảo bền vững.

(Quyết định số 1980/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ) Như vậy, quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực kinh tế là khái niệm dùng để chỉ sự tác động của các cơ quan quản lý nhà nước có chức năng thông qua các công cụ pháp lý và cơ chế chính sách, tổ chức bộ 11 máy cùng đội ngũ nhân sự của mình vào khu vực nông nghiệp - nông dân - nông thôn để hiện thực hóa các nội dung, mục tiêu xây dựng NTM trong lĩnh vực kinh tế nhằm phát triển kinh tế nông thôn, mang lại đời sống ấm no hạnh phúc cho người nông dân, góp phần rút ngắn khoảng cách phát triển giữa đô thị và nông thôn Việt Nam. Đặc điểm quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực kinh tế - Chương trình nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế vốn là chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước ta đóng vai trò quan trọng có ý nghĩa chiến lược của công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc XHCN, góp phần nâng cao không ngừng đời sống nhân dân và thay đổi tích cực diện mạo xã hội nông thôn. Chính quyền nhà nước các cấp với chức năng quản lý điều hành của mình là điều tiết và khắc phục mặt trái của kinh tế thị trường trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế, góp phần vào việc hiện thực hóa các mục tiêu phát triển bền vững kinh tế - xã hội. - Xây dựng nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế là chương trình hành động được thí điểm trong lĩnh vực kinh tế, vừa làm mô hình vừa đúc rút các kinh nghiệm.

Vì vậy, trên cơ sở của Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới thì yêu cầu khách quan đối với công tác quản lý nhà nước của chính quyền các cấp về xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực kinh tế cần linh hoạt để đáp ứng sự phù hợp với đặc điểm của địa bàn khu vực, lĩnh vực. - Những chủ thể của công tác quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế có sự đa dạng, nên yêu cầu cao và đồng bộ trong hoạt động phối hợp để thực hiện đạt kết quả. Nhiệm vụ của quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này dựa trên cơ sở Nhà nước phân giao cho UBND các cấp tổ chức thực hiện. Ở cấp huyện, Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn là cơ quan đầu mối để tổ chức thực hiện, còn các phòng ban chuyên môn (theo phạm vi 12 lĩnh vực có liên quan của mình) là thành viên phối hợp thực hiện.

Với lĩnh vực kinh tế, chính quyền các cấp (cấp Trung ương đến cấp huyện) giao cho ngành Công Thương cùng cấp; và Phòng Kinh tế huyện thực thi chức năng quản lý nhà nước về xây dựng NTM trong lĩnh vực kinh tế. Ở tuyến huyện, Phòng Kinh tế cùng phối hợp với Phòng Nông nghiệp, Ban chỉ đạo cấp huyện thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới tổ chức thực hiện những nội dung về tiêu chí kinh tế. Vai trò quản lý nhà nước đối với xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực kinh tế - Thực thi chức năng quản lý nhà nước đối với xây dựng NTM ở lĩnh vực kinh tế. - Chương trình nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới ở lĩnh vực kinh tế là chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước ta đóng vai trò quan trọng có ý nghĩa chiến lược của công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc XHCN, góp phần nâng cao không ngừng đời sống nhân dân và thay đổi tích cực diện mạo xã hội nông thôn.

Ở vị trí vai trò của lĩnh vực kinh tế, nó tác động mạnh đến các phương diện của đời sống xã hội, một mặt là để đưa đất nước ta về cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại và hội nhập kinh tế quốc tế; một mặt khác, nó giúp thu hẹp khoảng cách trong phát triển kinh tế giữa nông thôn - thành thị. Vì vậy trong quá trình quản lý nhà nước đối với xây dựng NTM ở lĩnh vực kinh tế, bên cạnh phải có sự hỗ trợ đắc lực của nhà nước thì quá trình hoạt động này cũng đòi hỏi một cách khách quan cần có sự chung tay tham gia tích cực của nông dân với tư cách là chủ thể trung tâm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ