CHƯƠNG 1 N G U Ồ N V Ố N S Ả N X U Ấ T K IN H D O A N H C Ủ A D O A N H N G H I Ệ P T R O N G N Ề N K IN H T Ế T H Ị T R Ư Ờ N G 1. Tầm quan trọng của vốn đối với các doanh nghiệp trong nề kinh tế thị trường. Trong nền kinh tế thị trường, vốn là yếu tố quan trọng đối với sự phát triển nền kinh tế quốc dân nói chung và từng doanh nghiệp tế nói riêng. Có vốn là có tất cả các yếu tố khác.Mác đã khái quát hoá phạm trù vốn thành phạm trù tư bản.
Theo Mác, tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư. Định nghĩa này đã bao hàm đầy đủ bản chất và tác dụng của vốn. Trong điều kiện nước ta hiện này, nhu cầu vốn rất lớn nhưng khả năng đáp ứng do tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế còn quá thấp, hiện tượng thiếu vốn là phổ biến. Thiếu vốn để đối mới thiết bị, công nghệ trong điều kiện thiết bị, công nghệ cũ kỹ, lạc hậu hàng mấy thập kỷ đang và sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của hàng hoá nước ta trên thị trường trong nước và thế giới.
- Vốn của DN có vai trò quyết định trong việc thành lập, hoạt động, phát triển của từng loại hình DN theo luật định. Nó là một trong những điều kiện tiên quyết, quan trọng nhất cho sự ra đời, tổn tại và phát triển các doanh nghiệp. - Vốn của DN lớn hay nhỏ là một trong những điểu kiện quan trọng nhất để xếp DN vào loại quy mô lớn, trung bình hay nhỏ, và cũng là điều kiện để sử dụng các nguồn tiềm năng hiện có và tương lai về sức lao động, nguồn hàng hoá, mở rộng và phát triển thị trường, là điều kiện để phát triển s x kinh doanh. - Vốn, lao động, đất đai là ba yếu tố cơ bản của quá trình tái sản xuất, trong đó vốn giữ vai trò quan trọng hàng đầu.
Xét về mặt giá trị, vốn là nguồn tài chính đảm bảo cho doanh nghiệp phát triển. Xét về mặt hiện vật, vốn là 6 thiết bị kỹ thuật và công nghệ của doanh nghiệp. Tình trạng hiện đại hay lạc hậu của cơ sở vật chất kỹ thuật quyết định đến năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. - Trong cơ chế kinh tế mới, trong điều kiện mở rộng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong SXKD, việc có vốn và tích luỹ, tập trung được vốn nhiều hay ít vào DN có vai trò cực kì quan trọng trong việc đẩy mạnh SXKD.
- Đặc biệt trong giai đoạn thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước hiện nay, vốn là vấn đề cấp thiết của các DN vì những lí do sau đây: + Thực hiện cải tạo, mở rộng, đầu tư chiều sâu nhằm nhanh chóng đưa công nghệ tiên tiến vào quá trình s x ở doanh nghiệp. Vốn của DN có ý nghĩa rất quan trọng vì nó là năng lực nội tại để đón nhận, lựa chọn công nghệ và riêng những DN có quan hệ hợp tác, đầu tư của nước ngoài sẽ có sự lựa chọn và tham gia bình đẳng. + Phải có nguồn vốn tương đối lớn thì các DN mới có thể sử dụng và trang bị công nghệ của nước ngoài (mua, thuê công nghệ nước ngoài). Nhằm tiếp thu công nghệ tiên tiến từ đó sẽ học được kĩ thuật quản lí và phong cách kinh doanh, sử dụng kho tàng công nghệ tiên tiến của thế giới chứ không phải mò mẫn tìm con đường phát minh.
+ Vốn là điều kiện quan trọng để các DN đào tạo lại đội ngũ công nhân kĩ thuật cho phù hợp với nền khoa học công nghệ mới, đào tạo đội ngũ cán bộ quản lí đủ năng lực để quản lí một DN có quy mô lớn, làm ăn có hiệu quả hơn, thậm chí đưa người lao động đi đào tạo ở những nước tiên tiến để học tập kinh nghiệm quản lí và công nghệ của họ. +Vốn là điều kiện để các DN cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm, sử dụng công nghệ mới nhằm đẩy mạnh s x hàng xuất khẩu để thâm nhập thi trường quốc tế. Nguồn vốn của DN trong nền kinh tế thị trường. 7 Muốn khai thác tốt các nhân tố cung về vốn để nhằm thoả mãn nhu cầu vốn trong các DN, mỗi DN đều có một chiến lược riêng, gắn kinh tế thị trường với chính sách mở cửa hoà nhập và hợp tác quốc tế để phát huy khả năng và thế mạnh của mình trong khai thác các nguồn vốn trong nước và ngoài nước vào SXKD có hiệu quả.
Nguồn vốn trong nước 1. Nguồn vốn ngân sách. Trong thời kì nền kinh tế kế hoạch tập tmng vai trò đầu tư phát triển kinh tế của Nhà nước rất quan trọng. Nhà nước cấp và đảm bảo hầu hết số vốn đầu tư cho phát triển DNNN.
Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, vấn đề đã thay đổi hẳn. Cấp phát ngân sách Nhà nước không còn là khoản vốn đầu tư chủ yếu cho phát triển nền kinh tế và từng DbỊNN. Nhà nước chỉ hỗ trợ một phần chi phí cho các DN thuộc một số lĩnh vực then chốt của nền kinh tế như các dự án có tính chiến lược, các dự án về y tế, giáo dục. Do đó, trong giai đoạn tới, nguồn vốn ngân sách Nhà nước sẽ không được coi là khoản chi áp đảo.
Nguồn vốn trực tiếp đầu tư nhằm tái s x từng DN phải tự lo, không còn chờ vào ngân sách Nhà nước như trước đây nữa, khối lượng vốn mà DNNN huy động từ NSNN sẽ rất hạn hẹp. Nguồn vốn tự bổ xung của D N : Đây là những nguồn vốn do DN tự tích luỹ hay điều chỉnh cơ cấu tài sản để hình thành nguồn vốn bằng tiền tài trợ cho các hoạt động đầu tư của chính DN. Nguồn vốn tự bổ xung của DN được hình thành từ các nguồn sau: - Quỹ khấu hao các loại tài sản cố định của DN. - Quỹ phát triển kinh doanh do phần lợi nhuận hàng năm được giữ lại.
- Nguồn tài chính do điều chỉnh cơ cấu tài sản cố định của DN. 8 - N goài ra, DN bổ sung vốn hình thành từ chênh lệch giá không phải nộp. Việc tăng hay giảm nguồn vốn này trước hết tuỳ thuộc vào hoạt động kinh doanh và việc phân cấp quản lí của Nhà nước đối với mỗi DN. Nguồn vốn tự bổ xung của các DN theo cơ chế tài chính hành hiện hành, DN sau khi nộp thuế lợi tức được giữ lại tối thiểu 35% lãi và 30 - 65% khấu hao cơ bản để tái đầu tư (đối với DNNN).
Đối với DN ngoài quốc doanh, vấn đề tự bổ sung vốn không thành cơ chế bắt buộc mcà luật pháp quy định vốn điều lệ tối thiểu phải có với từng ngành nghề kinh doanh. N guồn vốn tự bổ sung này có vai trò rất quan trọng và quyết định khi chuyển sang cơ chế thị trường, bởi nó sẽ góp phần nâng cao vị thế taì chính của DN, thể hiện nội lực giúp DN có thể dùng làm đối trọng với các nguồn tín dụng huy động từ bên ngoài DN. Các DN cần phải chú trọng tăng cường huy động từ nguồn vốn này để đáp ứng nhu cầu vốn phát triển SXKD. Nguồn vốn vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng.
Nếu như trước đây gần như toàn bộ vốn SXKD của các DNNN được ngân sách cấp (vốn cố định, vốn lưu động), thì hiện nay huy động vốn qua kênh ngân sách đã giảm đi rất nhiều, phần vốn huy động qua hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng có vị trí đặc biệt quan trọng. Ngcân hàng và các tổ chức tín dụng thường có m ột số hình thức cho vay chủ yếu: cho vay ngắn hạn cho vay trung hạn và cho vay dài hạn. - Cho vay ngắn hạn nhằm bổ sung phần vốn lưu động thiếu phát sinh trong quá trình SXKD của DN. - Cho vay trung hạn và dài hạn nhằm tăng cường cơ sở vật chất k ĩ thuật của D N , nâng cao năng lực s x hiện có.
Tín dụng ngân hàng góp phần phá vỡ vòng luẩn quẩn của những nước nghèo kém phát triển khi tiến hành công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Với tư cách là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, tín dụng ngân hàng trở thành động lực 9 kích thích các tổ chức kinh tế và dân cư trong nước, các thành phần kinh tế, các ngành kinh tế thực hiện tiết kiệm , thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi hiện đang nằm phân tán ở m ọi nơi đầu tư cho các DN. Thực hiện chiến lược huy động vốn với phương châm "Đi vay để cho vay" dung hoà các hình thức huy động nên nguồn vốn huy động tăng m ạnh và liên tục : năm 1992 tăng 18,6%; năm 1993 tăng 23,1% ; năm 1994 tăng 59,8%. Tín dụng đối với nền kinh tế đã tăng lên m ạnh m ẽ, coi trọng hiệu quả kinh tế chuyển từ chỗ cho các D N N N vay sang cho m ọi thành phần kinh tế vay.
Để được vay vốn trung dài hạn của ngân hàng thì DN phải hội đủ các điều kiện như: - DN phải có đủ 20 - 40% vốn tự có tham gia vào dự án vay. - M uốn được vay vốn ngân hàng DN phải có tài sản th ế chấp, giá trị tài sản thế chấp phải lớn hơn vốn vay 30%. Trong tình hình hiện nay với quy mô tài sản nhỏ, lại cũ và lạc hậu việc tìm được tài sản thế chấp là bất động sản lại dễ bán để thỏa m ãn các tiêu chuẩn th ế chấp là m ột điều khó khăn. Hầu hết các doanh nghiệp đều không đủ điều kiện.
Ngoài ra, do hậu quả của việc duy trì chế độ hai giá các DN NN không thực hiện triệt để việc đánh giá lại các bất động sản, thiết bị có trước năm 1989 nhằm tránh thuế vốn, làm cho giá trị sổ sách của những tài sản này thấp từ 2 đến 3 lần so với giá trị thực tế, nhưng cũng do vậy, khi cần vay vốn ngân hàng, các DNNN lại gặp khó khăn trong việc vay đủ số vốn thiếu hụt. Ngoài các ngân hàng, các tổ chức tài chính bao gồm các công ty tài chính, công ty bảo hiểm .