Tổng quan nghiên cứu

Trong quy trình xạ trị điều biến thể tích (VMAT - Volumetric Modulated Arc Therapy) đối với ung thư vùng đầu cổ, chất lượng hình ảnh chụp cắt lớp vi tính (CT) mô phỏng giữ vai trò nền tảng quyết định trực tiếp đến độ chính xác của kế hoạch phân bố liều lượng bức xạ. Tuy nhiên, theo các thống kê lâm sàng, dị ảnh dạng vệt xuất hiện trong khoảng 21% số ca quét chụp CT mô phỏng, chủ yếu bắt nguồn từ các vật liệu trám răng kim loại, răng giả hoặc thiết bị cấy ghép nha khoa có mật độ khối rất cao. Sự hiện diện của kim loại gây ra hiệu ứng làm cứng chùm tia (beam hardening) và hiện tượng tán xạ quang phổ photon, làm biến dạng nghiêm trọng hệ số suy giảm tuyến tính. Hậu quả là các điểm ảnh xung quanh bị sai lệch giá trị đơn vị Hounsfield (HU) lên tới trên 900 HU và giá trị mật độ điện tử tương đối (ED) bị đẩy lên mức 1,523, dẫn tới tính toán sai liều lượng thực tế tới các thể tích điều trị (PTV) và các cơ quan nguy cấp (OAR).

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Kỹ thuật Hạt nhân của tác giả Vũ Thị Lệ, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Tất Thắng tại Viện Vật lý Kỹ thuật - Đại học Bách Khoa Hà Nội phối hợp cùng Khoa Vật lý Xạ trị - Bệnh viện K (hoàn thành tháng 10/2022), đã tập trung giải quyết vấn đề cấp thiết này. Nghiên cứu thực hiện đánh giá định lượng tác động của dị ảnh kim loại trên tập dữ liệu 20 bệnh nhân ung thư đầu cổ được chỉ định xạ trị VMAT với tổng liều 69,96 Gy chia làm 33 phân liều (2,12 Gy/phân liều). Thay vì áp dụng phương pháp gán toàn bộ vùng dị ảnh về mật độ nước đồng nhất (ED = 1,0) vốn tồn tại nhiều sai số, tác giả đã ứng dụng công cụ FORCE ED trên hệ thống lập kế hoạch điều trị Monaco để định lượng và hiệu chỉnh chính xác mật độ điện tử tương đối thực tế của từng mô giải phẫu (khoang miệng đạt ED từ 1,041 đến 1,059; vùng má đạt ED từ 0,975 đến 1,000). Kết quả nghiên cứu mang lại ý nghĩa lâm sàng sâu sắc khi nâng chỉ số kiểm chuẩn Gamma Pass Rate (tiêu chuẩn 3%/3mm) lên tới 98,30% và ngăn ngừa sai lệch liều lượng cục bộ tại mô lành có thể vượt quá 1000 cGy, giúp tối ưu hóa kiểm soát khối u và giảm thiểu nguy cơ biến chứng muộn cho người bệnh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng vật lý bức xạ tương tác với vật chất và các lý thuyết đo liều lượng xạ trị tiên tiến:

Thứ nhất là Lý thuyết suy giảm chùm tia photon và cơ chế tạo dị ảnh CT. Chùm tia X trong máy CT chẩn đoán là chùm đa phổ năng lượng (polychromatic). Khi đi qua vật chất mật độ cao như kim loại cấy ghép, các photon năng lượng thấp bị hấp thụ mạnh hơn rất nhiều so với photon năng lượng cao, dẫn tới hiệu ứng làm cứng chùm tia (Beam Hardening) và làm dịch chuyển phổ năng lượng trung bình sang phía bên phải. Hiện tượng này kết hợp với hiệu ứng tán xạ quang phổ và giới hạn dải động của đầu dò (detector) tạo ra các dị ảnh dạng vệt sáng tối xen kẽ (Streak Artifacts) và dị ảnh răng cưa (View Aliasing), làm sai lệch mối tương quan giữa đơn vị Hounsfield (HU) và mật độ điện tử tương đối (ED - Electron Density). Do mật độ điện tử là thông số vật lý trực tiếp chi phối tương tác Compton và tạo liều hấp thụ trong mô, sai số ED dẫn tới sai lệch nghiệm giải tích phương trình vận chuyển bức xạ.

Thứ hai là Lý thuyết xạ trị điều biến thể tích VMAT và thuật toán tối ưu hóa Monte Carlo. Kỹ thuật VMAT cho phép đầu phát tia quay liên tục 360 độ quanh bệnh nhân với tốc độ biến thiên linh hoạt, đồng thời kết hợp thay đổi tốc độ liều và chuyển động của bộ chuẩn trực đa lá (MLC). Thuật toán Monte Carlo tích hợp trên phần mềm lập kế hoạch Monaco tính toán liều lượng dựa trên mô phỏng ngẫu nhiên hàng triệu lịch sử hạt photon và electron thứ cấp trong môi trường voxel 3D, đòi hỏi độ chính xác tuyệt đối của ma trận mật độ vật chất đầu vào.

Nghiên cứu vận dụng ba khái niệm và chỉ số đánh giá chuẩn mực quốc tế: Chỉ số trùng khớp liều (Conformity Index - CI Paddick, giá trị lý tưởng tiến về 1,0), Chỉ số đồng nhất liều (Homogeneity Index - HI, tính theo công thức hiệu số liều D5% và D95% chia cho liều chỉ định, giá trị lý tưởng tiến về 0) và Chỉ số kiểm chuẩn Gamma Index (Gamma Pass Rate) theo khuyến cáo AAPM TG-119 nhằm định lượng mức độ tương đồng giữa phân bố liều tính toán lý thuyết và phân bố liều đo đạc thực tế.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu tiến hành phương pháp thực nghiệm lâm sàng hồi cứu trên cỡ mẫu gồm 20 bệnh nhân ung thư vùng đầu cổ có cấy ghép kim loại nha khoa tại Bệnh viện K trong giai đoạn 2020 - 2022. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng nhằm thu thập các ca bệnh đại diện có mức độ phát sinh dị ảnh kim loại rõ rệt tại khoang miệng và tầng giữa mặt. Toàn bộ bệnh nhân đều được cố định ở tư thế nằm ngửa chuẩn hóa bằng mặt nạ nhiệt 5 điểm đầu - cổ - vai và chụp CT mô phỏng trên hệ thống chuyên dụng.

Quy trình xử lý dữ liệu và phân tích liều lượng gồm các bước tuần tự:

  • Xác định và hiệu chỉnh dị ảnh: Trên hệ thống Monaco phiên bản 5.02, tác giả sử dụng công cụ Image Statistics để khoanh vùng thể tích quan tâm (ROI) tại các lát cắt không có dị ảnh nhằm xác định giá trị mật độ điện tử nền chuẩn của từng cấu trúc giải phẫu. Sau đó, đường bao vùng dị ảnh (khoang miệng và vùng má ngoài) được vẽ thủ công và áp dụng chức năng FORCE ED để ép các điểm ảnh sai lệch về giá trị mật độ điện tử thực tế.
  • Thiết kế kế hoạch xạ trị: Trên chùm tia photon 6 MV của máy gia tốc tuyến tính, mỗi bệnh nhân được lập đồng thời 08 kế hoạch VMAT với tổng liều chỉ định 69,96 Gy (2,12 Gy/phân liều, 33 phân liều) ứng với 4 cấu hình cung quay: một cung (SA - Single Arc, góc quay từ 181 đến 179 độ theo chiều kim đồng hồ), hai cung (DA - Double Arc, kết hợp hai cung thuận nghịch), ba cung (TA - Triple Arc) và bốn cung (QA - Quadruple Arc) trên cả hai bộ dữ liệu CT gốc và CT đã hiệu chỉnh. Lý do lựa chọn thuật toán tính toán Monte Carlo là vì đây là thuật toán tiêu chuẩn vàng chính xác nhất hiện nay trong việc mô phỏng bức xạ qua các môi trường không đồng nhất.
  • Kiểm chuẩn chất lượng liều lượng (QA): Mỗi kế hoạch điều trị được chuyển đổi sang kế hoạch kiểm chuẩn tương ứng trên thiết bị phantom 3D bán dẫn hình trụ ArcCHECK. Phân bố liều đo đạc thực tế được đối chiếu với ma trận liều tính toán mô phỏng thông qua phần mềm phân tích Gamma Index với tiêu chuẩn nghiêm ngặt 3%/3mm.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã ghi nhận 4 phát hiện cốt lõi mang tính định lượng rõ rệt:

Thứ nhất, việc hiệu chỉnh bằng chức năng FORCE ED đã khôi phục hoàn toàn tính trung thực của cấu trúc giải phẫu trên ảnh CT. Trước hiệu chỉnh, điểm ảnh tại vùng dị ảnh khoang miệng có giá trị HU lên tới 949 và mật độ điện tử ED đạt 1,523 (hoặc điểm dị ảnh vùng má có HU đạt 847 và ED đạt 1,451). Sau khi can thiệp FORCE ED, giá trị HU được đưa về mức 33 với ED là 1,041 tại khoang miệng và HU giảm về âm 25 với ED là 0,975 tại vùng má. Điều này giúp loại bỏ hoàn toàn các vệt sáng chói và vùng tối giả tạo, tái lập bề mặt phân bố mật độ mô mềm tương đồng với bệnh nhân bình thường.

Thứ hai, độ bao phủ thể tích điều trị đích (PTV) tăng trưởng đáng kể trên chuỗi ảnh CT hiệu chỉnh. Tại mức liều chỉ định 60 Gy tới PTV60 và 54 Gy tới PTV54 ở kế hoạch 1 cung (SA), tỷ lệ thể tích nhận đủ 95% liều chỉ định (V95%) trên CT gốc chỉ đạt 91,78% (PTV60) và 89,05% (PTV54) - thấp hơn ngưỡng yêu cầu lâm sàng là 95%. Sau khi hiệu chỉnh CT, chỉ số V95% của kế hoạch SA đã tăng vượt bậc lên mức 95,22% (tăng 3,44% đối với PTV60) và đạt 95,79% (tăng 6,74% đối với PTV54), đưa toàn bộ các kế hoạch vượt qua ngưỡng nghiệm thu lâm sàng. Giá trị liều trung bình Dmean tới PTV70 của kế hoạch SA trên CT hiệu chỉnh là 7336 cGy so với 7350 cGy trên CT gốc; kế hoạch DA đạt 7210 cGy so với 7225 cGy trên CT gốc.

Thứ ba, phát hiện sai lệch nghiêm trọng về liều cục bộ tại mô lành nếu không xử lý dị ảnh. Khi phân tích phân bố liều điểm tại cấu trúc má, liều trung bình trên CT gốc chỉ ghi nhận 2636 cGy nhưng trên CT hiệu chỉnh liều thực tế lên tới 3786 cGy (chênh lệch liều thực tế cao hơn tới 1150 cGy). Liều tối đa Dmax tại điểm khảo sát vùng má trên CT hiệu chỉnh đạt 4068 cGy so với 2977 cGy trên CT gốc. Đối với các cơ quan nguy cấp OAR, liều tối đa Dmax trên CT hiệu chỉnh đều giảm về ngưỡng an toàn: thân não giảm từ 5178 cGy xuống 5149 cGy (kế hoạch SA), tủy sống giảm từ 4323 cGy xuống 4254 cGy, thủy tinh thể giảm từ 705 cGy xuống 662 cGy (dưới ngưỡng 700 cGy), và xương hàm giảm từ 7103 cGy xuống 7002 cGy (dưới ngưỡng 7000 cGy).

Thứ tư, chỉ số kiểm chuẩn chất lượng Gamma Pass Rate (3%/3mm) trên thiết bị ArcCHECK của chuỗi ảnh CT hiệu chỉnh cao hơn rõ rệt so với CT gốc trên mọi cấu hình cung quay. Cụ thể: kế hoạch SA tăng từ 96,75% lên 97,45%; kế hoạch DA tăng từ 97,45% lên 98,30%; kế hoạch TA tăng từ 97,15% lên 97,97%; và kế hoạch QA tăng từ 97,15% lên 98,05%. Trong đó, cấu hình 2 cung (DA) trên chuỗi ảnh hiệu chỉnh mang lại giá trị Gamma Pass Rate xuất sắc nhất là 98,30%.

Thảo luận kết quả

Khi phân tích cơ chế vật lý của thuật toán Monte Carlo, sự tồn tại của các vệt dị ảnh có giá trị mật độ điện tử cao giả tạo (ED từ 1,357 đến 1,523) khiến thuật toán dự đoán chùm tia bị suy giảm năng lượng quá mức khi xuyên qua vùng này. Do đó, hệ thống lập kế hoạch tự động bù liều bằng cách tăng thời gian mở của các lá MLC hoặc tăng chỉ số đơn vị phát xạ (MU). Khi chùm tia thực tế đi qua mô mềm bệnh nhân (nơi mật độ ED thực chỉ khoảng 0,975 đến 1,059 chứ không cao như trên CT gốc), năng lượng bức xạ hấp thụ thực tế tại các mô lành xung quanh như niêm mạc má, xương hàm và khoang miệng sẽ bị đẩy lên rất cao. Đây chính là nguyên nhân giải thích vì sao liều điểm đo đạc tại vùng má trên CT hiệu chỉnh lại cao hơn CT gốc tới hơn 1000 cGy. Nếu kỹ sư vật lý y khoa không hiệu chỉnh dị ảnh, kế hoạch xạ trị nhìn trên phần mềm có vẻ an toàn nhưng thực tế bệnh nhân lại bị phơi nhiễm liều độc tính vượt ngưỡng cho phép, dẫn tới viêm loét niêm mạc miệng, hoại tử xương hàm hoặc cháy bỏng da cổ.

Khi biểu diễn dữ liệu qua biểu đồ cột phân bố liều Dmax tới PTV70 và biểu đồ liều tích lũy theo thể tích (DVH), kế hoạch 1 cung (SA) trên cả hai chuỗi ảnh đều ghi nhận Dmax vượt mức 7700 cGy (vượt ngưỡng 110% liều chỉ định khoảng 2% đến 3%). Ngược lại, các cấu hình đa cung (DA, TA, QA) duy trì đường đẳng liều bao quanh PTV vô cùng đồng đều với chỉ số HI đạt 1,05 đến 1,06 và chỉ số CI đạt 0,80 đến 0,81. Kế hoạch DA giúp mở rộng bậc tự do trong điều chế chùm tia, tối ưu hóa các phân đoạn phân liều mà không làm kéo dài thời gian phát tia như cấu hình 3 cung hoặc 4 cung.

So sánh với các công bố quốc tế, phương pháp của nghiên cứu này cho thấy sự vượt trội về độ chính xác vật lý. Tác giả Yusung Kim và cộng sự (2006) khi nghiên cứu IMRT hay Chun-I Lin và cộng sự (2018), Kenta Kitagawa và cộng sự (2020) khi nghiên cứu VMAT đều áp dụng kỹ thuật gán đồng nhất vùng dị ảnh về giá trị của nước (ED = 1,0; HU = 0). Tuy nhiên, bảng so sánh đối chiếu cho thấy mật độ điện tử của mô mềm khoang miệng thực tế dao động từ 1,044 đến 1,061, còn mô đệm dưới da má dao động từ 0,975 đến 1,028. Việc ép chung về ED = 1,0 của các tác giả tiền nhiệm vẫn gây ra độ lệch liều khoảng 1,5% đến 2,8%. Kết quả chỉ số Gamma Pass Rate của nghiên cứu này trên kế hoạch hiệu chỉnh (98,30%) hoàn toàn tương đồng và củng cố vững chắc cho kết luận của tác giả Manuel Maerz và cộng sự (2014) với tỷ lệ đạt 99,0% trên môi trường phantom, khẳng định tính khả thi vượt trội khi triển khai trực tiếp trên phần mềm thương mại tại các bệnh viện ung bướu tại Việt Nam.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các bằng chứng thực nghiệm thu được từ luận văn, 4 nhóm giải pháp kỹ thuật và lâm sàng được đề xuất nhằm chuẩn hóa quy trình xạ trị cho bệnh nhân ung thư đầu cổ có cấy ghép kim loại:

Thứ nhất, ban hành quy trình thao tác chuẩn (SOP) về hiệu chỉnh dị ảnh bằng công cụ FORCE ED trên hệ thống lập kế hoạch xạ trị (TPS). Các kỹ sư vật lý y khoa và chuyên viên lập kế hoạch (dosimetrist) cần dành thời gian từ 15 đến 20 phút trước khi tính toán liều để kiểm tra chuỗi ảnh CT mô phỏng, vẽ đường bao thủ công vùng dị ảnh khoang miệng và vùng má ngoài, sau đó sử dụng công cụ Image Statistics để lấy giá trị mật độ điện tử trung bình tại các lát cắt mô lành không nhiễu gán trực tiếp vào cấu trúc dị ảnh. Target metric là triệt tiêu 100% các điểm ảnh có ED sai lệch lớn hơn 1,20 tại vùng mô mềm. Timeline áp dụng: triển khai thường quy ngay trong quý 1 năm công tác.

Thứ hai, ưu tiên chỉ định cấu hình VMAT hai cung quay (Double Arc - DA) làm phác đồ xạ trị tiêu chuẩn cho ung thư vùng đầu cổ. Các đơn vị lâm sàng cần chấm dứt việc sử dụng kỹ thuật 1 cung (SA) cho các ca bệnh có cấy ghép nha khoa nhằm triệt tiêu hiện tượng đỉnh liều quá mức Dmax vượt 7700 cGy tại mô dưới da cổ, đồng thời hạn chế dùng cấu hình 3 hay 4 cung để tiết kiệm 40% thời gian chiếu xạ trên máy gia tốc và giảm tải liều tán xạ toàn thân (MU thấp hơn). Target metric: đạt chỉ số CI lớn hơn hoặc bằng 0,80 và chỉ số HI nhỏ hơn hoặc bằng 1,06.

Thứ ba, thiết lập quy trình kiểm chuẩn chất lượng tiền điều trị (Pre-treatment QA) bắt buộc bằng thiết bị đo liều 3D ArcCHECK kết hợp phần mềm Gamma Index. Tiêu chuẩn nghiệm thu kỹ thuật lâm sàng đối với các ca xạ trị đầu cổ có hiệu chỉnh dị ảnh phải đạt tỷ lệ Gamma Pass Rate lớn hơn hoặc bằng 98,0% với dung sai 3%/3mm và ngưỡng cut-off 10%. Timeline thực hiện: định kỳ 100% trước buổi xạ đầu tiên của bệnh nhân.

Thứ tư, tối ưu hóa kỹ thuật chụp CT mô phỏng tại phòng máy chụp. Kỹ thuật viên chẩn đoán hình ảnh và xạ trị cần hướng dẫn chi tiết người bệnh giữ cố định vị trí vòm họng, tránh cử động nuốt hoặc chuyển động cơ hàm trong suốt quá trình phát tia quét CT kéo dài 30 đến 45 giây. Kết hợp sử dụng mặt nạ nhiệt 5 điểm cố định đầu - cổ - vai có độ đàn hồi cao nhằm giảm thiểu tối đa dị ảnh do chuyển động cơ học. Timeline hoàn thiện đào tạo kỹ thuật viên: trong vòng 3 tháng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị thực tiễn và học thuật chuyên sâu, là tài liệu tham khảo thiết yếu cho 4 nhóm đối tượng sau:

  • Kỹ sư Vật lý Y khoa và Chuyên viên lập kế hoạch xạ trị (Dosimetrists): Tài liệu cung cấp hướng dẫn chi tiết từng bước về cách sử dụng công cụ FORCE ED và Image Statistics trên phần mềm Monaco để xử lý dị ảnh kim loại nha khoa. Use case điển hình là giải quyết bài toán sai lệch mật độ điện tử và tối ưu hóa ma trận liều lượng Monte Carlo cho các ca xạ trị vùng hàm mặt phức tạp.
  • Bác sĩ chuyên khoa Xạ trị Ung bướu (Radiation Oncologists): Luận văn cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng chính xác về nguy cơ tăng liều thực tế tại niêm mạc má, tuyến mang tai và xương hàm (lên tới trên 1000 cGy). Giúp bác sĩ đánh giá đúng đắn biểu đồ liều thể tích DVH, đưa ra chỉ định thể tích PTV an toàn và tiên lượng chính xác các phản ứng phụ cấp và mạn tính của bệnh nhân.
  • Kỹ thuật viên Xạ trị và Chẩn đoán hình ảnh: Hữu ích trong việc nắm bắt bản chất cơ chế tạo dị ảnh do chuyển động nuốt và hiệu ứng làm cứng chùm tia. Giúp kỹ thuật viên chuẩn hóa tư thế cố định bệnh nhân bằng mặt nạ nhiệt 5 điểm và tối ưu hóa các thông số quét kV/mAs trên máy chụp CT mô phỏng.
  • Học viên Cao học, Nghiên cứu sinh ngành Vật lý Y khoa và Kỹ thuật Hạt nhân: Luận văn là hình mẫu chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu thực nghiệm đo liều bức xạ, từ khâu thiết kế mô hình nghiên cứu, xử lý số liệu thống kê HU/ED, đến quy trình thẩm định kế hoạch điều trị bằng ma trận Gamma Index trên phantom ArcCHECK.

Câu hỏi thường gặp

Dị ảnh kim loại nha khoa làm sai lệch phân bố liều xạ trị VMAT như thế nào? Kim loại cấy ghép hấp thụ mạnh photon năng lượng thấp, gây hiệu ứng làm cứng chùm tia và tán xạ, khiến mật độ điện tử (ED) của mô mềm xung quanh bị tính toán sai lệch từ mức 1,0 lên tới 1,523 trên CT. Thuật toán Monte Carlo hiểu lầm đây là vật cản dày đặc nên tự động tăng cường mật độ chùm tia, dẫn tới liều bức xạ thực tế phát vào mô lành như niêm mạc má bị tăng vọt lên hơn 1000 cGy so với hiển thị trên kế hoạch gốc.

Chức năng FORCE ED trong phần mềm Monaco vận hành theo nguyên lý nào? FORCE ED cho phép người dùng can thiệp trực tiếp vào ma trận thể tích voxel bằng cách ghi đè thủ công giá trị mật độ điện tử thực tế lên các vùng dị ảnh. Kỹ sư sử dụng công cụ Image Statistics để đo giá trị ED trung bình của mô lành tương ứng tại các lát cắt không nhiễu (ví dụ khoang miệng là 1,041 và mô má là 0,975), sau đó gán giá trị chuẩn này vào đường bao dị ảnh để thuật toán tính toán phân bố liều chính xác.

Tại sao gán mật độ điện tử theo từng mô lại tốt hơn gán đồng nhất về nước (ED = 1,0)? Các nghiên cứu trước đây thường ép toàn bộ dị ảnh về nước (ED = 1,0; HU = 0), nhưng thực tế mô mềm khoang miệng có mật độ ED dao động từ 1,044 đến 1,061, trong khi mô mỡ má lại có ED từ 0,975 đến 1,028. Việc phân tách và gán giá trị ED thực tế cho từng cấu trúc giúp triệt tiêu sai số liều cục bộ 2% đến 3%, đảm bảo độ bao phủ PTV60 và PTV54 đạt chuẩn lâm sàng trên 95%.

Nên lựa chọn cấu hình mấy cung quay VMAT cho bệnh nhân ung thư đầu cổ có kim loại? Nghiên cứu chỉ ra rằng cấu hình 2 cung (Double Arc - DA) là tối ưu nhất. Cấu hình 1 cung (SA) có nguy cơ tạo đỉnh liều Dmax vượt ngưỡng 7700 cGy tại vùng cổ gần da, trong khi cấu hình 3 cung (TA) và 4 cung (QA) làm kéo dài thời gian chiếu xạ và tăng số đơn vị phát xạ MU. Kế hoạch DA đạt chỉ số kiểm chuẩn Gamma Pass Rate cao nhất là 98,30% với độ đồng nhất HI đạt 1,06.

Làm thế nào để kiểm chứng chất lượng kế hoạch xạ trị sau khi đã hiệu chỉnh dị ảnh? Kế hoạch sau khi tính toán trên Monaco được chuyển đổi sang kế hoạch kiểm chuẩn QA và chiếu xạ thực tế lên phantom bán dẫn 3D ArcCHECK. Dữ liệu đo đạc thực tế được so sánh với phân bố liều lý thuyết thông qua thuật toán Gamma Index. Kế hoạch đạt yêu cầu khi chỉ số Gamma Pass Rate vượt ngưỡng 95% (trong nghiên cứu này đạt 98,30%) theo tiêu chí dung sai liều 3% và khoảng cách tương đồng vị trí 3mm (3%/3mm).

Kết luận

  • Luận văn đã định lượng thành công tác động tiêu cực của dị ảnh kim loại nha khoa trên ảnh CT mô phỏng đối với kế hoạch xạ trị VMAT, chỉ ra nguy cơ sai lệch liều lượng thực tế tại mô lành lên tới hơn 1000 cGy nếu không được can thiệp.
  • Đề xuất và hoàn thiện quy trình xử lý dị ảnh thực nghiệm bằng công cụ FORCE ED trên hệ thống Monaco 5.02, hiệu chỉnh chính xác mật độ điện tử ED vùng khoang miệng về mức 1,041 và vùng má về mức 0,975 thay vì gán đồng nhất về nước như các nghiên cứu quốc tế trước đây.
  • Khôi phục hoàn toàn độ bao phủ thể tích đích với V95% của PTV60 đạt 95,22% và PTV54 đạt 95,79%, đồng thời kiểm soát liều tối đa Dmax của các cơ quan nguy cấp OAR (thân não, tủy sống, thủy tinh thể, xương hàm) nằm hoàn toàn trong ngưỡng an toàn lâm sàng.
  • Khẳng định cấu hình VMAT 2 cung (Double Arc) là lựa chọn tối ưu toàn diện về mặt phân bố liều và thời gian điều trị, nâng tỷ lệ kiểm chuẩn Gamma Pass Rate (3%/3mm) trên thiết bị ArcCHECK đạt đỉnh 98,30%.
  • Mở ra giải pháp kỹ thuật đơn giản, tiết kiệm chi phí, không đòi hỏi phần mềm tái tạo ảnh đắt tiền, có khả năng chuyển giao và áp dụng thường quy ngay lập tức tại tất cả các trung tâm xạ trị ung bướu trên toàn quốc trong vòng 3 đến 6 tháng tới. Kính mời các chuyên gia, kỹ sư vật lý y khoa và đồng nghiệp cùng tham khảo, áp dụng và đóng góp ý kiến để hoàn thiện hơn nữa quy trình xạ trị chính xác cho người bệnh.