CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHO VAY HỘ NGHÈO TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 1.1 Khái quát về Ngân hàng chính sách xã hội Giới thiệu chung về NHCSXH Việt Nam Năm 1997, Quốc hội ban hành Luật các tổ chức tín dụng, trong đó có quy định về “phát triển các ngân hàng chính sách hoạt động không vì mục đích lợi nhuận phục vụ người nghèo và các đối tượng chính sách khác, nhằm thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước”. Để triển khai thực hiện quy định trên của Luật, ngày 04/10/2002, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 78/2002/QĐ-TTg về việc thành lập Ngân hàng Chính sách xã hội trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng Phục vụ người nghèo sau khi tách khỏi Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Mô hình tổ chức quản lý điều hành của NHCSXH ở ba cấp: trung ương, cấp tỉnh và cấp huyện theo hướng tập trung sự quản lý thống nhất ở trung ương, tinh giản các khâu trung gian và tăng cường hoạt động tại các địa bàn xã, phường, thị trấn trong toàn quốc. Đến nay, ngoài Hội đồng quản trị (HĐQT) ở cấp Trung ương có 63 Ban đại diện HĐQT cấp tỉnh và 704 ban đại diện HĐQT cấp huyện với 9.098 thành viên tham gia quản trị hoạt động của NHCSXH.
Hoạt động của NHCSXH là không vì mục đích lợi nhuận. Sự ra đời của NHCSXH có vai trò rất quan trọng là cầu nối đưa chính sách tín dụng ưu đãi của Chính phủ đến với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác; tạo điều kiện cho người nghèo tiếp cận được các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; hộ nghèo và các đối tượng chính sách có điều kiện gần gũi với các cơ quan công quyền ở địa phương, giúp các cơ quan này gần dân và hiểu dân hơn. 6 Hoạt động của NHCSXH đã và đang được tiếp tục xã hội hóa, ngoài số cán bộ trong biên chế thực hiện nhiệm vụ trong hệ thống NHCSXH từ Trung ương đến tỉnh, huyện còn có sự phối hợp chặt chẽ với các tổ chức chính trị - xã hội (Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh và Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh), thực hiện nhiệm vụ ủy thác cho vay vốn thông qua trên 204 nghìn Tổ tiết kiệm và vay vốn tại khắp các thôn, bản trong cả nước, với hàng trăm nghìn cán bộ không biên chế đang sát cánh cùng Ngân hàng trong công cuộc xóa đói giảm nghèo. Chức năng, nhiệm vụ của Ngân hàng chính sách xã hội.
NHCSXH Việt Nam là một tổ chức tín dụng mà hoạt động chủ yếu là cho vay theo chính sách và kế hoạch của Nhà nước (cho vay chính sách). NHCSXH hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, được nhà nước bảo đảm khả năng thanh toán; tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng 0%; không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi; được miễn thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước. NHCSXH ra đời với mục đích tách hoạt động tín dụng chính sách ra khỏi các ngân hàng thương mại (NHTM), đồng thời thực hiện CTMTQG XĐGN, ổn định xã hội, thực hiện tín dụng ưu đãi với người nghèo và các đối tượng chính sách khác, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận với các chức năng, nhiệm vụ sau: - Tổ chức huy động vốn trong và ngoài nước có trả lãi của mọi tổ chức và tầng lớp dân cư bao gồm: tiền gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn; tổ chức huy động tiết kiệm trong cộng đồng người nghèo. - Phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, chứng chỉ tiền gửi và các giấy tờ có giá khác; vay các tổ chức tài chính, tín dụng trong và ngoài nước; vay tiết kiệm Bưu điện, bảo hiểm Xã hội Việt Nam; vay Ngân hàng Nhà nước (NHNN).
7 - Được nhận vốn đóng góp tự nguyện không tính lãi hoặc hoàn trả gốc của các cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức tài chính, tín dụng và các tổ chức chính trị - xã hội, các Hiệp hội, các tổ chức phi chính phủ trong nước và nước ngoài. - Mở tài khoản tiền gửi thanh toán cho tất cả khách hàng trong và ngoài nước. - NHCSXH thực hiện các dịch vụ ngân hàng về thanh toán và ngân quĩ, bao gồm các dịch vụ cụ thể sau: + Cung ứng các phương tiện thanh toán + Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước + Thực hiện các dịch vụ thu hộ, chi hộ bằng tiền mặt và không bằng tiền mặt +Các dịch vụ khác theo qui định của Thống đốc NHNN - Cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn phục vụ cho sản xuất kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống, nhằm góp phần thực hiện CTMTQG về XĐGN, ổn định xã hội. - Nhận làm dịch vụ uỷ thác cho vay từ các tổ chức quốc tế, quốc gia, cá nhân trong nước, ngoài nước theo hợp đồng uỷ thác.
- NHCSXH thực hiện tín dụng ưu đãi đối với: + Hộ nghèo + Học sinh, sinh viên (HSSV) có hoàn cảnh khó khăn đang học Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp và học nghề + Cho vay vốn để giải quyết việc làm theo Nghị quyết 120/HĐBT ngày 11/4/1992 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) + Các đối tượng chính sách đi lao động có thời hạn ở nước ngoài + Các tổ chức kinh tế và hộ sản xuất kinh doanh thuộc khu vực II,III, miền núi và thuộc chương trình phát triển kinh tế xã hội, các xã đặc biệt khó khăn (theo chương trình 135) + Các đối tượng khác thực hiện theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. 8 NHCSXH đã thực hiện nhiệm vụ kế hoạch được NHCSXH Việt Nam và UBND các cấp giao, đáp ứng nhu cầu vốn và các dịch vụ ngân hàng góp phần XĐGN, hỗ trợ việc làm và phát triển kinh tế xã hội trong những năm tiếp theo.2 Cho vay hộ nghèo của Ngân hàng chính sách xã hội 1. Khái niệm và đặc điểm cho vay hộ nghèo. * Khái niệm cho vay hộ nghèo: Cho vay hộ nghèo tại NHCSXH là cho vay vốn tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo nhằm phục vụ sản xuất kinh doanh, cải thiện đời sống, góp phần thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo và việc làm, đảm bảo an sinh xã hội.
* Đăc điểm cho vay hộ nghèo: - Hộ nghèo vay vốn NHCSXH là hộ có hộ khẩu thường trú hoặc có đăng ký tạm trú dài hạn tại địa phương nơi cho vay; có tên trong danh sách hộ nghèo ở xã (phường, thị trấn) sở tại theo chuẩn hộ nghèo do Bộ LĐ-TB&XH công bố từng thời kỳ. - Hộ nghèo vay vốn tại NHCSXH không phải thế chấp tài sản và được miễn lệ phí làm thủ tục vay vốn nhưng phải là thành viên tổ tiết kiệm và vay vốn, được tổ bình xét, lập thành danh sách đề nghị vay vốn có xác nhận của UBND cấp xã. - Vốn vay được sử dụng đầu tư cho hoạt động chăn nuôi, sản xuất kinh doanh, dịch vụ; làm mới và sửa chữa nhà ở; điện sinh hoạt; xây dựng các công trình nước sạch; giải quyết một phần nhu cầu thiết yếu về chi phí học tập cho học sinh. 9 - Lãi suất cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo do Thủ tướng Chính phủ quyết định cho từng thời kỳ, thống nhất một mức trong phạm vi cả nước.
- Mức cho vay đối với từng hộ nghèo được xác định căn cứ vào: nhu cầu vay vốn, vốn tự có và khả năng trả nợ của hộ vay. - Thời hạn vay vốn đối với hộ nghèo phù hợp với đối tượng và thời gian luân chuyển của chu kỳ sản xuất, kinh doanh và được cho vay nhiều lần cho đến khi thoát nghèo. - NHCSXH thực hiện ủy thác cho 04 tổ chức chính trị - xã hội thực hiện một số nội dung công việc trong quy trình cho vay vốn hộ nghèo, trong đó có việc thành lập và quản lý Tổ tiết kiệm và vay vốn. NHCSXH tổ chức giải ngân, thu nợ trực tiếp đến từng người vay tại các điểm giao dịch xã và tổ chức hạch toán, theo dõi nợ vay đến từng người vay.
Vai trò của cho vay hộ nghèo. NHCSXH có vai trò quan trọng đối với hộ nghèo. Nó được coi là công cụ quan trọng để phá vỡ vòng luẩn quẩn của thu nhập thấp, tiết kiệm thấp và năng suất thấp, là chìa khoá vàng để giảm nghèo. Vai trò của tín dụng NHCSXH được thể hiện ở một số nội dung sau: - Cung cấp vốn tín dụng, góp phần cải thiện thị trường tài chính cộng đồng, nơi có hộ nghèo sinh sống: Vốn tín dụng cho hộ nghèo đã góp phần cải thiện tình hình thị trường tài chính khu vực nông thôn, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, vùng có nhiều đồng bào dân tộc ít người sinh sống.
Trong ba yếu tố cơ bản để hộ nghèo có điều kiện sản xuất kinh doanh; đó là vốn bằng tiền hoặc đất đai, lao động và kỹ thuật; trong đó, vốn bằng tiền đóng vai trò quan trọng nhất vì nếu có vốn bằng tiền, thì người sản xuất có thể mua sắm các tư liệu sản xuất 10 khác, kể cả đất đai. Hiện nay, tích luỹ của người nghèo ở nước ta rất thấp, do đó hầu như các hộ nghèo đều thiếu vốn để sản xuất kinh doanh. Nhờ nguồn vốn của ngân hàng mà các hộ nghèo có điều kiện tiếp cận được khoa học kỹ thuật, công nghệ mới như các giống cây, con mới, kỹ thuật canh tác mới và cũng nhờ vay vốn, mà hộ nghèo tiếp cận được với công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư. - Tín dụng ngân hàng làm giảm tệ nạn cho vay nặng lãi: Tệ nạn cho vay nặng lãi đã có từ lâu đời nay, hiện nay vẫn đang tồn tại khá nặng nề ở nông thôn, nhất là vùng cao, vùng sâu, vùng xa.
Cho vay nặng lãi thể hiện ở lãi suất cao hơn nhiều so với lãi suất cho vay của ngân hàng hoặc dưới dạng mua bán sản phẩm non như lúa non, lạc non, mía non…ở thời kỳ giáp hạt. Do nhu cầu cấp bách (thường là do đói kém, ốm đau bệnh tật, chi phí con đi học hoặc nhu cầu đột xuất), nên họ phải vay nặng lãi. Tín dụng nặng lãi gây nhiều tác hại cho người dân, đặc biệt là hộ nghèo, làm cho hộ nghèo càng nghèo thêm. Chính hoạt động cho vay đối với hộ nghèo của NHCSXH đã trực tiếp làm giảm tệ nạn cho vay nặng lãi.