Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1.1 Các khái niệm - Nghi lễ Theo Tylor nghi lễ là “Phương tiện giao tiếp với những thực thể linh hồn”[33, tr.A Radugin – nhà văn hóa học người Nga cho rằng nghi lễ xuất hiện “nhằm thể hiện mối quan hệ hữu hiệu giữa cuộc sống thường ngày với siêu nhiên (linh hồn tổ tiên, thần thánh, ma quỷ, số phận v. Nghi lễ được truyền lại không chỉ trong tôn giáo mà đi vào cả cuộc sống thường ngày, đặc biệt là trong nền văn hóa dân gian truyền thống” [34, tr. Từ điển tiếng Việt cũng định nghĩa nghi lễ là “những hoạt động mang tính truyền thống được thực hiện tại những thời điểm quan trọng trong đời sống và trong hoạt động sản xuất của con người” [35, tr. Không chỉ đạo Công giáo mà bất cứ tôn giáo nào cũng đều có những nghi lễ riêng của mình, nghi lễ đóng vai trò quan trọng là phần không thể thiếu được trong đời đạo của tín đồ.
Thông qua việc thực hành nghi lễ, các tín đồ thể sự tôn kính, niềm tin vào tôn giáo đồng thời gửi gắm những mong mỏi, nguyện vọng của mình, cầu xin cho gia đình hạnh phúc an vui. - Lễ hội tôn giáo Lễ hội các tôn giáo thường là lễ - nghi lễ - ít hoặc không có hội, như ngày lễ của đạo Thiên Chúa, đạo Phật, đạo Cao Đài, tín ngưỡng thờ Mẫu và tứ phủ.Loại lễ hội này do các tôn giáo tổ chức [31, tr. Người đứng đầu các tôn giáo sẽ đứng ra chủ trì và huy động tín đồ tham dự lễ. Nội dung chính của lễ hội tôn giáo liên quan đến sự tích về các nhân vật do tôn giáo đó thờ phụng.
Xuất phát từ đức tin vào những biểu tượng thiêng, cõi thiêng của tôn giáo các 13 tín đồ đã đóng góp tiền của, công sức tạo một lễ hội truyền tải đầy đủ ý nghĩa cả về nội dung lẫn hình thức. Lễ hội được tổ chức không chỉ thỏa mãn nhu cầu tâm linh mà còn đáp ứng nhu cầu giao lưu, vui chơi của mọi người. Lễ hội Công giáo thể hiện sự đồng nhất trong các chủ đề trang trí bày biện và trang phục lễ hội tạo nên nét đặc sắc trong các lễ hội của người Công giáo. Ngày nay nhiều lễ hội đã mở rộng ra ngoài, không còn giới hạn cho tín đồ trong đạo mà cả những người ngoại đạo cũng có thể tham gia vào các hoạt động sinh hoạt lễ.
Chẳng hạn như Phật đản, lễ Vu Lan báo hiếu, lễ Giáng sinh đây là những ngày lễ phát xuất từ tôn giáo nhưng lại thu hút đông đảo các tầng lớp xã hội tham gia. - Đạo Công giáo Công giáo là một trong những tôn giáo lớn trên thế giới truyền vào Việt Nam từ những thập nhiên đầu của thế kỉ XVI [21, tr. Người đứng đầu Giáo hội là Giáo hoàng. Giáo hoàng do Mật tuyển viện (gồm các Hồng y có quyền bầu cử) bầu ra.
Giáo hoàng có ba nhiệm vụ: Giám mục giáo phận Roma, chủ chăn của giáo hội phổ quát, quốc trưởng nước Vactican. Giúp Giáo hoàng quản lí giáo hội toàn cầu có giáo triều Roma. Người trực tiếp chịu trách nhiệm trên giáo hội ở các địa phương là Giám mục. Giám mục có một số Linh mục.
Các Linh mục này sẽ được Giám mục gửi tới các nơi trong lãnh thổ của giáo phận. Những nơi này được gọi là giáo xứ [20, tr. Sinh hoạt tôn giáo với Thánh lễ diễn ra vào các ngày chủ nhật và bốn lễ lớn trong năm. Bốn lễ lớn trong năm gọi là tứ quý gồm lễ Giáng sinh, lễ Phục sinh (sống lại), lễ Chúa lên trời (Thăng thiên) và lễ Hiện xuống [4, tr.
Khi tham dự vào các ngày lễ hội, người Công giáo luôn ý thức việc thực hành các nghi lễ đúng chuẩn mực mà Giáo Hội Công giáo quy định nhưng đồng thời trên tinh thần tiếp thu cái hay, cái đẹp của các lễ hội để trau dồi và hoàn thiện bản thân mình trong lối ứng xử với mọi người. 14 - Lễ Giáng sinh Lễ Giáng sinh là lễ kỉ niệm Chúa Giê Su ra đời. Giáng sinh còn được gọi là vì là lễ lớn nên Giáng sinh được tổ chức hết sức long trọng trên khắp thế giới. Trước Giáng sinh là mùa Vọng.
Mùa Vọng còn được gọi là mùa chờ đợi hay thời chờ đợi, cũng gọi là mùa Áp [19, tr. Mùa vọng thường bắt đầu vào 4 tuần trước Giáng sinh, trong tháng này các tín đồ sẽ đi xưng tội, tham gia các buổi tĩnh tâm ở nhà thờ để chuẩn bị cho mình một tâm hồn thật trong sạch và tràn trề niềm hy vọng, hân hoan hướng tới Giáng sinh. Mọi khâu chuẩn bị đều được làm hết sức kĩ lưỡng trong bốn tuần của mùa vọng để cộng đồng tín hữu có thể đón một mùa Giáng sinh thật an lành. Hệ thống các nghi lễ Công giáo được thực hành thường xuyên trở thành nề nếp trong đời sống đạo của các tín đồ.
Các ngày lễ trải đều quanh năm với nhiều hoạt động giúp tín đồ gắn kết với đạo nhiều hơn.Việc tổ chức lễ hội của người Công giáo trước đây chỉ diễn ra trong nội bộ mang tính chất cộng đồng tự quản thì bây giờ thông qua các phương tiện thông tin đại chúng các lễ hội Công giáo đặc biệt là Lễ Giáng sinh đã ngày càng thu hút nhiều đối tượng tham dự và được sự hỗ trợ của cả chính quyền địa phương giúp bà con Công giáo và những người đến vui chơi lễ được thoải mái và an toàn trong suốt thời điểm diễn ra lễ.2 Đặc điểm của lễ Giáng sinh Lễ Giáng sinh được tổ chức phổ biến ở giáo hội phương Tây vào cuối thế kỉ IV. Đến thế kỉ thứ V các giáo hội Đông phương mới nhận ngày này. Lễ chính được cử hành vào đêm 24 rạng ngày 25 [19, tr. Giáng sinh trước hết là lễ thiêng, là thời điểm để thể hiện đức tin, sự tôn kính của các tín đồ Công giáo đối với Chúa và cầu mong Chúa sẽ che chở mang đến bình an và những điều tốt đẹp đến với đời sống của tín đồ.
Ngoài ra Giáng sinh còn mang tính cố kết cộng đồng, đến tháng 12 hằng năm các tín đồ Công 15 giáo trên thế giới nói chung và tín đồ Công giáo Việt Nam nói riêng đều hướng về Giáng sinh, tham gia các hoạt động được tổ chức trong khuông khổ mùa lễ như trang trí đường phố, trang trí trong gia đình, nhà thờ, tham dự Thánh lễ… Những người ngoài đạo cũng tham gia các hoạt động vui chơi dịp Giáng sinh như một lễ hội góp phần tăng thêm tình đoàn kết giữa đạo và đời. Giáng sinh vừa thể hiện sự tôn nghiêm trong các nghi thức Thánh lễ vừa là cơ hội để vui chơi, đoàn tụ bên gia đình. So với những ngày lễ khác như lễ Phục Sinh hay lễ Thăng Thiên thì Giáng sinh được nhiều người biết đến hơn, quy mô ngày lễ cũng lan rộng ra xã hội được nhiều người đón nhận và cùng tham dự. Các ngày lễ còn lại thường chỉ nằm trong không gian của đạo được các tín đồ thực hành chứ không phát triển ra bên ngoài như Giáng sinh.3 Lý thuyết nghiên cứu Trong luận văn chúng tôi áp dụng ba lý thuyết chính phục vụ cho quá trình nghiên cứu, lý thuyết Tương đối văn hóa với quan điểm của Nhân học văn hóa Mỹ, lý thuyết biến đổi văn hóa với quan điểm của nhà xã hội học Max Weber, C.Mác và thuyết Toàn cầu hóa cùng với quan điểm của nhà xã hội học Anh.
- Thuyết tương đối văn hóa (cultural relativism) Là một cách tiếp cận trong ngành Nhân học văn hóa được ra đời bởi Franz Boas và các học trò. Lý thuyết Tương đối văn hoá thừa nhận sự bình đẳng giữa các nền văn hoá, không có nền văn hoá nào tốt hay xấu, cao hay thấp. Mỗi nền văn hoá là thể hiện sự đa dạng của nền văn hoá nhân loại và chúng ta nên trân trọng sự khác biệt ấy [13, tr. Theo luận điểm của Ruth Benedicd một nhà nhân học Mỹ thì một nét văn hóa ở hai nền văn hóa khác nhau với hai tổng thể hình thái văn hóa khác nhau, giá trị văn hóa khác nhau thì nét văn hóa ấy sẽ được thể hiện một cách phù hợp nhất với nền văn hóa mà nó tiếp cận.
Vào những thập niên đầu thế kỷ 16 XX thuyết Tương đối văn hóa có ảnh hưởng quan trọng đến tư duy người phương Tây trong việc nhìn nhận văn hóa tôn giáo khác với phương Tây. Vận dụng quan điểm của Tương đối văn hóa chúng tôi giải thích cho sự thay đổi của lễ Giáng sinh tại Việt Nam. Việt Nam và Phương Tây là hai nền văn hóa khác xa nhau. Lễ Giáng sinh ở Phương Tây biểu hiện khác nhưng khi vào Việt Nam có sự pha trộn với văn hóa con người bản địa nên Giáng sinh cũng có sự thay đổi.
Trong quá trình tiếp xúc Đông Tây các tín đồ đã tiếp nhận đầy đủ các hình thức, nghi thức tổ chức và ý nghĩa của lễ Giáng sinh nhưng không phải tiếp nhận thụ động mà theo thời gian tín đồ đã đưa các đặc trưng của người Việt vào để ngày lễ hài hòa hơn với văn hóa dân tộc. Lý thuyết Tương đối văn hóa cũng giúp chúng tôi lý giải sự chuyển biến trong cách nhìn nhận của Giáo hội Công giáo với văn hóa bản địa ở các xứ đạo, Công giáo muốn phát triển thì phải có sự tôn trọng với nơi mình đặt chân đến đặc biệt phải tôn trọng văn hóa của họ. Bên cạnh đó còn lý giải chuyển biến trong tâm lý người dân Việt Nam trong việc bỏ qua sự kì thị từ những hiểu lầm trong quá khứ mà mở lòng đón nhận cái mới, cái hay từ bên ngoài. - Lý thuyết toàn cầu hóa Anthony Giddens là nhà xã hội học nổi tiếng người Anh.
Theo Giddens toàn cầu hóa là quá trình đã bắt đầu rất lâu trong lịch sử loài người, chứ không chỉ giới hạn trong xã hội đương đại. Cũng theo Giddens các nhân tố tạo nên toàn cầu hóa phải kể đến như sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông, kinh tế, những biến đổi chính trị. Toàn cầu hóa là xu hướng hiển nhiên trong chiều hướng phát triển trên mọi lĩnh vực từ kinh tế đến văn hóa xã hội. Trong đó ảnh hưởng của toàn cầu hóa thúc đẩy sự giao thoa văn hóa giữa khu vực và các quốc gia, tạo ra sự thay đổi trên diện rộng.
Các đặc trưng và nét đẹp từ văn hóa của mỗi quốc gia được thế giới biết đến nhiều hơn, con người cởi mở hơn khi chia sẻ cái hay cái đẹp 17 của nước mình.