Chương I. Về quan hệ của tổ chức thực hiện Nghị quyết của Đảng và thong tin khoa học. Chương này tập trung làm rõ một số vấn đề khái niệm về tổ chức thực hiện Nghị quyết của Đảng nói chung và xét trên quan điểm thông tin học, nói riêng; phân tích vai trò của thông tin khoa học đối với quá trình thực hiện Nghị quyết của Đảng. Chương ll.
Thực trạng mốt quan hệ giữa thông tin khoa học với việc tổ chức thực hiện Nghị quyết của Đảng những năm qua. Trong chương này, đề tài phân tích những đóng góp quan trọng của thông tin khoa học trong quá trình tổ chức thực hiện Nghị quyết của Đảng: trong truyền đạt, phổ biến và quán triệt nghị quyết, trong việc cụ thể hoá nghị quyết, thực hiện nghị quyết, trong công tác cán bộ, công tác kiểm tra và tổng kết thực tiễn thực hiện nghị quyết. Đồng thời trong chương này cũng thử tìm 7 hiểu những tổn tại của mối quan hệ giữa thông tin khoa học với việc tổ chức thực hiện Nghị quyết của Đảng hiện nay. Chương II.
Mộ: số giải pháp và kiến nghị nhằm ddm bảo cho thông tin khoa học phục vụ có hiệu quả việc tổ chức thực hiện Nghị quyết của Đảng , Trên cơ sở phân tích những tồn tại ở chương II, dé tài nêu một số giải pháp và kiến nghị về hoạt động thông tin như: chất lượng, cán bộ, cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ chế v., nhằm khắc phục những tồn tại đã nêu, phát huy vai trò của thông tin khoa học trong tổ chức thực hiện Nghị quyết của Đảng. Sản phẩm của đê tài gồm có: - Kỷ yếu đề tài: gồm các bài viết của cộng tác viên và danh mục một số tài liệu tham khảo. - Báo cáo tổng quan của đề tài - Bản đề xuất và kiến nghị - Báo cáo tóm tắt kết quả nghiên cứu đề tài. - Đĩa mềm chứa các nội dung trên.
Cơ quan chủ trì và ban chủ nhiệm để tài xin chân thành cảm ơn Vụ Quản lý khoa học - cơ quan quản lý, một số nhà khoa học, các cán bộ của Viện Thông tin khoa học đã quan tâm nhiệt tình giúp đỡ chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài này. CHUONG | VỀ QUAN HE CUA T6 CHUC THUC HIEN NGHI QUYET DANG _ VA THONG TIN KHOA HOC 4. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 1. Khới niệm " Nghị quyết Đỏng" và vơi trò của nó trong sự lõnh đọo của Đỏng * Về khái niệm “Nghị quyết của đẳng” "Nghị quyết" là văn bản quyết định về những vấn dé cơ bản sau khi được hội nghị thảo luận và nhất trí thông qua.
Nghị quyết bao giờ cũng gắn với một tổ chức nhất định nào đó, ta có: nghị quyết của Đảng; nghị quyết của Nhà nước; nghị quyết của các đoàn thể nhân dân; nghị quyết của các tổ chức xã hội, nghề nghiệp. Trong phạm vi để tài này chúng tôi chỉ bàn đến nghị quyết của Đảng. Nghị quyết Đảng gồm nhiều loại: nghị quyết của tổ chức đảng ở cơ sở, địa phương, ngành, cơ quan, đơn vị, chẳng hạn như: nghị quyết của chỉ bộ, của đảng bộ; nghị quyết của dang uỷ, của ban thường vụ đảng uỷ. Những Nghị quyết này thường được gắn với tên chi bộ, đảng bộ, với thứ tự từng cuộc họp để ra nghị quyết, gắn với vấn đề nghị quyết đó giải quyết và với nhiệm kỳ cấp uỷ.
Ví dụ, nghị quyết Hội nghị lần thứ năm, khoá XI tỉnh uỷ tỉnh A về phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới., Những Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng, của Bộ Chính trị v. được gắn với thứ tự các cuộc họp Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, gắn với vấn dé giải quyết và nhiệm kỳ đại hội. Ví dụ: Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá VII) về một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng, v. Có Nghị quyết đại hội toàn thể đảng viên, có nghị quyết đại hội đại biểu của đảng bộ, của toàn thể đảng bộ.
Có Nghị quyết giải quyết nhiều 9 vấn đề trong một thời gian nhất định, ở một địa phương nhất định. Song, cũng có nghị quyết chỉ giải quyết một vấn để như: kết nạp đảng viên, kỷ luật đẳng viên và tổ chức đảng, đưa người không đủ tư cách ra khỏi Đảng v. Tất cả những Nghị quyết của các tổ chức đảng hay của Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị đều là quyết định tập thể của tổ chức đảng đó, được thông qua trên cơ sở thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, khi được thông qua phải đảm bảo quá nửa các thành viên của tổ chức đảng đó tán thành. Tuy nhiên, tuỳ theo từng loại nghị quyết và vấn đề phải giải quyết, Đảng đã qui định cụ thể tỷ lệ số ý kiến tán thành nghị quyết tối thiểu để nghị quyết được thông qua.
Ví dụ: nghị quyết về khai trừ đảng viên ra khỏi Đảng và giải tán một tổ chức đảng phải được quá 2/3 số thành viên của tổ chức đảng có thẩm quyền tán thành. Nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, nghị quyết các kỳ họp Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, có giá trị trong toàn Đảng và toàn quốc. Nghị quyết của cấp uỷ địa phương, ngành. có giá trị trong địa phương, ngành đó.
Song, cũng có nghị quyết tuy là của Ban chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị giải quyết một hoặc nhiều vấn để ở một ngành, một địa phương thì có giá trị trong ngành, địa phương đó. Ví dụ: Nghị quyết của Bộ Chính trị về Thủ đô Hà Nội, hoặc vẻ thành phố Hồ Chí Minh. Nhu vậy, từ những điều trình bày ở trên có thể nói rằng, Nghị quyết của Đảng là quyết nghị được bàn bạc, thảo luận một cách dân chủ trong tổ chức đảng có thẩm quyên ra nghị quyết và được đa số thành viên tán thành. Đó là những quyết nghị về giải quyết một hay nhiều vấn đề trong hoạt động xây dựng nội bộ Đảng và hoạt động lãnh đạo của Đảng đối với đời sống xã hội, đối với các tổ chức trong hệ thống chính trị.
có giá trị trong không gian và thời gian nhất định và không trái với đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. ~ * Vai trò của Nghị quyết Đảng trong sự lãnh đạo của Đảng Khi Đảng đã trở thành lực lượng lãnh đạo chính trị đối với toàn xã hội, thì các nghị quyết của Đảng trở thành cơ sở cho mọi quyết định, chủ trương 10 của chính quyển các cấp. Mọi nghị quyết của Đảng đều tác động đến đời sống của nhân dân, tới tương lai, hạnh phúc của họ. Mọi nghị quyết của Đảng đều nhầm giải quyết những vấn đề cụ thể do thực tiễn đặt ra.
Việc phát hiện, giải quyết đúng đắn và kịp thời, có hiệu quả những vấn đề do thực tiễn cách mạng đặt ra góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội theo đúng quy luật khách quan. Sứ mệnh của nghị quyết Đảng không chỉ là giải thích hiện thực đúng như nó tồn tại, mà là ở vai trò cách mạng hoá hiện thực trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trên con đường cách mạng đó có muôn vàn khó khăn, trở ngại và thách thức, Đảng lãnh đạo thông qua đường lối, nghị quyết của mình, phát huy tỉnh thần cách mạng tiến công, tỉnh thần tự lực tự cường của nhân dân để vượt qua, giành lấy ấm no, hạnh phúc cho mình. Tóm lại, Nghị quyết là một trong những công cụ lãnh đạo cơ bản nhất của một đảng cầm quyền.
Khới niệm "tổ chức †hực hiện Nghị quyết của Đảng" Vò vơi †rò của nó. * Khái niệm 'tổ chức thực hiện Nghị quyết của Đảng" Theo đại.từ điển tiếng Việt, "Tổ chức" có hai nghĩa chính. Nghĩa thứ nhất (là động từ): "Tổ chức" là sắp xếp, bố trí thành các bộ phận để cùng thực hiện một nhiệm vụ hoặc cùng một chức năng chung; sắp xếp, bố trí để làm _cho có trật tự, nền nếp; tiến hành một công việc theo cách thức, trình tự nào đó. Nghĩa thứ hai (là danh từ): "Tổ chức" là tập hợp người được tổ chức theo cơ cấu nhất định, để hoạt động vì lợi ích chung; tổ chức chính trị, xã hội với cơ cấu và kỷ luật chặt ché!.
Trong chuyên để này, khái niệm "tổ chức" được dùng theo nghĩa thứ nhất, tức là tiến hành một công việc theo cách thức, trình tự nào đó. Tuy nhiên, định nghĩa đó là những điều chung nhất, và còn nặng nói về cách thức ! Đại từ điển tiếng Việt. Nguyễn Như Ý (chủ biên), Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội 1999; tr. Việc tổ chức thực hiện Nghị quyết của Đảng còn nhiều nội dung phải bàn tới như: việc cụ thể hoá nghị quyết; phổ biến truyền đạt nghị quyết; phân công cán bộ phụ trách từng công việc; phát động phong trào cách mạng của quần chúng; kiểm tra việc thực hiện nghị quyết; sơ kết, tổng kết rút ra những bài học kinh nghiệm.
Có thể nói rằng, “íổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng" là toàn bộ những biện pháp, cách thức, trình tự tiến hành công việc mè cấp ủy, tổ chức đảng sử dụng để biến nghị quyết của Đảng thành hiện thực trong đời sống xã hội”. * Vai trò của tổ chức thực hiện Nghị quyết Đảng trong sự lãnh đạo của Đảng Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy rằng, lãnh đạo đúng nghĩa là: phải quyết định mọi vấn đề một cách cho đúng; phải tổ chức sự thi hành cho đúng; phải tổ chức sự kiểm soát?. Đây là ba yếu tố cơ bản, quan hệ biện chứng với nhau tạo nên sự lãnh đạo đúng đán của Đảng. ˆ Nghị quyết đúng đấn của Đảng là điều kiện quan trọng hàng đầu để tổ chức thực hiện thắng lợi Nghị quyết, biến nghị quyết của Đảng thành hiện thực sinh động trong đời sống xã hội.
Đó cũng là điều kiện, là cơ sở để tiến hành công tác kiểm tra việc thực hiện nghị quyết của Đảng. Ngược lại công tác kiểm tra cũng có tác dụng to lớn đối với quá trình tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng. Qua kiểm tra sẽ chỉ ra những ưu điểm, khuyết điểm, thiếu sót và những vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện nghị quyết, để có biện pháp thực hiện thắng lợi nghị quyết. Đồng thời qua công tác kiểm tra sẽ phát hiện những nhân tố mới, tạo điều kiện cho nó phát triển.
Kiểm tra việc thực hiện nghị quyết sẽ khẳng định những điểm đúng đắn của nghị quyết, phát hiện những điều chưa hợp lý để sửa đổi, bổ sung cho nghị quyết đúng đắn, hoàn chỉnh hơn.