mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo: CHƯƠNG MỘT: Một số vấn đề lý luận chung về kiện toàn tổ chức bộ máy đẳng trong điều kiện hiện nay. Một số khái niệm cơ bản 2. Những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về tổ chức bộ máy của Đảng Cộng sản 3. Những yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới đòi hỏi phải kiện toàn tổ chức, bộ máy đảng.
CHƯƠNG HAI: Thực trạng về kiện toàn hệ thống tổ chức, bộ máy dang. Thực trạng về thực hiện các nguyên tắc xây dựng và kiện toàn hệ thống tổ chức, bộ máy của Đảng 2. Kiện toàn cơ quan lãnh đạo và bộ máy tham mưu giúp việc của Đảng ở các cấp 3. Thực trạng về kiện toàn tổ chức Đảng ở các cơ quan Nhà nước, mặt trận và các đoàn thể 4.
Thực trạng về kiện toàn tổ chức Đảng trong các doanh nghiệp CHƯƠNG BA: Những căn cứ và kiến nghị về giải pháp kiện toàn tổ chức, bộ máy đảng trong điều kiện mới 1. Những căn cứ kiện toàn tổ chức bộ máy của Đảng trong điều kiện mới 2. Một số kiến nghị về kiện toàn tổ chức. bộ máy của Đảng trong điều kiện mới * * * Nghiên cứu để xây đựng được tổ chức, bộ máy của Đảng cộng sản Việt Nam thật sự hợp lý và khoa học là một vấn đề rất khó, nhưng nó luôn luôn được đặt ra để Đảng kiện toàn.
điều chỉnh, đổi mới cho phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong mỗi thời kỳ cách mạng cụ thể. Song, do không có mẫu hình có sẵn, việc mầy mò, xây dựng không phải là đễ dàng. Mặt khác, đòi hỏi của nhiệm vụ cách mạng lúc nào cũng yêu cầu tổ chức, bộ máy đảng phải đáp ứng nhiệm vụ được giao, vì vậy, vốn đã khó. càng khó khăn thêm gấp bội.
Trong quá trình thực hiện việc nghiên cứu này, Ban chủ nhiệm đề tài đã có nhiều cố gắng để kế thừa, tổng hợp, hệ thống và rút ra những vấn đề mới nhằm đề xuất với Đảng những căn cứ khoa học và những kiến nghị về giải pháp cụ thể thực hiện đổi mới, sắp xếp tổ chức, bộ máy cho phù hợp. Nhưng do khả năng của tập thể cán bộ nghiên cứu có hạn; điều kiện nghiên cứu hạn chế về thời gian, tài liệu lưu trữ còn thiếu, vì vậy không thể tránh khỏi những thiếu sót. Trong quá trình nghiên cứu, đề tài đã được Ban chủ nhiệm chương trình, nhiều cán bộ tổ chức quản lý, các nhà khoa học và các tổ chức trong cơ quan Đảng, Nhà nước tham gia ý kiến, góp ý, sửa chữa, bổ sung vào bản Báo cáo tổng quan. Ban chủ nhiệm đề tài chân thành cảm ơn tất cả các tổ chức, cá nhân các -_ nhà khoa học; các cán-bộ nghiên cứu, chuyên gia, các Ban tổ chức tỉnh, thành thành công của đề tài.
BAN CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI KX 03 - 05 = ' NỘI DUNG ĐỀ TÀI oR CHUGNG MOT MOT SO VAN DE LY LUAN CHUNG VE KIEN TOAN TO CHUC BO MAY DANG TRONG DIEU KIEN HIEN NAY 1. MOT SO KHAI NIEM CO BAN 1.1 Tổ chức chính trị và Đảng chính trị Xã hội loài người khi xuất hiện chế độ tư hữu, và xuất hiện giai cấp. Sự phân hoá xã hội thành các nhóm giầu, nghèo, các giai tầng có địa vị xã hội khác nhau, có lợi ích không giống nhau, cũng là khi hình thành các lực lượng chính trị - xã hội khác nhau. Để đấu tranh, bảo vệ, củng cố lợi ích của mình, mỗi nhóm xã hội, mỗi giai tầng, mỗi lực lượng chính trị đã thiết lập các tổ chức chính trị, các thiết chế chính trị khác nhau.
Các tổ chức chính trị luôn đấu tranh, hợp tác với nhau trên cơ sở lợi ích, vì sự tồn tại và phát triển của lực lượng chính trị - xã hội mà họ đại diện, đồng thời vì sự tổn tại và phát triển của xã hội. Ngoài ra, trong xã hội cũng tồn tại nhiều loại tổ chức phi nhà nước, phi chính trị, các tổ chức xã hội mang sắc thái chính trị. Do vậy, để hiểu khái niệm ứổ chức chính trị trước hết phải làm rõ khái niệm tổ chức và chính trị. Theo Từ điển tiếng Việt thì: Tổ chức (với chức năng động từ) các nghĩa: 1.
Làm cho thành một chỉnh thể, có một cấu tạo, một cấu trúc và những chức năng chung nhất định; 2. Làm cho thành có trật tự, rể nếp; 3. Làm những gì cần thiết để tiến hành một hoạt động nào đó nhằm có được hiệu quả tốt nhất; 4. Làm công tác tổ 10 chức của cơ quan và công tác cán bộ; tổ chức cán bộ; 5.
Đưa vào, kết nạp vào một tổ chức nào đó. Tổ chức (với chức năng danh từ) có các nghĩa: 1. Tập hợp người được tổ chức lại, hoạt động vì những quyền lợi chung, nhằm một mục đích chung; 2. Tổ chức chính trị - xã hội có kỷ luật chặt chế trong quan hệ với các thành viên của nó.
Như vậy cả hai cách định nghĩa đều chung một khái niệm: tổ chức là hình thức, phương pháp hoạt động liên hợp của con người, là phương thức tồn tại của xã hội. Nó có nguồn gốc từ bản chất mang tính hệ thống của xã hội, từ nhu cầu khách quan và hoạt động liên hợp của con người; đồng thòr là hình - thức tồn tại khách quan trong những điều kiện lịch sử cụ thể. Tổ chức là một trong những hoạt động có ý thức của con người với nội dung là xác lập các mối quan hệ trong những thể chế nhất định, nhằm duy trì tính trật tự và để đạt hiệu quả, mục đích mong muốn. Một tổ chức chỉ tồn tại và hoạt động có hiệu quả khi nó phù hợp với những điều kiện khách quan và phục vụ cho mục tiêu chính trị nhất định.
Vậy chính trị là gi? Theo Lênin. chính trị là :ham gia công việc nhà nước, là chỉ đạo Nhà - nước, là xác định những hình thức, những nhiệm vụ và nội dung hoạt động của Nhà nước. Chính trị là biểu hiện của những lợi ích căn bản của các giai cấp và của các mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các giai cấp trong xã hội. Chính trị của mỗi giai cấp được quy định bởi địa vị kinh tế - xã hội của giai cấp đó trong xã hội; là “biểu hiện tập trung của kinh tế”; song, “chính trị khỏng thể không giữ địa vị ưu tiên so với kinh tế”.
Do vậy, các tư tưởng chính trị và các tổ chức thích ứng với tư tưởng đó là kiến trúc thượng tầng của cơ sở kinh tế. Sự thay đổi và phát triển của cơ sở kinh tế trong xã hội sẽ quyết định sự thay. đổi và phát triển của các tổ chức chính trị, của Nhà nước. Song Trặt khác, bản chất, đặc điểm của các tổ chức chính trị (nhất là các tổ chức chính trị đóng vai trò chi phối Nhà nước), của Nhà nước cũng có những tác động nhất định tới sự phát triển của kinh tế trên cả hai mặt, tích cực và tiêu cực.
? Từ điển Tiếng Việt ~ Trung tâm từ điển ngôn ngữ - Hà Nội — Việt Nam - 1992 ll Từ khái niệm trên, chúng ta có thể đưa ra một số đặc điểm của tổ chức chính trị như sau: - Là tổ chức của những nhóm, tập đoàn hay giai cấp có cùng một lợi ích, mục tiêu. - Được tổ chức chặt chẽ, có cấu trúc, chức năng và nhiệm vụ nhất định. - Hoạt động trong Tĩnh vực chính trị hoặc các nội dung có liên quan đến Tĩnh vực chính trị nhằm bảo vệ lợi ích, mục tiêu chung. - Trong xã hội có nhiều hình thức tổ chức chính trị khác nhau dựa trên những cơ sở lợi ích khác nhau, vì lợi ích, nên các quan hệ lợi ích luôn được coi là cơ sở tồn tại của tổ chức đó.
Tuy nhiên, trong một xã hội cụ thể luôn có một hay một nhóm các tổ chức chính trị có ảnh hưởng chính, quyết định xu hướng vận động của xã hội; quyết định bản chất, chức năng và đặc điểm của hệ thống chính trị trong xã hội. Đây là tổ chức hoặc nhóm tổ chức đại điện cho giai cấp thống trị trong xã hội; và khi còn tồn tại, cho dù ở giai đoạn cuối trước khi tan rã của chúng, thì ở một chừng mực nhất định nào đó, giai cấp này vẫn đạt diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến của xã hội, thiết lập nên tổ chức của đảng chính trị. “Đảng chính rrï° là “bộ phận tích cực nhất và có tổ chức của một giai cấp, làm công cụ đấu tranh cho lợi ích của giai cấp mình”. Các đảng chính trị xuất hiện ngay từ những giai đoạn phát triển đầu tiên của xã hội có giai cấp, gắn liền với những sự khác nhau về lợi ích của các giai cấp và của các tập đoàn hợp thành giai cấp.
Tuy nhiên, lịch sử thực sự của các đảng chính trị chỉ bất đầu từ thời kỳ Đại cách mạng tư sản Pháp (cuối thế kỷ 18); và chỉ từ sau giai đoạn này, các tính chất, nội dung và đặc điểm của các đảng chính trị mới bắt đầu dân được cụ thể hoá. Ngày nay, trong xã hội hiện đại, tương ứng với cơ cấu giai cấp của nó có nhiều loại đảng chính trị phản ánh lợi ích của các nhóm khác nhau trong xã hội, như đảng tư sản, đảng vô sản, dang địa chủ, đẳng nông dân, đảng tiểu tư sản. Trong thực tiễn, do có sự 12 tương đồng về lợi ích hoặc do nhu cầu tập trung lực lượng đã hình thành những đảng phản ánh lợi ích của một liên minh giai cấp, liên minh giai cấp - tầng lớp (như đảng tư sản - địa chủ. Ở các quốc gia có nhiều dân tộc, các đảng thường có màu sắc đân tộc và trong cương lĩnh, điều lệ, mục tiêu của chúng thường chứa đựng các nội dung mang tính dân tộc làm cơ sở cho sự đoàn kết trong đảng.
Tuy nhiên, trong mọi trường hợp thì cơ sở của các đẳng vẫn dựa trên và phản ánh lợi ích giai cấp, thực thi các mục tiêu nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp mà nó đại diện. Đặc điểm chung của các đảng chính trị là một tổ chức xã hội mang tính tự nguyện, là liên minh của những người cùng tư tưởng, cùng chí hướng, theo đuổi những mục đích chính trị nhất định; cố gắng giành ảnh hưởng lãnh đạo đối với đời sống chính trị, đối với nhà nước và tổ chức xã hội, ra sức giành và giữ chính quyền để thực hiện đường lối của mình. Tuy là một bộ. phận cấu thành của kiến trúc thượng tầng, song các đảng chính trị hành động bằng thuyết phục.