Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1. Tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài 1. Khái niệm Có nhiều khái niệm khác nhau về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), FDI được hiểu là: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó”. Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF): “FDI được hiểu là nguồn vốn được đầu tư trực tiếp nhằm đạt được những lợi ích mang tính dài hạn trong một đơn vị kinh doanh hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư. Mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý và chi phối doanh nghiệp đó”. Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD): “Đầu tư trực tiếp là hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp, mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp.
Có các mục đầu tư như: Thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư; mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có; tham gia vào một doanh nghiệp mới; cấp tín dụng dài hạn (>5 năm)”. Tuy nhiên trong Luật Đầu tư 2014 không có quy định rõ về khái niệm của đầu tư trực tiếp nước ngoài. Tại Khoản 17 Điều 3, Luật Đầu tư 2014 có quy định như sau: “Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông”. Trong Luật đầu tư 2014 có quy định về nhà đầu tư nước ngoài: Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam.
Từ các khái niệm trên, có thể hiểu FDI là hoạt động đầu tư do các tổ chức kinh tế, cá nhân nước ngoài tự mình hoặc kết hợp với các tổ chức kinh tế của nước sở tại bỏ vốn bằng tiền hoặc tài sản của một đối tượng nhất định. Các cá nhân tự mình hoặc cùng chịu trách nhiệm quản lý trực tiếp và điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như kết quả kinh doanh căn cứ vào tỷ lệ nắm giữ quyền kiểm soát và sở hữu vốn. Có thể hiểu, đầu tư trực tiếp nước ngoài là sự di chuyển vốn từ quốc gia này sang quốc gia khác tuân theo các cam kết thu hút đầu tư nước ngoài của quốc gia đó. Các quốc gia sẽ có nhiều chính sách ưu đãi để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài góp vốn đầu tư vào quốc gia của mình.
3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài là các biện pháp mà chính quyền của một quốc gia hoặc địa phương thực hiện để hấp dẫn các nhà đầu tư từ nước ngoài đem nguồn vốn và công nghệ đầu tư vào quốc gia hoặc địa phương để tổ chức thực hiện hoạt động tìm kiếm lợi nhuận hoặc lợi ích lớn hơn so với đầu tư tại quốc gia của nhà đầu tư. Hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài 1. Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài nhưng phải chịu sự kiểm soát của pháp luật nước sở tại (nước tiếp nhận đầu tư). Là một pháp nhân kinh tế của nước sở tại, doanh nghiệp phải được đầu tư, thành lập và chịu sự quản lý nhà nước của nước sở tại.
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại nước chủ nhà, nhà đầu tư phải tự quản lý, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của doanh nghiệp mình. Hình thức 100% vốn đầu tư nước ngoài có ưu điểm là nước tiếp nhận đầu tư không cần bỏ vốn, tránh được những rủi ro trong kinh doanh, đồng thời tạo công ăn việc làm cho người lao động, cải thiện nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Mặt khác, vì là đầu tư theo hình thức 100% vốn đầu tư nước ngoài nên các nhà đầu tư sẽ tự do độc lập về quyền sở hữu nên các nhà đầu tư nước ngoài chủ động đầu tư và để cạnh tranh, và đầu tư công nghệ mới, phương tiện kỹ thuật tiên tiến nhằm đạt hiệu quả cao trong kinh doanh. Tuy nhiên, nhược điểm ở đây là nước tiếp nhận đầu tư khó tiếp nhận được khoa học công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý từ doanh nghiệp nước ngoài cũng với đó nhà nước sẽ khó kiểm soát được đối tác đầu tư nước ngoài.
Thành lập doanh nghiệp liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài Hình thức thành lập doanh nghiệp liên doanh giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài là hình thức được sử dụng rộng rãi trên thế giới từ trước tới nay. Hình thức doanh nghiệp liên doanh đang rất phát triển ở Việt Nam, nhất là giai đoạn đầu thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp được thành lập tại nước sở tại dựa trên cơ sở hợp đồng liên doanh được ký kết giữa Bên hoặc các Bên nước chủ nhà với Bên hoặc các Bên nước ngoài để đầu tư kinh doanh tại nước sở tại. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các doanh nghiệp liên doanh hoạt động hiệu quả hay không phụ thuộc rất lớn vào môi trường kinh doanh của nước sở tại, bao gồm các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội, mức độ hoàn thiện pháp luật, trình độ của các đối tác liên doanh của nước sở tại.
Hình thức doanh nghiệp liên doanh có những ưu điểm: trước hết là giải quyết được tình trạng thiếu vốn tại nước sở tại, nước sở tại tranh thủ được nguồn vốn lớn để phát triển kinh tế nhưng đồng thời lại được chia sẻ rủi ro; có cơ hội để đổi mới công nghệ, đa dạng hóa sản phẩm; tạo cơ hội cho người lao động có việc làm và học tập kinh nghiệm quản lý của nước ngoài. Về phía nhà đầu tư, hình thức này là công cụ để thâm nhập vào thị trường nước ngoài một cách hợp pháp và hiệu quả, tạo thị trường mới, góp phần tạo điều kiện cho nước sở tại tham gia hội nhập sâu vào nền kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, nhược điểm của hình thức này đó là thường dễ xuất hiện mâu thuẫn trong khâu quản lý và điều hành, do các bên có thể có sự khác nhau về chính trị, văn hóa, phong tục tập quán, truyền thống, ngôn ngữ, luật pháp. Nước sở tại thường rơi vào thế bất lợi hơn do tỷ lệ góp vốn thấp, năng lực chuyên môn, trình độ quản lý của cán bộ tham gia trong DNLD yếu kém.
Đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) Hợp đồng hợp tác kinh doanh là hình thức đầu tư được ký kết giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh để phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không cần thành lập pháp nhân. Hình thức đầu tư này có ưu điểm là giúp giải quyết tình trạng thiếu vốn tại nước sở tại, công nghệ; tạo thị trường mới, bảo đảm được quyền điều hành dự án của nước sở tại, thu lợi nhuận tương đối ổn định, tạo việc làm cho người dân. Tuy nhiên, nó có nhược điểm là nước sở tại không tiếp nhận được kinh nghiệm quản lý; công nghệ hiện đại từ các quốc gia khác. Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh không thành lập pháp nhân riêng và mọi hoạt động BCC phải dựa vào pháp nhân của nước sở tại.
Do đó, về phía nhà đầu tư, họ rất khó kiểm soát hiệu quả các hoạt động BCC. Có thể nói, đây là hình thức đơn giản nhất, không đòi hỏi thủ tục pháp lý rườm rà nên thường được lựa chọn trong giai đoạn đầu khi các nước đang phát triển bắt đầu có chính sách thu hút FDI. Khi các hình thức 100% vốn hoặc liên doanh phát triển, hình thức BCC có xu hướng giảm mạnh. Hình thức hợp đồng BOT, BTO, BT 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com BOT là hình thức đầu tư được thực hiện theo hợp đồng ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước Việt Nam.
BTO và BT là các hình thức phái sinh của BOT, theo đó quy trình đầu tư, khai thác, chuyển giao được đảo lộn trật tự. Hình thức BOT, BTO, BT có các đặc điểm cơ bản: một bên ký kết phải là Nhà nước; lĩnh vực đầu tư là các công trình kết cấu hạ tầng như đường sá, cầu, cảng, sân bay, bệnh viện, nhà máy sản xuất, điện, nước.; bắt buộc đến thời hạn phải chuyển giao không bồi hoàn cho Nhà nước. Ưu điểm của hình thức này là thu hút vốn đầu tư vào những dự án kết cấu hạ tầng, đòi hỏi lượng vốn lớn, thu hồi vốn trong thời gian dài, làm giảm áp lực vốn cho ngân sách nhà nước. Đồng thời, nước sở tại sau khi chuyển giao có được những công trình hoàn chỉnh, tạo điều kiện phát huy các nguồn lực khác để phát triển kinh tế.
Tuy nhiên, hình thức BOT có nhược điểm là độ rủi ro cao, đặc biệt là rủi ro chính sách; nước chủ nhà khó tiếp nhận kinh nghiệm quản lý, công nghệ. Đầu tư mua cổ phần hoặc sáp nhập, mua lại doanh nghiệp Có thể nói hiện nay, hình thức mua cổ phần hoặc sáp nhập, mua lại doanh nghiệp đang trở nên rất phổ biến. đặc biệt, khi thị trường chứng khoán đang rất phát triển, các nhà đầu tư nước ngoài được phép mua cổ phần, mua lại các doanh nghiệp ở nước sở tại, đây là hình thức được rất nhiều nhà đầu tư ưa thích. Khi nhà đầu tư nước ngoài tham gia mua cổ phiếu, trái phiếu trên thị trường chứng khoán nước sở tại, họ tạo nên kênh đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI).
Tuy nhiên, khi tỷ lệ sở hữu cổ phiếu vượt quá giới hạn cho phép lúc này nhà đầu tư có quyền tham gia quản lý doanh nghiệp và trở thành nhà đầu tư FDI. Luật pháp tại nhiều nước phát triển quy định tỷ lệ ranh giới này là 10%. Đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, tỷ lệ sở hữu cổ phiếu được quy định là 30%.