LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thi t của đề tài. Sự phát triển của nền sản xuất đòi hỏi sự phát triển tương xứng của lưu thông, thương mại. Kinh doanh dịch vụ vận tải là một trong những ngành có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.
Nó là cầu nối giữa các vùng kinh tế trong và ngoài nước. Đời sống của dân cư tăng lên nhu cầu vận tải hàng hóa ngày càng nhiều. Hệ thống tổ chức kinh doanh vận tải ở nước ta có nhiều biến chuyển theo chiều hướng tích cực nâng cao chất lượng phục vụ. Để cho quá trình vận chuyển hàng hóa quốc tế được thông suốt thì đồng thời phải thực hiện hàng loạt các công việc khác nhau như bao gói, lưu kho, đưa hàng đến phương tiện làm thủ tục gửi hàng, xếp dỡ hàng lên tầu… và giao cho người nhận.
Ngoài ra còn có một công việc rất quan trọng là đăng ký thủ tục xuất nhập khẩu với các cơ quan chức năng. Những công việc đó được gọi là dịch vụ giao nhận vận tải hàng hoá và phải đạt được mục tiêu là hoàn thành đúng yêu cầu của khách hàng, thu được hiệu quả cao nhất lâu dài và vững bền. Các doanh nghiệp thực hiện việc cung cấp việc giao nhận vận tải gồm hai loại là: doanh nghiệp giao nhận vận tải hàng hoá trong nước và doanh nghiệp vận tải hàng hoá quốc tế. Sản phẩm mà họ cung cấp chính là các dịch vụ giao nhận vận tải “Freight Forwarder”.
Công ty TNHH Giao nhận và vận tải Cargotrans Việt Nam là một trong số các công ty cung cấp hoạt động logistics. Tuy với 12 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực logistics bên cạnh những điểm mạnh thì công ty vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định cần khắc phục để mở rộng hoạt động logistics của mình như: nhân lực, website, hệ thông thông tin,… Xuất phát từ yêu cầu bức thiết của nền kinh tế nhận thấy ngành dịch vụ vân tải là ngành có xu thế tăng trưởng và không thể thiếu trong nền kinh tế. Em may mắn đã có cơ hội thực tập tại Công ty TNHH giao nhận vận tải Cargotrans Việt Nam để tìm hiểu về Công ty. Đồng thời học hỏi được nghiệp vụ kinh doanh Oversea, tiếp thu thêm được nhiều kỹ năng để dần hoàn thiện bản thân và nhận thấy một số vướng mắc mà công ty đang gặp phải trong hoạt động logistics.
Qua đó, em quyết định lựa chọn đề tài “Mở rộng hoạt động logistics của công ty TNHH Giao nhận và vận tải Cargotrans Việt Nam’’ cho khóa luận tốt nghiệp của mình. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Mục tiêu nghiên cứu. Bài khóa luận của em tập trung phân tích thực trạng hoạt động logistics của Công ty TNHH Giao nhận và vận tải Cargotrans Việt Nam để làm rõ hơn điểm mạnh, điểm yếu của công ty trong hoạt động logistics.
Bên cạnh đó, tìm hiểu xu thế phát triển, cơ hội, thách thức của hoạt động logistics tại Việt Nam. Từ đó có cái nhìn tổng quan hơn về hoạt động logistics của doanh nghiệp hiện nay và đưa ra giải pháp mở rộng hoạt động logistics của doanh nghiệp trong tương lai. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động logistics của công ty TNHH Giao nhận và vận tải Cargotrans Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu đưa ra giải pháp mở rộng hoạt động logistics của công ty Cargotrans theo hình thức logistics bên thứ 3PL.
Phương pháp nghiên cứu: Đề tài vận dụng lý thuyết logistics cũng như nhìn nhận thực trạng hoạt động logistics của công ty Cargotrans, xu hướng phát triển của nghành logistics tại Việt Nam trong những năm gần đây để phân tích và đánh giá, qua đó đưa ra giải phải đẩy mạnh hiệu quả hoạt động logistics của công ty. Bên cạnh đó, đề tài sử dụng phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp, xử lý thông tin, số liệu từ công ty, cổng thông tin điện tử,… 5. Kết cấu của đề tài. Nội dung khóa luận của em gồm 3 phần: Chƣơng 1.
Cơ sở lý luận về hoạt động logistics. Thực trạng hoạt động dịch vụ logistics của Công ty TNHH Giao nhận và vận tải Cargotrans Việt Nam. Một số giải pháp nhằm mở rộng hoạt động logistics của Công ty trong thời gian tới. Tuy em đã có nhiều cố gắng nhưng do điều kiện thời gian và trình độ bản thân còn hạn chế nên khó có thể tránh khỏi những sai sót.
Vì vậy, em rất mong nhận được sự góp ý của Thầy Cô và Qúy Công ty để bài làm của em được hoàn thiện hơn. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG LOGISTICS 1. Khái niệm, đặc điểm, phân loại hoạt động logistics.
Khái niệm hoạt động logistics. Trong thời đại bùng nổ nghành thương mại điện tử -bán lẻ, nhu cầu giao thương quốc tế và vận chuyển tăng cao, khối lượng hàng hóa và sản phẩm được sản xuất ngày càng nhiều, thì Logistics đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong điều phối nền kinh tế mạnh mẽ. Do vậy, nhiều tổ chức, tác giả tham gia nghiên cứu và đưa ra nhiều điịnh nghĩa khác nhau. Hiện nay có nhiều định nghĩa học thuật về logistics và được xây dựng căn cứ trên ngành nghề và mục địch nghiên cứu về dịch vụ logistics.
Tuy nhiên, có thể nêu một số khái niệm chủ yếu sau: - Theo Liên Hiệp Quốc (2002): “ Logistics là hoạt động quản lý quá trình lưu chuyển nguyên vật liệu qua các khâu lưu kho, sản xuất ra sản phẩm cho tới tay người tiêu dùng theo yêu cầu của khách hàng”. - Theo Hội đồng quản trị Logistics Hoa Kỳ (1988) (LAC- The US. Logistics Administration Council): “ Logistics là quá trình lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát dòng di chuyển và lưu kho những nguyên vật liệu thô của hàng hóa trong quy trình, những hàng hóa thành phẩm và những thông tin liên quan từ khâu mua sắm nguyên vật liệu đến khi được tiêu dùng, nhằm thỏa mãn yêu cầu của người tiêu dùng”. -Theo Hiệp hội các nhà chuyên nghiệp về quản trị chuỗi cung ứng (Council of Supply Chain Management Professionals – CSCMP): “Quản trị logistics là một phần của quản trị chuỗi cung ứng bao gồm việc hoạch định, thực hiện, kiểm soát việc vận chuyển và dự trữ hiệu quả hàng hóa, dịch vụ cũng như những thông tin liên quan từ nơi xuất phát đến nơi tiêu thụ để đáp ứng yêu cầu của khách hàng.
Hoạt động của quản trị logistics cơ bản bao gồm quản trị vận tải hàng hóa xuất và nhập, quản lý đội tàu, kho bãi, nguyên vật liệu, thực hiện đơn hàng, thiết kế mạng lưới logistics, quản trị tồn kho, hoạch định cung/cầu, quản trị nhà cung cấp dịch vụ thứ ba. Ở một số mức độ khác nhau, các chức năng của logistics cũng bao gồm việc tìm nguồn đầu vào, hoạch định sản xuất, đóng gói, dịch vụ khách hàng. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quản trị logistics là chức năng tổng hợp kết hợp và tối ưu hóa tất cả các hoạt động logistics cũng như phối hợp hoạt động logistics với các chức năng khác như marketing, kinh doanh, sản xuất, tài chính, công nghệ thông tin.” - Theo Hội đồng Quản lý dịch vụ logistics quốc tế ( CLM- The Council of Logistics Management): “Logistics là một phần của quá trình cung cấp dây chuyền bao gồm lập khôngế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm soát hiệu quả, lưu thông hiệu quả và lưu giữ các loại hàng hóa, dịch vụ và có liên quan đến thông tin từ điểm cung cấp cơ bản đến các điểm tiêu thụ để đáp ứng nhu cầu của khách hàng”. - Theo quan điểm “ 5 đúng” (5 right).
“Logistics là quá trình cung cấp đúng sản phẩm đến đúng vị trí vào đúng thời điểm với điều kiện và chi phí phù hợp cho khách hàng tiêu dùng sản phẩm”. - Theo luật thương mại Việt Nam năm 2005 (Điều 233): “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao.” - Theo Đoàn Thị Hồng Vân và Phạm Mỹ Lệ( 2013): “ Logistics là quá trình tối ưu hóa về vị trí và thời điểm, dự trữ và vận chuyển nguồn tài nguyên từ điểm đầu tiên của chuỗi cung ứng qua các khâu sản xuất, phân phối cho đến tay người tiêu dùng cuối cùng, nhằm đáp ứng tốt nhu cầu của người tiêu dùng với chi phí hợp lý, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế”. Ngoài ra, còn có cách cách định nghĩa khác nhau về logistics. Tuy nhiên, dù có sự khác nhau về từ ngữ diễn đạt, nhưng có thể hiểu rằng Logistics là quá trình phân phối và lưu thông hàng hóa được tổ chức và quản lý khoa học việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm soát quá trình lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ từ điểm khởi nguồn sản xuất đến tay người tiêu dùng cuối cùng với chi phí thấp nhất.
Logistics có phạm vi rộng, có tác động từ giai đoạn tiền sản xuất cho tới khi hàng hóa tới tay của 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người tiêu dùng cuối cùng. Nói đến logistics là nói đến hiệu quả, tối ưu hóa trong các doanh nghiệp và nền kinh tế. Sự hình thành và phát triển hoạt động logistics Logistics là một thuật ngữ có nguồn gốc từ Hi Lạp- Logistikos- phản ánh môn khoa học nghiên cứu tính quy luật của các hoạt động cung ứng và đảm bảo các yếu tố tổ chức, vật chất và kỹ thuật để cho quá tình chính yếu được tiến hành đúng mục tiêu. Theo EACAP, logistics phát triển qua 3 giai đoạn: Giai đoạn 60s-70s: Logistics là những hoạt động phân phối sản phẩm vật chất.
Logistics đầu ra ( Quản lý một cách có hệ thống các hoạt động liên quan đến nhau để đảm bảo cung cấp sản phẩm, hàng hóa cho khách hàng một các có hiệu quả). Giai đoạn 80s-90s: Hệ thống logistics kết hợp quản lý hai khâu đầu vào ( cung ứng vật tư) và đầu ra ( phân phối sản phẩm) nhằm tiết kiệm chi phí. -Giai đoạn sau 90s: Quản trị dây chuyền cung ứng từ nhà cung cấp- sản xuất- khách hàng, cùng với hệ thống thông tin theo dõi, kiểm tra. Từ đó chú trọng phát triển mối quan hệ với các đối tác.
Logistics là một phần của chuỗi cung ứng bao gồm hoạch định, thực hiện, kiểm soát việc vận chuyển và dự trữ hàng hóa & dịch vụ từ nơi sản xuất đến khách hàng.