Luận văn học viện tài chính thực trạng thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài qua thị trường chứng khoán việt nam trong những năm qua

Tài liệu nghiên cứu Luận văn học viện tài chính thực trạng thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài qua thị trường chứng, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Học viện Tài chính

Chuyên ngành

Tài chính - Ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn
97
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ VỐN ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP NƯỚC NGOÀI QUA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

1.1. Những vấn đề cơ bản về thị trường chứng khoán

1.1.1. Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán

1.1.2. Bản chất của thị trường chứng khoán

1.1.3. Chức năng của thị trường chứng khoán

1.1.4. Một số chủ thể tham gia vào thị trường chứng khoán

1.2. Lý luận chung về vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài qua thị trường chứng khoán

1.2.1. Khái niệm và phân loại vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài. Vai trò của vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài đối với sự phát triển của nền kinh tế

1.3. Nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào thị trường chứng khoán

1.4. Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài thông qua thị trường chứng khoán của một số quốc gia và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

1.4.1. Kinh nghiệm của Thái Lan

1.4.2. Kinh nghiệm của Trung Quốc

1.4.3. Kinh nghiệm của Malaysia

1.4.4. Kinh nghiệm của Indonesia

1.4.5. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

2. CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP NƯỚC NGOÀI QUA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM QUA

2.1. Khái quát về thị trường chứng khoán Việt Nam

2.2. Thực trạng về hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian qua

2.2.1. Hoạt động thị trường chứng khoán từ năm 2000 đến năm 2007

2.2.2. Hoạt động thị trường chứng khoán từ năm 2008 đến năm 2012

2.2.3. Hoạt động thị trường chứng khoán từ năm 2013 đến nay

2.2.4. Những thành tựu và hạn chế của thị trường chứng khoán Việt Nam

2.2.4.1. Những thành tựu
2.2.4.2. Những mặt còn hạn chế

2.3. Thực trạng thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài thông qua thị trường chứng khoán Việt Nam trong những năm vừa qua

2.3.1. Tình hình thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài thông qua thị trường chứng khoán Việt Nam

2.3.2. Hành lang pháp lý về đầu tư gián tiếp nước ngoài qua thị trường

2.3.3. Thực trạng về hoạt động đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam

2.3.3.1. Trên thị trường cổ phiếu
2.3.3.2. Trên thị trường trái phiếu

2.4. Đánh giá thực trạng thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài qua thị trường chứng khoán Việt Nam

2.4.1. Những kết quả đạt được

2.4.2. Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân

2.4.2.1. Những tồn tại, hạn chế

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI QUA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

3.1. Định hướng phát triển thị trường chứng khoán và nguyên tắc thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài qua TTCK Việt Nam

3.1.1. Định hướng phát triển thị trường chứng khoán

3.1.2. Nguyên tắc thu vốn đầu tư đầu tư gián tiếp nước ngoài thông qua TTCK Việt Nam

3.2. Những thuận lợi và khó khăn trong thu hút vốn đầu tư nước ngoài thông qua TTCK Việt Nam trong thời gian tới

3.2.1. Những điều kiện thuận lợi

3.2.1.1. Tình hình chính trị ổn định
3.2.1.2. Kinh tế vĩ mô phát triển ổn định
3.2.1.3. Hàng loạt chính sách mới, cơ hội mới để phát triển TTCK thời gian tới

3.2.2. Những khó khăn, thách thức

3.2.2.1. Quy mô TTCK Việt Nam còn nhỏ
3.2.2.2. Sự yếu kém của nhiều doanh nghiệp niêm yết trên TTCK
3.2.2.3. Những hạn chế về mặt thông tin
3.2.2.4. Những bất cập trong cơ chế, chính sách
3.2.2.5. Chi phí đầu tư còn cao

3.3. Giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài thông quan TTCK Việt Nam

3.3.1. Hoàn thiện và phát triển TTCK Việt Nam

3.3.2. Nâng cao khả năng quản lý vốn đầu tư nước ngoài trên TTCK Việt Nam trong thời gian tới

3.3.3. Khuyến khích hoạt động của các tổ chức quốc tế trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Tóm tắt

I. Tổng quan về thực trạng thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài

Thị trường chứng khoán Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển từ khi chính thức hoạt động vào năm 2000. Trong những năm qua, việc thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài qua thị trường chứng khoán đã trở thành một trong những yếu tố quan trọng trong việc phát triển kinh tế. Việt Nam được xem là một điểm đến hấp dẫn cho các nhà đầu tư nước ngoài nhờ vào sự ổn định chính trị và các chính sách hỗ trợ đầu tư. Tuy nhiên, thực trạng thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vẫn còn nhiều thách thức cần được giải quyết.

1.1. Lịch sử hình thành và phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam

Thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức ra đời vào tháng 7 năm 2000, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong việc huy động vốn cho nền kinh tế. Trước đó, các hoạt động đầu tư gián tiếp đã diễn ra thông qua chương trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước từ năm 1992. Sự phát triển của thị trường chứng khoán đã tạo ra một kênh huy động vốn hiệu quả cho các doanh nghiệp và chính phủ.

1.2. Vai trò của vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài

Vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn lực tài chính cho thị trường chứng khoán. Nó không chỉ giúp tăng cường tính thanh khoản mà còn tạo ra cơ hội cho các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài tham gia vào các hoạt động đầu tư. Sự hiện diện của các nhà đầu tư nước ngoài cũng góp phần nâng cao chất lượng quản lý và hoạt động của các doanh nghiệp niêm yết.

II. Những thách thức trong việc thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài

Mặc dù thị trường chứng khoán Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức trong việc thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài. Các vấn đề như khung pháp lý chưa hoàn thiện, thông tin không minh bạch và sự cạnh tranh từ các thị trường khác đang gây khó khăn cho việc thu hút vốn đầu tư.

2.1. Khung pháp lý và chính sách đầu tư

Khung pháp lý hiện tại vẫn còn nhiều bất cập, gây khó khăn cho các nhà đầu tư nước ngoài trong việc tiếp cận thị trường. Các quy định về đầu tư gián tiếp cần được cải thiện để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư.

2.2. Tình hình cạnh tranh từ các thị trường khác

Việt Nam đang phải đối mặt với sự cạnh tranh từ các thị trường khác trong khu vực như Thái Lan, Malaysia và Indonesia. Những quốc gia này đã có những chính sách thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài hiệu quả hơn, khiến cho Việt Nam cần phải cải thiện hơn nữa để không bị tụt lại phía sau.

III. Phương pháp thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài hiệu quả

Để thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài, Việt Nam cần áp dụng một số phương pháp hiệu quả. Việc cải thiện khung pháp lý, tăng cường minh bạch thông tin và xây dựng môi trường đầu tư thuận lợi là những yếu tố quan trọng.

3.1. Cải thiện khung pháp lý và chính sách đầu tư

Cần thiết phải hoàn thiện các quy định pháp lý liên quan đến đầu tư gián tiếp nước ngoài, nhằm tạo ra một môi trường đầu tư minh bạch và ổn định. Điều này sẽ giúp tăng cường niềm tin của các nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường chứng khoán Việt Nam.

3.2. Tăng cường minh bạch thông tin

Việc cung cấp thông tin đầy đủ và chính xác về thị trường chứng khoán và các doanh nghiệp niêm yết là rất quan trọng. Các cơ quan chức năng cần phải có những biện pháp để đảm bảo rằng thông tin được công khai và dễ dàng tiếp cận cho các nhà đầu tư.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về thu hút vốn đầu tư

Nghiên cứu về thực trạng thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài qua thị trường chứng khoán Việt Nam cho thấy rằng, mặc dù có nhiều thách thức, nhưng cũng có những kết quả tích cực. Các nhà đầu tư nước ngoài đã bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến thị trường chứng khoán Việt Nam.

4.1. Kết quả đạt được trong thu hút vốn đầu tư

Trong những năm qua, Việt Nam đã thu hút được một lượng vốn đầu tư gián tiếp đáng kể từ các nhà đầu tư nước ngoài. Điều này không chỉ giúp tăng cường tính thanh khoản cho thị trường mà còn góp phần nâng cao chất lượng quản lý doanh nghiệp.

4.2. Những bài học kinh nghiệm từ các quốc gia khác

Việt Nam có thể học hỏi từ kinh nghiệm của các quốc gia khác trong việc thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài. Các chính sách và biện pháp mà các quốc gia như Thái Lan, Malaysia đã áp dụng có thể được điều chỉnh và áp dụng phù hợp với điều kiện của Việt Nam.

V. Kết luận và tương lai của thị trường chứng khoán Việt Nam

Tương lai của thị trường chứng khoán Việt Nam phụ thuộc vào khả năng cải thiện môi trường đầu tư và thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài. Việc thực hiện các giải pháp đã đề xuất sẽ giúp thị trường chứng khoán phát triển bền vững và thu hút được nhiều nguồn vốn hơn trong tương lai.

5.1. Định hướng phát triển thị trường chứng khoán

Việt Nam cần có một định hướng phát triển rõ ràng cho thị trường chứng khoán, nhằm thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài. Các chính sách cần phải được điều chỉnh để phù hợp với xu hướng phát triển của thị trường toàn cầu.

5.2. Tương lai của vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài

Vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế Việt Nam. Việc cải thiện môi trường đầu tư sẽ giúp thu hút nhiều hơn nữa các nhà đầu tư nước ngoài, từ đó thúc đẩy sự phát triển của thị trường chứng khoán.

27/07/2025
Luận văn học viện tài chính thực trạng thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài qua thị trường chứng khoán việt nam trong những năm qua

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cuộc khủng hoảng của TTCK New York, từ đó cuộc khủng hoảng kéo sang TTCK Tây Âu, Bắc Âu và Nhật Bản. Sau thế chiến thứ hai, TTCK đã phục hồi và phát triển mạnh. Đến năm 1987, khủng hoảng tài chính một lần nữa đã làm cho TTCK thế giới suy sụp nặng nề. Cuộc khủng hoảng này để lại hậu quả nghiêm trọng hơn cuộc khủng hoảng năm 1929.

Tuy nhiên, chỉ sau hai năm, TTCK thế giới tiếp tục đi vào hoạt động ổn định, phát triển và trở thành một kênh huy động vốn đầu tư hiệu quả. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các chức năng chủ yếu của TTCK là huy động vốn cho nền kinh tế, cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng, tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán, đánh giá hoạt động của doanh nghiệp và tạo môi trường giúp chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô. Thị trường chứng khoán hình thành và phát triển đã mang đến một kênh huy động vốn đầu tư hiệu quả cho nền kinh tế. Nếu trước đây, khi cần vốn để mở rộng và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp thường tìm đến kênh tài chính gián tiếp thông qua các trung gian tài chính như ngân hàng, tổ chức tín dụng để vay vốn, thì nay với sự hình thành và phát triển của TTCK, các doanh nghiệp khi cần vốn có thể phát hành chứng khoán thông qua TTCK để thu hút vốn đầu tư của những cá nhân có vốn nhàn rỗi trong xã hội.

Hay nói cách khác, vốn đầu tư của các nhà đầu tư trong xã hội đã được đưa trực tiếp vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà không phải thông qua trung gian tài chính. Hoạt động của doanh nghiệp có thể được mở rộng nhờ có vốn đầu tư đúng lúc, qua đó góp phần phát triển nền kinh tế nói chung. Tham gia vào việc huy động vốn thông qua TTCK không chỉ có các doanh nghiệp mà còn có cả chính phủ và chính quyền địa phương. Vốn đầu tư huy động được qua TTCK từ việc phát hành trái phiếu sẽ giúp chính phủ và chính quyền địa phương đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế xã hội, phục vụ các nhu cầu chung của xã hội, qua đó thúc đẩy kinh tế phát triển, nâng cao đời sống người dân.

Thị trường chứng khoán là nơi cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng. Tham gia vào TTCK, công chúng đầu tư có thể lựa chọn rất nhiều loại chứng khoán với các đặc điểm khác nhau, độ rủi ro khác nhau với thời hạn khác nhau. Với nhiều loại chứng khoán đó, nhà đầu tư có thể cân nhắc và chọn cho mình loại chứng khoán phù hợp để thực hiện đầu tư. Có thể nói, TTCK với nhiều loại chứng khoán giao dịch trên đó đã cung cấp cho công chúng đầu tư một môi trường đầu tư lành mạnh với nhiều lựa chọn và cơ hội 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đầu tư phong phú.

Vì thế, TTCK đã góp phần đáng kể trong việc làm tăng mức tiết kiệm quốc gia. Thị trường chứng khoán hoạt động góp phần tạo tính thanh khoản cho chứng khoán. Thông qua TTCK các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán mà họ nắm giữ thành tiền mặt hoặc loại chứng khoán khác khi có nhu cầu. Khả năng thanh khoản hay khả năng chuyển đổi thành tiền mặt là một trong những đặc tính tạo nên sự hấp dẫn của các loại chứng khoán đối với nhà đầu tư.

Sự chuyển đổi chứng khoán thành tiền mặt và ngược lại cho thấy sự linh hoạt của vốn đầu tư. Các nhà đầu tư tham gia vào TTCK hoàn toàn có thể đầu tư vốn vào doanh nghiệp, sau đó họ đổi chứng khoán do doanh nghiệp phát hành thành tiền mặt để phục vụ các nhu cầu cần thiết của mình khi có nhu cầu. TTCK hoạt động ngày càng năng động và hiệu quả thì càng góp phần nâng cao tính thanh khoản của các loại chứng khoán tham gia giao dịch trên thị trường. Thị trường chứng khoán có chức năng đánh giá hoạt động của doanh nghiệp.

Khi doanh nghiệp tham gia niêm yết chứng khoán của họ trên TTCK, các nhà đầu tư có thể mua bán trao đổi chứng khoán của các doanh nghiệp. Mức giá chứng khoán mà các nhà đầu tư chấp nhận để mua bán xác định trên cơ sở đánh giá hoạt động của doanh nghiệp. Nói cách khác, thông qua giá cả của chứng khoán, các nhà đầu tư có thể đánh giá được hoạt động của doanh nghiệp cũng như so sánh giữa các doanh nghiệp một cách thuận lợi và nhanh chóng. Nếu giá của một chứng khoán cao trên thị trường thì có nghĩa là các nhà đầu tư đánh giá cao hoạt động của doanh nghiệp đó và ngược lại.

Với chức năng đánh giá hoạt động của doanh nghiệp, TTCK đã góp phần tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các doanh nghiệp tham gia vào thị trường, qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm tại các doanh nghiệp. Thị trường chứng khoán còn giúp chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô. TTCK là nơi cung và cầu vốn dài hạn gặp nhau. Bên cạnh đó, 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com TTCK cũng có mối quan hệ chặt chẽ với các thị trường khác như thị trường tiền tệ, thị trường bất động sản cũng như các lĩnh vực khác của nền kinh tế.

Các chỉ số của TTCK luôn phản ánh một cách nhạy bén và chính xác mọi động thái của nền kinh tế cũng như các chính sách kinh tế vĩ mô của chính phủ. Khi giá chứng khoán tăng lên cho thấy hoạt động đầu tư đang được mở rộng, nền kinh tế tăng trưởng tốt; và ngược lại, khi giá chứng khoán giảm xuống sẽ cho thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế. Chính vì vậy, TTCK từ lâu đã được coi là “phong vũ biểu” của nền kinh tế. Thông qua TTCK, chính phủ có thể thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô để tác động đến nền kinh tế.

Chính phủ có thể mua và bán trái phiếu chính phủ để huy động vốn đầu tư, tạo ra nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách nhà nước và quản lý lạm phát. Bên cạnh đó, chính phủ có thể sử dụng một số biện pháp để tác động đến TTCK nhằm định hướng đầu tư, đảm bảo cho sự phát triển cân đối và bền vững của nền kinh tế. Tuy nhiên, cần phải nhận thức rõ ràng rằng TTCK cũng ẩn chứa những khuyết tật, đó là mang tính đầu cơ rất cao. Vì thế, nếu thị trường không được tổ chức tốt, sự vận hành của nó không được đảm bảo bằng một khung pháp lý đủ hiệu lực và một bộ máy điều hành năng lực thì TTCK có thể rơi vào tình trạng trục trặc, rối loạn, từ đó gây ra những tác động tiêu cực không nhỏ, đe dọa sự ổn định và phát triển của nền kinh tế, cũng như thiệt hại đến lợi ích của đông đảo nhà đầu tư.4 Một số chủ thể tham gia vào thị trường chứng khoán Một số chủ thể tham gia vào TTCK là nhà phát hành, nhà đầu tư và cơ quan quản lý nhà nước Nhà phát hành: Là các tổ chức cần vốn và thực hiện huy động vốn thông qua TTCK.

Nhà phát hành là người cung cấp các chứng khoán – hàng hóa trên TTCK. Thông thường, nhà phát hành bao gồm: Chính phủ và chính quyền địa phương: Là nhà phát hành các trái phiếu chính phủ và chính quyền địa phương Doanh nghiệp: Là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các tổ chức tài chính: Là nhà phát hành các công cụ tài chính như trái phiếu…phục vụ cho hoạt động của họ Nhà đầu tư: Nhà đầu tư là những người bỏ tiền đầu tư vào chứng khoán nhằm mục đích thu lời. Có nhiều tiêu chí để phân loại nhà đầu tư. Theo loại hình: Nếu theo loại hình có thể phân chia nhà đầu tư trên TTCK thành nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư chuyên nghiệp.

Nhà đầu tư cá nhân là những cá nhân tham gia mua bán chứng khoán trên TTCK với mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Còn nhà đầu tư chuyên nghiệp hay còn gọi là các tổ chức đầu tư là các tổ chức thường xuyên mua bán chứng khoán với số lượng lớn trên thị trường. Các nhà đầu tư chuyên nghiệp chính trên TTCK là các quỹ đầu tư, các công ty bảo hiểm, các công ty tài chính, các quỹ hưu trí và các quỹ bảo hiểm xã hội khác. Theo quốc tịch: Nếu theo quốc tịch có thể chia nhà đầu tư trên TTCK thành nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài.

Theo luật đầu tư năm 2005, nhà đầu tư nước ngoài là các tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện đầu tư tại Việt Nam. Cơ quan quản lý nhà nước đối với thị trường chứng khoán Hoạt động của cơ quan này nhằm đảm bảo cho thị trường hoạt động trật tự, công bằng và đúng pháp luật. Có hai loại mô hình phổ biến về cơ quan quản lý nhà nước đối với thị trường đó là: Một số nước giao công tác quản lý nhà nước đối với TTCK cho một bộ của chính phủ, ví dụ như ở Hàn Quốc, Nhật Bản, trách nhiệm này được giao cho Bộ Tài Chính; còn một số nước lại thành lập cơ quan quản lý độc lập trực thuộc Chính phủ, ví dụ ở Mỹ có Ủy ban chứng khoán và giao dịch. Ở Việt Nam, Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán.

Bộ Tài Chính chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán. Ủy ban Chứng khoán nhà nước là cơ quan thuộc Bộ Tài chính trực tiếp quản lý và điều hành thị trường chứng khoán. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Lý luận chung về vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài qua thị trường chứng khoán 1.1 Khái niệm và phân loại vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài Hoạt động đầu tư là quá trình huy động và sử dụng các nguồn vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh nhằm sản xuất sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và xã hội. Theo luật đầu tư năm 2005, đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ