Chương 1: Cơ sở lý luận về tạo động lực lao động trong doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng tạo động lực lao động tại Ban Sản xuất các chương trình Thể thao - Đài Truyền hình Việt Nam trong giai đoạn 2016- 2018 Chương 3: Giải pháp tăng cường tạo động lực lao động tại Ban Sản xuất các chương trình Thể thao - Đài Truyền hình Việt Nam trong thời gian 2019-2021 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Các khái niệm cơ bản 1. Lao động trực tiếp “Người lao động trực tiếp là tải sản quý của mỗi doanh nghiệp. Họ là những người trực tiếp tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm, hay trực tiếp thực hiện những công việc nhất định nhằm tạo ra giá trị cho doanh nghiệp, góp phần vào việc đạt được mục tiêu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và giúp cho doanh nghiệp duy trì, phát triển vị thế của mình trên thị trường cạnh tranh.
Đội ngũ lao động trực tiếp là toàn bộ những người lao động trực tiếp làm việc trong doanh nghiệp đó. Phân loại Với những mục đích và góc nhìn khác nhau thì người lao động trực tiếp được phân thành các loại khác nhau. Theo thời gian lao động, có thể chia lao động trực tiếp thành 02 loại: Khối hưởng lương thời gian: là khối quản lý trực tiếp tại đơn vị gồm Trưởng ban, Phó trưởng ban, Phòng Tổ chức hành chính, Phòng kế hoạch tài chính, và các Trưởng, Phó phòng sản xuất. Khối hưởng lương sản phẩm: là lao động làm việc tại đơn vị gồm các phòng sản xuất các chương trình (Không có chức vụ).
Phân loại lao động trực tiếp trong đơn vị có ý nghĩa to lớn là tiền đề tạo động lực lao động, để nâng cao thu nhập cho người lao động. Nhu cầu, động cơ và lợi ích 1. Nhu cầu Khi nhu cầu của người lao động không được đáp ứng sẽ dẫn đến trạng 9 thái căng thẳng khi làm việc. Vì vậy khi thấy một cá nhân làm việc chăm chỉ trong một hoạt động nào đó người quản lý phải nghĩ tới việc họ đang bị chi phối bởi một sự mong muốn đạt được một mục tiêu nào đó, một nhu cầu nào đó mà họ cho là có giá trị và hấp dẫn đối với bản thân họ.
“ Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển “ [8,tr. “Nhu cầu gắn liền với sự tồn tại và phát triển của con người cũng như cộng đồng và tập thể xã hội. Hệ thống nhu cầu của con người rất phức tạp, song cơ bản nó được chia thành 3 nhóm chính là: nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần và nhu cầu xã hội. Nhu cầu của con người luôn luôn biến đổi.
Với mỗi người cụ thể khác nhau trong xã hội, việc thực hiện các nhu cầu cũng rất khác nhau tùy thuộc theo từng quan điểm của từng cá nhân. Nhu cầu chưa được thỏa mãn tạo ra tâm lý căng thẳng , khiến con người phải tìm cách để đáp ứng. Người lao động cũng như vậy, họ bị thúc đẩy bởi trạng thái mong muốn. Để có thể thỏa mãn được những mong muốn ấy thì họ phải cố gắng nỗ lực để đạt được nó.
Mong muốn càng lớn thì nỗ lực càng cao và ngược lại. Lợi ích “ Lợi ích là mức độ đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần do công việc đó tạo ra “ [6, tr. “Theo quan niệm trên thì lợi ích được hiểu là thành quả mà người lao động nhận được bằng vật chất hay tinh thần thông qua bản thân khi họ tham gia sản xuất hoặc các hoạt động khác trong tổ chức cũng như trong xã hội. Lợi ích có vai trò to lớn trong hoạt động quản lý, trong hoạt động lao động của con người, tạo ra động lực mạnh mẽ cho các hoạt động của con người, buộc con người phải động não, cân nhắc, tìm tòi thỏa mãn nhu cầu của mình.
10 Các nhà quản trị doanh nghiệp khi tìm hiểu được tâm lý lợi ích của người lao động sẽ có những biện pháp phù hợp để khuyến khích người lao động hăng say làm việc đạt hiệu quả công việc tốt nhất. Động cơ “ Động cơ lao động của người lao động xuất phát từ việc mong muốn thỏa mãn các nhu cầu thiết yếu cơ bản của người lao động như: nhu cầu ăn, ở, đi lại, phát triển, được tôn trọng…” [6, tr. Động cơ lao động của mỗi cá nhân khác nhau. Với người lao động có động cơ lao động cao, họ sẽ cố gắng nhiều hơn trong công việc và sẽ có năng suất, chất lượng cao và ngược lại, khi không có hoặc ít có động cơ lao động thì năng suất hiểu quả công việc sẽ thấp.
Động lực lao động “Trong quá trình làm việc có những cá nhân làm việc rất tích cực, nhưng bên cạnh đó cũng có những cá nhân làm việc không tích cực, có sự khác nhau này là do động lực lao động của mỗi cá nhân là khác nhau. Động lực làm việc của người lao động luôn gắn với lợi ích mà họ đạt được. Lợi ích mà họ đạt được càng cao thì động lực lao động càng lớn. Vậy động lực lao động được hiểu như thế nào? Có nhiều khái niệm về động lực lao động, mỗi khái niệm đều có những quan điểm khác nhau nhưng nhìn chung đều nói lên được bản chất của động lực lao động.
Theo Higgins 1994 thì động lực là lực đẩy từ nhu cầu bên trong cá nhân để đáp ứng các nhu cầu chưa được thỏa mãn.” “ Động lực là sự khao khát và tự nguyện của cá nhân để tăng cường sự nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt được các mục tiêu của tổ chức đề ra. Maier và Lawler (1973) đã đưa ra mô hình và kết quả thực hiện công việc là một hàm số của năng lực và động lực làm việc. Trong đó, năng lực làm việc phụ thuộc vào khả năng bẩm sinh; kiến thưc; kỹ năng kinh nghiệm 11 có được thông qua đào tạo; các nguồn lực để thực hiện công việc. Từ những nghiên cứu trên ta có thể hiểu: “ Động lực là lực đẩy bên trong bản thân mỗi cá nhân nhằm giúp họ nỗ lực làm việc với sự khát khao và tự nguyện nhằm đáp ứng những nhu cầu của bản thân mỗi cá nhân khi chưa được thỏa mãn và mục tiêu chưa đạt được của tổ chức”.
Như vậy, động lực lao động được thể hiện ở trong chính thái độ của người lao động đối với công việc, đối với tổ chức. Để có thể tạo động lực cho người lao động làm việc thì phải tìm hiểu được người lao động làm việc nhằm mục đích gì, lợi ích của bản thân họ chỉ đạt được khi lợi ích của doanh nghiệp đạt được. Tạo động lực lao động “Vấn đề tạo động lực lao động cho nhân lực nói chung và cho người lao động trong tổ chức nói riêng đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Muốn biết được người lao động cần gì và động lực làm việc của người lao động là gì thì điều đầu tiên cần làm của nhà quản lý là phải đưa ra các chính sách tạo động lực hợp lý nhằm khuyến khích động viên người lao động hăng hái làm việc.
Bởi một tổ chức có thể đạt được năng suất hiệu quả cao khi có những người làm việc sáng tạo và hiệu quả.” Theo Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân cho rằng: “ Động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của người lao động nhằm hướng tới việc đạt được các mục tiêu của tổ chức”.134] Theo Lê Thanh Hà: “Tạo động lực lao động là tổng hợp các biện pháp và cách ứng xử của tổ chức, của các nhà quản lý nhằm tạo ra sự khao khát và tự nguyện của người lao động cố gắng phấn đấu để đạt được các mục tiêu của tổ chức đề ra. Các biện pháp được đặt ra có thể là các đòn bẩy kích thích về tài chính, phi tài chính, cách hành xử của tổ chức được thể hiện ở điểm tổ chức đó đối xử lại với người lao động như thể nào ”.145] 12 Theo Bùi Anh Tuấn: “Tạo động lực được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc”.87] Theo Hồ Bá Thâm: “Động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt được các mục tiêu của tổ chức. Động lực cá nhân là kết quả của rất nhiều nguồn lực hoạt động đồng thời trong con người và trong môi trường sống và làm việc của con người”.8] “Theo quan điểm của các tác giả trên ta có thể thấy tạo động lực lao động là quá trình sử dụng tổng hợp các biện pháp nhằm khuyến khích, thúc đẩy sự khao khát, tinh thần tự giác, tự nguyện của người lao động để họ phấn đấu hoàn thành công việc được giao với kết quả tốt nhất nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức. Các nhà quản lý của tổ chức phải xây dựng hệ thống các chính sách, biện pháp trong quá trình quản lý nguồn nhân lực nhằm tác động đến người lao động giúp họ có động cơ, động lực làm việc để làm tăng năng suất lao động, hiệu quả lao động, đồng thời giúp cho người lao động tự hoàn thiện bản thân và phát huy được sức sáng tạo trong quá trình lao động.
Đặc điểm và vai trò đội ngũ lao động trực tiếp trong doanh nghiệp 1. Đặc điểm đội ngũ lao động trực tiếp trong doanh nghiệp Đội ngũ lao động trực tiếp trong doanh nghiệp mang đặc điểm của đội ngũ lao động nói chung và có những đặc điểm riêng. Lao động trực tiếp có chức năng nhiệm vụ thực hiện các công việc liên quan trực tiếp đến các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vai trò đội ngũ lao động trực tiếp trong doanh nghiệp Lao động trực tiếp là yếu tố không thể thiếu, quyết định đến thành công kinh doanh của bất kỳ một doanh nghiệp nào.
Dù là doanh nghiệp sản xuất hay kinh doanh thương mại, nếu thiếu đi yếu tố lao động thì việc sản 13 xuất kinh doanh không thể thực hiện được. Lao động trực tiếp đóng vai trò rất quan trọng trong doanh nghiệp. Lao động trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho doanh nghiệp cũng như cho toàn xã hội. Nếu như không có lao động trực tiếp thì quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh không thể thực hiện được.