CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Khái niệm về lao động nông thôn và đào tạo nghề cho lao động nông thôn 1. Lao động nông thôn - Khái niệm lao động: Lao động là hoạt động có ý thức của con người, đó là quá trình con người sử dụng công cụ lao động tác động lên đối tượng lao động cải biến nó tạo ra sản phẩm để thỏa mãn nhu cầu của mình và xã hội (Trần Xuân Cầu, Mai Quốc Chánh, 2008). Lao động là khái niệm chung dùng để chỉ con người khi tham gia vào các hình thức sản xuất nào đó trong xã hội.
- Khái niệm người lao động: Người lao động có thể qua đào tạo và không qua đào tạo hoặc chưa qua đào tạo; có thể là những lao động giản đơn hoặc lao động phức tạp. Theo khoản 1 điều 3 Bộ luật lao động năm 2012 quy định: Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động (Quốc hội, 2012). - Khái niệm lao động nông thôn: Lao động nông thôn là những người thuộc lực lượng lao động và hoạt động trong hệ thống kinh tế nông thôn (Trần Khánh Đức, 2015). - Số lượng lao động: là toàn bộ những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động.
nước ta theo quy định của Bộ Luật lao động người trong độ tuổi lao động là: Nam từ 15 - 60 tuổi; Nữ từ 15 - 55 tuổi. Đặc điểm lao động nông thôn: - Lao động nông thôn mang tính thời vụ, đây là đặc điểm đặc thù khó có thể xóa bỏ của lao động nông thôn. - Số lượng lao động nông thôn trong độ tuổi lao động có xu hướng tăng - Chất lượng lao động nông thôn chưa cao, trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật và sức khỏe còn hạn chế. 5 - Số lượng lao động nông thôn ngày càng ra tăng về số lượng nhưng khả năng cải thiện về chất lượng còn rất hạn chế.
- Tỷ lệ thất nghiệp thấp, tỷ lệ thiếu việc làm chiếm đa số - Lao động nông thôn khó tiếp cận việc làm có thu nhập và chất lượng cao (Quốc hội, 2012). Đặc điểm cơ bản của lao động nông thôn là phần lớn chưa qua đào tạo dẫn đến không thể tiếp cận các công việc có thu nhập và chất lượng cao, mặt khác khả năng cập nhật thông tin khoa học kỹ thuật, thị trường việc làm của lao động nông thôn là không kịp thời làm giảm khả năng tự tạo việc làm. Do vậy các chính sách của Nhà nước nhằm hỗ trợ lao động nông thôn tự tạo việc làm cũng như tạo ra việc làm mới cho lao động nông thôn đang là vấn đề cấp bách và thiết thực. Đào tạo nghề a.
Đào tạo Đào tạo là việc huấn luyện, giảng dạy, tập huấn cho một nhóm người, một tổ chức, một xã hội về một vấn đề hoặc nội dung nào đó, và nhằm đạt đến một mục tiêu nhất định (Trần Xuân Cầu, Mai Quốc Chánh, 2008). Đào tạo nghề cho lao động Là quá trình trang bị kiến thức nhất định về trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho người lao động để họ có thể đảm nhận một công việc nhất định. Hay nói cách khác đó là quá trình truyền đạt, lĩnh hội những kiến thức và kỹ năng cần thiết để người lao động có thể thực hiện một công việc nào đó trong tương lai. Đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học để nâng cao trình độ nghề nghiệp (Quốc hội, 2019).
Đào tạo nghề cho lao động nông thôn Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là quá trình trang bị kiến thức về chuyên môn, nghiệp vụ, thái độ làm việc cho lực lượng lao động nông thôn, để sau khi được đào tạo họ có thể đảm nhận được một công việc nhất định, nuôi sống được họ đồng thời đáp ứng yêu cầu phát triển của tổ chức nói riêng và của xã hội nói chung (Quốc 6 hội, 2019). Với những khái niệm vừa nêu có thể thấy, đào tạo nghề cho lao động nông thôn hàm chứa một số nội dung sau đây: - Đào tạo nghề cho lao động nông thôn hướng đến nâng cao chất lượng nguồn lao động ở khu vực nông thôn để họ có thu nhập đủ sống và thích nghi với xu hướng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn và xây dựng nông thôn mới. - Đào tạo nghề cho lao động nông thôn thích ứng với xu hướng đa dạng hóa ngành, nghề ở nông thôn, trong đó chú trọng đào tạo những nhóm nghề sau: + Đào tạo ngành nghề phục vụ phát triển nông nghiệp hàng hóa theo hướng hiện đại, hội nhập kinh tế quốc tế. + Đào tạo ngành nghề phi nông nghiệp, bao gồm: Ngành nghề phục vụ phát triển công nghiệp, nhất là ngành nghề phục vụ phát triển tiểu thủ công nghiệp, thúc đẩy nông nghiệp hàng hóa phát triển; ngành dịch vụ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực nông thôn, trong đó chú trọng phát triển dịch vụ phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn (Trần Xuân Cầu, Mai Quốc Chánh, 2008).
Chủ trương chính sách Nhà nước Thực hiện Nghị quyết số 26 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X, ngày 28/10/2008, Chính phủ ra Nghị quyết số 24/2008/NĐ-CP ban hành chương trình hành động của Chính phủ. Một trong những nhiệm vụ chủ yếu trong Chương trình hành động là đào tạo nguồn nhân lực nông thôn, trong đó đề ra mục tiêu “tập trung đào tạo nguồn nhân lực nông thôn, chuyển một bộ phận lao động nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập của dân cư nông thôn tăng lên 2,5 lần so với hiện nay”. Tập trung đào tạo cho bộ phận con em nông dân đủ trình độ, năng lực vào làm việc ở các cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ và chuyển nghề; bộ phận nông dân còn tiếp tục sản xuất nông nghiệp được đào tạo về kiến thức và kỹ năng để thực hành sản xuất nông nghiệp hiện đại; đồng thời tập trung đào tạo nâng cao kiến thức cho cán bộ quản lý, cán bộ cơ sở. Để cụ thể hóa chương trình hành động, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 971/QĐ-TTg ngày 1/7/2015 về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định 1956/2009/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho LĐNT đến năm 2020” (Thủ 7 tướng Chính phủ, 2015).
Đề án nêu rõ quan điểm “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là sự nghiệp của Đảng và Nhà nước, của các cấp, các ngành và xã hội nhằm nâng cao chất lượng LĐNT, đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn”. “Nhà nước tăng cường đầu tư để phát triển ĐTN cho LĐNT, có chính sách đảm bảo thực hiện công bằng xã hội về cơ hội học nghề đối với LĐNT, khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia ĐTN cho LĐNT”. Đây là cơ sở tạo hành lang pháp lý để hoạt động ĐTN cho LĐNT phát triển nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn theo mục tiêu đã đề ra. Đề án 1956 đã đề ra mục tiêu tổng quát: Bình quân hằng năm ĐTN cho khoảng 1 triệu LĐNT, trong đó đào tạo, bồi dưỡng cho 100.000 lượt cán bộ, công chức xã.
Đề án có 3 chính sách gồm: chính sách đối với người học nghề trình độ SCN và dạy nghề dưới 3 tháng (chia thành 3 nhóm đối tượng, mức hỗ trợ tùy theo nhóm đối tượng, tối đa từ 2 đến 3 triệu đồng/người/khóa học); chính sách đối với giáo viên, giảng viên; chính sách đối với cơ sở ĐTN cho LĐNT (hỗ trợ đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị dạy nghề, chương trình giáo trình, học liệu). Đề án đề ra 5 giải pháp và 2 hoạt động chính để thực hiện các chính sách trên. Tổng kinh phí thực hiện Đề án từ Ngân sách nhà nước dự kiến là 25.980 tỷ đồng, để thực hiện 2 hoạt động gồm: ĐTN cho LĐNT: 24.694 tỷ đồng; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã: 1. Đây là Đề án lớn nhất trong lĩnh vực ĐTN từ trước đến nay cả về nội dung, quy mô và kinh phí (Chính phủ, 2009).
Mục tiêu cụ thể cho từng giai đoạn Theo Quyết định số 971/QĐ-TTg ngày 1/7/2015, mục tiêu cụ thể cho giai đoạn 2016 - 2020 (Thủ tướng Chính phủ, 2015) Đào tạo nghề cho 6.000 LĐNT, trong đó: + Khoảng 5.000 LĐNT được học nghề (1.000 người học nghề nông nghiệp; 4.000 người học nghề phi nông nghiệp), trong đó đặt hàng dạy nghề khoảng 380.000 người thuộc diện hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, LĐNT bị thu hồi đất canh tác có khó khăn về kinh tế. Tỷ lệ có việc làm sau khi học nghề trong giai đoạn này tối thiểu đạt 80%; 8 + Đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, năng lực quản lý hành chính, quản lý kinh tế - xã hội chuyên sâu cho khoảng 500.000 lượt cán bộ, công chức xã đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, quản lý kinh tế - xã hội thời kỳ CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn. Đối tượng Theo Quyết định số 971/QĐ-TTg ngày 1/7/2015, đề án đào tạo nghề, đối tượng chính sách gồm (Thủ tướng Chính phủ, 2015). - LĐNT trong độ tuổi lao động, có trình độ học vấn và sức khỏe phù hợp với nghề cần học.
Trong đó ưu tiên dạy nghề cho các đối tượng là người thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, hộ nghèo, hộ có thu nhập tối đa bằng 150% thu nhập của hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người thị thu hồi đất canh tác. - Cán bộ chuyên trách đảng, đoàn thể chính trị - xã hội, chính quyền và công chức chuyên môn xã; cán bộ nguồn bổ sung thay thế cho cán bộ, công chức xã đến tuổi nghỉ công tác hoặc thiếu hụt do cơ học có độ tuổi phù hợp với quy hoạch cán bộ đến năm 2015 và đến năm 2020. Chính sách Theo Quyết định số 971/QĐ-TTg ngày 1/7/2015, nội dung chính sách gồm: (Thủ tướng Chính phủ, 2015). (1) Chính sách đối với người học - LĐNT thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người bị thu hồi đất canh tác được hỗ trợ chi phí học nghề ngắn hạn (trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng) với mức tối đa 03 triệu đồng/người/khóa học (mức hỗ trợ cụ thể theo từng nghề và thời gian học nghề thực tế); hỗ trợ tiền ăn với mức 15.