Chương 1. Tổng quan về các biện pháp gia cƣờng cầu dầm bê tông cốt thép. Hiện trạng và lý thuyết tính toán gia cƣờng cầu Sông Re II Chương 3. Tính toán gia cƣờng kết cấu nhịp cầu Sông Re II bằng hệ cáp DUL ngoài.
3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC BIỆN PHÁP GIA CƢỜNG CẦU DẦM BÊ TÔNG CỐT THÉP Hiện nay, trên thế giới cũng nhƣ ở Việt Nam có rất nhiều biện pháp gia cố và tăng cƣờng cho các công trình cầu BTCT cũ, nhƣ: - Gia cƣờng bằng phƣơng pháp tăng cƣờng tiết diện; - Gia cƣờng bằng phƣơng pháp dán tấm polymer cốt sợi cacbon (FRP); - Gia cƣờng bằng phƣơng pháp dùng hệ cáp dự ứng lực căng ngoài; Tuy nhiên xu hƣớng gần đây sử dụng hệ cáp dự ứng lực căng ngoài để gia cố và tăng cƣờng các công trình cầu khá phổ biến. Đối với cầu BTCT thì đây là phƣơng pháp có ƣu điểm nhƣ hiệu quả gia cƣờng phát huy đƣợc rất tốt, phƣơng pháp này khá phù hợp với cầu Sông Re II. GIA CƢỜNG BẰNG PHƢƠNG PHÁP TĂNG CƢỜNG TIẾT DIỆN 1. Nguyên tắc cấu tạo Căn cứ vào từng trƣờng hợp cụ thể, việc gia cố bằng phƣơng pháp tăng cƣờng tiết diện có thể thực hiện nhƣ sau: - Tăng cƣờng tiết diện BT; - Tăng cƣờng tiết diện cốt thép; - Tăng cƣờng tiết diện bê tông kết hợp với tăng cƣờng tiết diện cốt thép.
a) Tăng bề rộng và chiều cao tiết diện b) Tăng cốt thép chịu kéo c) Tăng chiều cao và cốt thép chịu kéo Hình 1.1: Các dạng tiết diện tăng cường 4 Nếu mức độ tăng cƣờng khả năng chịu lực của dầm không nhiều lắm thì chỉ cần tăng số lƣợng cốt thép chủ bằng cách hàn thêm một số cốt thép phụ vào những cốt thép chủ cũ của dầm, rồi trát vữa xi măng hay BT phun. Có thể hàn trực tiếp cốt thép mới vào cốt thép cũ hoặc đặt một miếng nêm vào giữa chúng, miếng nêm này là đoạn thép tròn, đƣờng kính 10 – 30 mm, dài 8 – 20 cm; các đoạn hàn cách nhau khoảng 100cm. Nhƣ vậy chiều cao của tiết diện đƣợc gia cƣờng tăng lên 2 – 8 cm. Nếu cần tăng cƣờng khả năng chịu lực của dầm lên nhiều thì phải tăng chiều cao tiết diện dầm về phía dƣới bằng cách đặt thêm cốt thép chủ mới, hàn vào cốt thép chủ cũ bằng các đoạn thép vai bò, thép đai đứng hoặc xiên.
BT ốp tăng cƣờng tiết diện nên dùng BT có mác không nhỏ hơn mác BT của kết cấu cũ. Tùy theo điều kiện sử dụng công trình mà chọn loại xi măng và cốt liệu thích hợp. Chiều dày tối thiểu của phần BT ốp 30 – 40 mm khi dùng BT phun và không dƣới 60mm khi đổ thủ công. Độ sụt BT 3 – 4 cm khi sử dụng máy đầm và điều kiện dễ thao tác, 8 – 10 cm khi đầm bằng tay.
Ƣu nhƣợc điểm của phƣơng pháp tăng cƣờng tiết diện a. Ưu điểm: Có tính kinh tế, tốn ít vật liệu mà hiệu quả tăng cƣờng khả năng chịu lực cho kết cấu vẫn lớn, sửa chữa đƣợc những hƣ hỏng có trƣớc, giữ nguyên tính toàn khối của kết cấu bê tông cốt thép. Việc thi công không phức tạp, không có yêu cầu gì đặc biệt về vật tƣ, phƣơng tiện. Nhược điểm: Chỉ áp dụng đƣợc cho kết cấu BTCT thƣờng, thi công ở nơi sông không sâu, không có khổ thông thuyền.
Không lƣu thông đƣợc trên cầu khi tiến hành gia cƣờng. Sự tham gia làm việc của phần tăng cƣờng với kết cấu cần tăng cƣờng không đƣợc chặt chẽ nhƣ một khối thống nhất. Vì phần BT cũ và BT mới có thể hình thành một mặt trƣợt do lực dính giữa chúng không thể đảm bảo nhƣ nguyên khối. Hơn nữa, trong quá trình đóng rắn, phần BT mới sẽ bị co ngót, có nguy cơ phá vỡ độ dính kết với phần đƣợc tăng cƣờng.
Đồng thời có sự chênh lệch về ứng suất giữa phần gia cƣờng và phần đƣợc gia cƣờng, càng làm tăng khả năng trƣợt giữa 2 lớp vật liệu cũ và mới, làm giảm hiệu quả của phần gia cƣờng. GIA CƢỜNG CẦU BẰNG TẤM POLYMER CỐT SỢI CACBON (FRP) Tấm Polime cốt sợi các bon theo tiếng Anh là: Fiber Reinforced Polymer (FRP) là một dạng vật liệu composite đƣợc chế tạo từ các vật liệu sợi. Có ba loại vật liệu sợi thƣờng đƣợc sử dụng là sợi cacbon, sợi thủy tinh, sợi aramid. Các sản phẩm FRP tƣơng ứng với các loại sợi sử dụng tạo thành là: CFRP, GFRP, AFRP.
Vật liệu FRP có các dạng nhƣ: FRP dạng tấm, FRP dạng thanh, FPR dạng cáp, FRP dạng vải, dạng cuộn. Trong sửa chữa và tăng cƣờng kết cấu thƣờng dùng dạng tấm và dạng vải. Tăng cƣờng tải trọng bằng công nghệ này chính là việc áp dụng tấm polime cốt sợi Cac-bon nhằm tăng khả năng chịu lực và chống nứt kết cấu cầu BTCT thay thế cho phƣơng pháp dán bản thép đã áp dụng ở Việt Nam trƣớc đây. Việc thiết kế chống trƣợt 5 và võng tuân thủ theo thiết kế kết cấu BT truyền thống.
Phải xem đến độ biến dạng tới hạn riêng của thép và tấm mỏng. Phƣơng pháp phân tích dàn ảo, mép của tấm mỏng phải đƣợc neo vào phía ngoài của BT theo hƣớng của các lực kéo. Tấm của FRP có thể phá vỡ do sự phá vỡ của độ dính bám dọc cùng với sự rạn nứt của BT, nhƣ đã đƣợc biết biết đến đối với các tấm thép. Kiểm tra về độ bám dính đã chỉ ra rằng, mô hình trƣớc đây về độ bám dính có thể thích ứng đƣợc cho tấm FRP.
Quá trình phát triển của vật liệu FRP Kết cấu BTCT là loại vật liệu có sự tiến hóa theo thời gian và rất nhạy cảm với các điều kiện môi trƣờng. Cả BT lẫn thép, hai loại vật liệu cấu thành nên kết cấu BTCT, dƣới tác động xâm thực mạnh của môi trƣờng đều dễ bị suy thoái theo thời gian. Cách đây vài thế kỷ ngƣời ta đã có ý tƣởng sử dụng vật liệu composit trong xây dựng. Ở các nƣớc châu Âu và Bắc Mỹ nhƣ Canada, Mỹ đã nghiên cứu ra loại vật liệu mới nhằm tăng cƣờng khả năng chịu lực cho công trình.
Sản phẩm composit đầu tiên đƣợc biết đến là FRP có cốt sợi thủy tinh và chất nền là polyester dùng để sản xuất vỏ thuyền vào năm 1930. Từ đó vật liệu FRP đã có một cuộc cách mạng toàn diện trên tất cả các ngành nhƣ không gian vũ trụ, ngành điện, giao thông… Do có cƣờng độ cao và trọng lƣợng nhẹ nên những năm 60 của thế kỷ trƣớc, các ngành hàng không và ngành sản xuất ô tô cũng đã sử dụng loại vật liệu này. Xe hơi & Ptiện GT Tàu thủy & Ptiện GT thuỷ 3% 20% Hàng không 32% Đồ dùng Thiết bị 22% 10% 5% 7% 1% Điện & điện tử Xây dựng Các sản phẩm khác Hình 1.2: Biểu đồ thể hiện sự phân bố ứng dụng vật liệu composit ở Mỹ năm 2004 (Nguồn ACMA) Từ biểu đồ trên cho chúng ta thấy ứng dụng vật liệu composit vào các ngành xây dựng chiếm tỷ lệ lớn là 20%. Ý tƣởng về ứng dụng composit trong xây dựng xuất hiện bắt đầu từ năm 1950.
Từ thời điểm này hƣớng phát triển chính của vật liệu FRP trong xây dựng là ứng dụng FRP để tăng cƣờng và sửa chữa kết cấu BTCT. Trong suốt những năm 1970 đến những năm 1980 nhiều ứng dụng của vật liệu FRP đã phổ biến ở Châu Âu, Mỹ. Năm 1986, cầu Kattenbausch ở Đức đƣợc sửa chữa bằng vật liệu FRP. Vật liệu FRP có nhiều ƣu điểm nên đƣợc sử dụng rộng rải trong xây dựng tại Nhật Bản, Mỹ, châu Âu và bắt đầu xuất hiện ở các nƣớc Đông Nam Á.
Dƣới đây là một số ƣu điểm chính của vật liệu FRP. 6 + Cƣờng độ chịu kéo, mô đun đàn hồi rất cao và trọng lƣợng nhỏ; + Khả năng chống mài mòn cao, có sức đề kháng tốt với các chất xâm thực; + Độ bền rất cao; + Cách điện, chịu nhiệt tốt; + Thi công đơn giản ít tốn nhân công, không cần máy móc; + Chịu mỏi cao; + Không cần bão dƣỡng chống rỉ trong quá trình khai thác. Vật liệu Tấm FRP có cấu trúc nền là Epoxy và cấu trúc sợi là sợi cacbon. Đƣợc đặt chủ yếu theo chiều dọc, sợi ngang ít hơn và đƣợc dệt vuông.
Tấm FRP thƣơng phẩm có độ dày từ 1-1,5 mm và chiều rộng từ 50-100 mm. Tấm này chứa 60-70% (theo thể tích) sợi cacbon với đƣờng kính khoản 8µm, đƣợc rải theo hƣớng nhất định trong thảm epoxy. Sợi cacbon có mô-đun đàn hồi 240-900MPa và cƣờng độ chịu kéo 2. Sợi Cacbon là sợi có giá thành đắt nhất so với hai loại sợi thủy tinh và sợi aramid, gấp 5-7 lần sợi thủy tinh.
Sợi cacbon nhẹ hơn và cƣờng độ cao hơn khi so sánh với các sợi thủy tinh và aramid. Chúng có sức kháng rất cao với tải trọng động, đặc biệt mỏi và từ biến, có hệ số giản nở nhiệt thấp. Sợi cacbon đƣợc sản xuất bằng phƣơng pháp nhiệt phân và hữu cơ kết tinh ở nhiệt độ trên 20000C, sợi đƣợc xử lý nhiệt theo nhiều quá trình để tạo ra các sợi các bon. Sản phẩm sợi tạo thành có các thay đổi nên tồn tại nhiều loại sợi khác nhau.
Hiện nay sợi cacbon ngày càng sử dụng phổ biến trong kết cấu xây dựng do chúng có các ƣu điểm, nhƣ: Cƣờng độ cao, trọng lƣợng nhẹ, khả năng chống mài mòn cao. Tính chất của tấm theo chiều dọc hầu nhƣ bị chi phối mạnh mẻ bởi sợi cacbon. Tấm FRP có Mô-đun đàn hồi 150-300 MPa và cƣờng độ kéo 2. Tƣơng tự nhƣ sợi cacbon, đƣờng biến thiên giữa ứng suất và độ biến dạng của các tấm là tuyến tính đàn hồi cho đến khi bị phá hủy.
Mặc dù vai trò của thảm epoxy đối với cƣờng độ của các tấm là không đáng kể nhƣng cƣờng độ kéo khoản 60-90 MPa cao hơn rất nhiều so với cƣờng độ BT là yếu tố phải có để truyền các ứng suất bám dính. Độ biến dạng cực đại cao 3-5% đảm bảo sức chịu của các sợi đối với toàn bộ ứng suất có thể có trong tấm. Cƣờng độ tức thời của tấm polime cốt sợi cacbon thích hợp cho việc chịu tải trọng của cầu. Độ co giãn do trƣợt và đồng trục cũng nhƣ độ nới lỏng là không đáng kể.
* Chất kết dính Chất kết dính hay còn gọi là chất dẻo nền phần lớn là epoxy hai thành phần trộn với cốt liệu. Cƣờng độ kéo ≥ 30 MPa vƣợt hơn BT gấp 10 lần. Chất kết dính epoxy có độ co ngót và biến dạng mỏi thấp cũng nhƣ sức đề khan hóa học và chịu nhiệt cao. Các chất 7 keo dán cũng đã đƣợc thử nghiệm có kết quả và đƣợc bán kèm với tấm polime cốt sợi cacbon.