Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam sở hữu nguồn tài nguyên dược liệu phong phú với khoảng 3.984 đến 4.700 loài thực vật làm thuốc, trong đó có xấp xỉ 30% loài đặc hữu quý hiếm. Nằm ở vùng Đông Bắc tỉnh Quảng Ninh, huyện Ba Chẽ có địa hình đồi núi đặc trưng với tỷ lệ rừng và đất rừng chiếm tới 90,8% tổng diện tích tự nhiên 60.855,56 ha. Điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa mát mẻ cùng thổ nhưỡng đất feralit thung lũng đá vôi tạo môi trường sống lý tưởng cho cây ba kích tím – loài cây dược liệu bản địa có giá trị kinh tế và y học vượt trội.

Tuy nhiên, thực trạng khai thác tự nhiên quá mức cùng tập quán canh tác nương rẫy trước đây đã làm thảm thực vật suy thoái nghiêm trọng, đẩy loài cây này vào nguy cơ tuyệt chủng và phải đưa vào Sách đỏ Việt Nam. Nhằm bảo tồn nguồn gen và chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đề tài tập trung đánh giá thực trạng, hiệu quả kinh tế và các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất cây ba kích trên địa bàn huyện Ba Chẽ trong giai đoạn 2017 – 2019. Mục tiêu nghiên cứu hướng tới việc xây dựng cơ sở khoa học và đề xuất các giải pháp khả thi giúp mở rộng quy mô sản xuất hàng hóa tập trung, nâng cao thu nhập cho người dân địa phương.

Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi sản phẩm ba kích khô Ba Chẽ có giá bán cao dao động từ 1,5 đến 1,7 triệu đồng/kg (với tỷ lệ quy đổi 5 kg củ tươi đạt 1 kg củ khô). Cây trồng này trở thành mũi nhọn kinh tế trọng tâm giúp huyện thực hiện chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện từ 3,88% năm 2016 xuống còn 0,99% vào năm 2019. Đồng thời, kết quả nghiên cứu là luận cứ trực tiếp hỗ trợ địa phương hiện thực hóa công văn quy hoạch vùng trồng ba kích tập trung với quy mô 616 ha theo định hướng phát triển dược liệu của tỉnh Quảng Ninh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên lý thuyết hiệu quả kinh tế trong kinh tế học nông nghiệp, kết hợp hài hòa giữa ba khía cạnh: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường sinh thái. Bản chất của hiệu quả kinh tế phản ánh mối tương quan tối ưu giữa kết quả đầu ra thu được và lượng chi phí đầu vào mà hộ nông dân bỏ ra trong chu kỳ sản xuất 5 đến 7 năm. Bên cạnh đó, luận văn vận dụng lý thuyết lợi thế kinh tế theo quy mô nhằm kiểm chứng giả thuyết về sự khác biệt trong việc tối ưu hóa chi phí giữa các nhóm hộ có diện tích canh tác khác nhau.

Hệ thống khái niệm và chỉ tiêu chính được áp dụng xuyên suốt gồm:

  • Giá trị sản xuất (GO): Toàn bộ giá trị sản phẩm ba kích mà hộ thu hoạch và thương mại hóa trong năm.
  • Chi phí trung gian (IC): Các chi phí thường xuyên về giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và dịch vụ kỹ thuật.
  • Tổng chi phí (TC): Bao gồm chi phí trung gian, chi phí lao động gia đình lẫn thuê ngoài, khấu hao công cụ và chi phí quản lý khác.
  • Giá trị gia tăng (VA): Chênh lệch giữa giá trị sản xuất và chi phí trung gian (VA = GO - IC).
  • Các chỉ số sinh lời phản ánh chiều sâu: Hiệu quả sử dụng chi phí (GO/TC, VA/TC) và hiệu quả sử dụng lao động (VA/V).

Khung đánh giá này đặc biệt chú trọng mối liên kết xã hội khi cộng đồng dân tộc thiểu số tại Ba Chẽ chiếm hơn 80% dân số (trong đó người Dao chiếm 41%), biến việc phát triển dược liệu thành công cụ an sinh xã hội bền vững trên các vùng đất có độ dốc trên 20 độ.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp đa chiều từ dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2017 – 2019 thông qua các báo cáo của Chi cục Thống kê huyện Ba Chẽ, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cùng các văn bản chỉ đạo như Quyết định số 1976/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Công văn số 2802/UBND-NLN1 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra khảo sát trực tiếp 45 hộ nông dân trồng ba kích tại 3 xã trọng điểm: Minh Cầm (15 hộ), Đồn Đạc (15 hộ) và Đạp Thanh (15 hộ). Đây là các địa bàn đại diện cho gần 60% diện tích ba kích toàn huyện và phản ánh rõ nét sự đa dạng về địa hình, khí hậu ở các tiểu vùng Tây, Đông và Nam của huyện Ba Chẽ. Cỡ mẫu 45 hộ được phân tầng theo ba nhóm quy mô canh tác: nhóm hộ nhỏ dưới 1 ha (24 hộ), nhóm hộ trung bình từ 1 đến 2 ha (13 hộ), và nhóm hộ quy mô lớn trên 2 ha (8 hộ). Phương pháp chọn mẫu áp dụng là kỹ thuật định hướng kết hợp ngẫu nhiên không lặp lại, đảm bảo tính đại diện thống kê cao và phản ánh chính xác kinh nghiệm canh tác thực tế của các hộ đã cho thu hoạch củ.

Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu bao gồm thống kê mô tả, so sánh định lượng được thực hiện trên phần mềm Microsoft Excel nhằm lượng hóa các chỉ tiêu GO, IC, VA và các tỷ suất sinh lời. Phương pháp ma trận SWOT được tích hợp để nhận diện điểm mạnh, điểm yếu nội tại kết hợp cơ hội, thách thức từ thị trường, làm căn cứ vững chắc cho các đề xuất chính sách.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực trạng sản xuất cây ba kích trên địa bàn huyện Ba Chẽ giai đoạn 2017 – 2019 ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực cả về quy mô lẫn năng suất:

Thứ nhất, diện tích trồng cây ba kích tăng trưởng ổn định. Tổng diện tích ba kích toàn huyện tăng từ 66,02 ha năm 2017 lên 69,45 ha năm 2018 và đạt 76,29 ha năm 2019, tương ứng với tốc độ tăng trưởng bình quân 7,52%/năm. Trong cơ cấu cây dược liệu chính của huyện năm 2019 (đạt 780,19 ha), cây ba kích chiếm tỷ trọng áp đảo lên tới 68,45% (vượt xa các cây dược liệu khác như cát sâm chiếm 9,78% và sâm cau chiếm 8,45%).

Thứ hai, năng suất và sản lượng thu hoạch tăng đều qua các năm. Năng suất ba kích bình quân tăng từ 20,11 tấn/ha (năm 2017) lên 21,05 tấn/ha (năm 2018) và cán mốc 23,81 tấn/ha vào năm 2019, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 8,89%/năm. Nhờ sự gia tăng đồng thời của diện tích kinh doanh (đạt 51,02 ha năm 2019) và năng suất, tổng sản lượng ba kích toàn huyện tăng từ 907,36 tấn (năm 2017) lên 1.214,79 tấn (năm 2019), đạt tốc độ tăng trưởng bình quân ấn tượng 15,73%/năm.

Thứ ba, sự phân bổ sản xuất có sự chuyển dịch rõ rệt giữa các xã. Xã Minh Cầm có diện tích dược liệu lớn nhất huyện đạt 74,62 ha năm 2019, trong khi xã Đồn Đạc ghi nhận tốc độ tăng trưởng diện tích ba kích vượt bậc bình quân 113,37% nhờ người dân chủ động chuyển đổi từ khai thác rừng tự nhiên sang trồng dược liệu chuyên canh.

Thứ tư, hệ thống lưu thông sản phẩm vẫn phụ thuộc lớn vào trung gian. Kết quả điều tra thực tế chỉ ra 4 kênh phân phối chính, nhưng lượng củ tươi bán qua thương lái bán buôn và bán lẻ chiếm phần lớn sản lượng, trong khi tỷ lệ nông hộ bán trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ.

Thảo luận kết quả

Khi phân tích kết quả nghiên cứu, dữ liệu biến động sản xuất được thể hiện rõ ràng qua hệ thống bảng biểu đối chiếu và biểu đồ đường tăng trưởng năng suất (tăng từ 20,11 lên 23,81 tấn/ha trong 3 năm). Việc năng suất liên tục cải thiện xuất phát từ việc nông dân đã nắm vững kỹ thuật chăm sóc sau trồng, bón lót phân chuồng hoai mục (từ 0,5 đến 3 kg/gốc kết hợp NPK) và áp dụng mật độ trồng hợp lý từ 2.500 đến 5.000 cây/ha tùy theo độ dốc địa hình.

Biểu đồ cơ cấu cây dược liệu cũng làm nổi bật vai trò hạt nhân của cây ba kích khi đóng góp gần 70% diện tích thu hoạch toàn huyện. So sánh với các mô hình trồng ba kích tại huyện Văn Chấn (Yên Bái) hay huyện Võ Nhai (Thái Nguyên) – nơi giá củ tươi dao động 180.000 – 200.000 đồng/kg, cây ba kích Ba Chẽ khẳng định vị thế vượt trội về mặt chất lượng nhờ điều kiện tiểu khí hậu thung lũng núi cao, giúp giá củ khô đạt ngưỡng 1,5 – 1,7 triệu đồng/kg.

Tuy vậy, sản xuất ba kích tại Ba Chẽ vẫn bộc lộ hạn chế lớn: tính tự phát còn cao, quy mô phân tán theo kinh tế hộ và chưa có nhà máy sơ chế, chế biến sâu tại chỗ. Người trồng thường bán củ tươi ngay sau thu hoạch tháng 10 – 11 do áp lực bảo quản, dẫn đến việc giá trị gia tăng bị phân khúc thương mại trung gian chiếm lĩnh phần lớn.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích SWOT và đánh giá thực tiễn, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế cây ba kích:

Thứ nhất, hoàn thiện quy hoạch vùng sản xuất tập trung. Ủy ban nhân dân huyện Ba Chẽ chủ trì phối hợp với Phòng Nông nghiệp thiết lập ranh giới vùng trồng ba kích chuyên canh 616 ha theo quy hoạch đến năm 2025. Chuyển đổi tối thiểu 15% diện tích đất đồi nương rẫy và cây hàng năm kém hiệu quả sang trồng ba kích, tạo tiền đề hình thành vùng nguyên liệu đạt chuẩn thực hành tốt trồng trọt và thu hái dược liệu.

Thứ hai, chuẩn hóa kỹ thuật nhân giống và canh tác. Trung tâm Dịch vụ Kỹ thuật Nông nghiệp huyện tổ chức chuyển giao công nghệ nhân giống bằng nuôi cấy mô tế bào (đạt tỷ lệ sống ngoài vườn ươm trên 96%) và giâm hom xử lý chất kích thích ra rễ. Đảm bảo tỷ lệ nảy mầm hạt giống đạt trên 90%, khuyến cáo nông dân đào hố đúng quy cách 40 x 40 x 40 cm, tuyệt đối không dùng thuốc trừ cỏ, duy trì mật độ từ 2.500 đến 5.000 cây/ha nhằm nâng năng suất củ tươi đạt trên 25 tấn/ha vào giai đoạn 2022 – 2025.

Thứ ba, đầu tư cơ sở chế biến sâu và hoàn thiện chuỗi liên kết. Ban Quản lý các cụm công nghiệp huyện Ba Chẽ và các Hợp tác xã nông nghiệp đẩy mạnh liên kết với các doanh nghiệp dược phẩm, trường đại học; xây dựng 1 đến 2 cơ sở sơ chế, sấy khô đạt chuẩn chất lượng. Mục tiêu giảm tỷ lệ hao hụt sau thu hoạch xuống dưới 5%, đồng thời phát triển các dòng sản phẩm OCOP đạt chuẩn 4 đến 5 sao như trà túi lọc, cao ba kích và rượu ba kích đóng chai.

Thứ tư, đẩy mạnh phát triển thương hiệu và xúc tiến thương mại. Phòng Kinh tế và Hạ tầng huyện đăng ký chỉ dẫn địa lý "Ba kích Ba Chẽ", chuẩn hóa bao bì, tem truy xuất nguồn gốc hai lớp. Mở rộng tiêu thụ qua hệ thống trung tâm OCOP tỉnh Quảng Ninh và sàn thương mại điện tử, giúp giảm sự phụ thuộc vào thương lái trung gian và nâng cao giá trị gia tăng từ 20% đến 25% cho mỗi hộ sản xuất.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là nguồn tài liệu hữu ích cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Lãnh đạo Ủy ban nhân dân huyện, Phòng Nông nghiệp và Trung tâm Khuyến nông có căn cứ thực chứng để ban hành chính sách hỗ trợ tín dụng, phân bổ quỹ đất và triển khai quy hoạch vùng dược liệu 616 ha tại các huyện miền núi có điều kiện tự nhiên tương đồng.

  2. Doanh nghiệp dược liệu và Hợp tác xã nông nghiệp: Các đơn vị kinh doanh có được bộ dữ liệu chi tiết về chi phí đầu tư kiến thiết cơ bản, chi phí vận hành giai đoạn kinh doanh và chu kỳ sinh trưởng 5 – 7 năm của cây ba kích để xây dựng phương án liên kết chuỗi giá trị và đầu tư nhà máy chế biến sâu.

  3. Hộ nông dân và trang trại trồng dược liệu: Nông hộ tiếp cận được quy trình canh tác chuẩn xác từ khâu chọn giống (tỷ lệ nảy mầm 91%), kỹ thuật đào hố bón lót, phương pháp che phủ tán rừng từ 30% đến 50%, đến kỹ thuật sơ chế củ khô giúp nâng cao năng suất và tối ưu hóa lợi nhuận.

  4. Giảng viên, sinh viên và nghiên cứu viên ngành Kinh tế nông nghiệp: Đây là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận nghiên cứu kinh tế hộ, mô hình phân tầng khảo sát mẫu (45 hộ), cách tính toán các hệ thống chỉ tiêu GO, IC, VA và ứng dụng ma trận SWOT trong phân tích ngành hàng nông sản.

Câu hỏi thường gặp

  1. Hiệu quả kinh tế của cây ba kích tại huyện Ba Chẽ được ghi nhận như thế nào? Cây ba kích mang lại nguồn thu nhập vượt trội so với cây lương thực truyền thống. Sản phẩm củ khô Ba Chẽ đạt mức giá từ 1,5 đến 1,7 triệu đồng/kg (5 kg củ tươi thu được 1 kg củ khô). Năng suất củ năm 2019 đạt bình quân 23,81 tấn/ha, giúp nhiều hộ nông dân thu lãi hàng trăm triệu đồng mỗi chu kỳ thu hoạch.

  2. Cỡ mẫu và phương pháp điều tra trong luận văn được tiến hành ra sao? Nghiên cứu khảo sát 45 hộ nông dân tại 3 xã đại diện (Minh Cầm 15 hộ, Đồn Đạc 15 hộ, Đạp Thanh 15 hộ). Mẫu được phân tầng theo ba nhóm quy mô: dưới 1 ha (24 hộ), từ 1 đến 2 ha (13 hộ), và trên 2 ha (8 hộ) bằng phương pháp chọn mẫu định hướng kết hợp ngẫu nhiên không lặp lại.

  3. Năng suất và sản lượng ba kích của huyện biến động thế nào trong giai đoạn 2017 – 2019? Giai đoạn 2017 – 2019 ghi nhận mức tăng trưởng liên tục. Năng suất củ tươi tăng từ 20,11 tấn/ha lên 23,81 tấn/ha (tăng bình quân 8,89%/năm). Tổng sản lượng ba kích toàn huyện tăng mạnh từ 907,36 tấn lên 1.214,79 tấn, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 15,73%/năm.

  4. Khó khăn lớn nhất trong phát triển cây ba kích tại huyện Ba Chẽ là gì? Thực trạng khó khăn nằm ở phương thức canh tác manh mún, phân tán theo hộ gia đình và thiếu vắng cơ sở chế biến sâu tại địa phương. Do đó, người dân chủ yếu bán củ tươi qua hệ thống thương lái trung gian, khiến giá bán thiếu ổn định và dễ bị ép giá khi vào vụ thu hoạch.

  5. Phương pháp nhân giống ba kích nào mang lại tỷ lệ thành công cao nhất? Phương pháp nuôi cấy mô tế bào đạt tỷ lệ cây sống ngoài vườn ươm từ 96,1% đến 97,9% sau 60 ngày. Đối với phương pháp gieo hạt, khi xử lý ủ cát ẩm theo tỷ lệ 1 hạt trộn 3 cát, tỷ lệ nảy mầm đạt tới 91% sau 17 đến 25 ngày gieo trồng.

Kết luận

  • Đề tài đã hệ thống hóa hoàn chỉnh cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế sản xuất cây ba kích trong mối quan hệ gắn kết đa chiều giữa kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường.
  • Làm rõ thực trạng phát triển vượt bậc của cây ba kích tại huyện Ba Chẽ giai đoạn 2017 – 2019, với sản lượng đạt 1.214,79 tấn và diện tích canh tác mở rộng lên 76,29 ha.
  • Xác định chính xác 4 nhóm rào cản nội tại về giống, kỹ thuật sơ chế, thiếu hụt nhà máy chế biến sâu và sự phụ thuộc vào kênh thương lái trung gian.
  • Xây dựng hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ có tính khả thi cao nhằm hoàn thành mục tiêu quy hoạch 616 ha vùng trồng dược liệu tập trung của tỉnh Quảng Ninh.
  • Cung cấp bộ dữ liệu điều tra thực chứng 45 hộ nông dân, đóng góp nguồn tài liệu tham khảo giá trị cho công tác nghiên cứu và đào tạo chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp.

Lộ trình tiếp theo đòi hỏi chính quyền địa phương và các đơn vị liên quan triển khai ngay việc xây dựng nhà máy sơ chế đạt chuẩn OCOP trong giai đoạn 2021 – 2025. Các cơ quan quản lý, doanh nghiệp chế biến và nông hộ cần tăng cường liên kết chuỗi giá trị để đưa ba kích Ba Chẽ trở thành thương hiệu dược liệu quốc gia vững mạnh.