CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Một số vấn đề liên quan đến đất nông nghiệp 1. Sử dụng đất và các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng đất Sử dụng đất là hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa mối quan hệ người - đất trong tổ hợp với các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và môi trường [7] * Những yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng đất - Yếu tố điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, thủy văn, tài nguyên nước ảnh hưởng đến việc sử dụng đất đai.
- Yếu tố về kinh tế - xã hội: Cơ cấu kinh tế, dân số, lao động, cơ sở hạ tầng ảnh hưởng đến sử dụng đất. Khái niệm về Đất và Đất nông nghiệp Đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến những khái niệm, định nghĩa về đất. Khái niệm đầu tiên của học giả người Nga Docutraiep (năm 1886), cho rằng “Đất là một vật thể thiên nhiên cấu tạo độc lập lâu đời do kết quả quá trình hoạt động tổng hợp của 5 yếu tố hình thành đất đó là sinh vật, đá mẹ, khí hậu, địa hình và thời gian”. Tuy vậy, khái niệm này chưa đề cập đến khả năng sử dụng và sự tác động của các yếu tố khác tồn tại trong môi trường xung quanh.
Do đó sau này một số học giả khác đã bổ sung các yếu tố nước của đất, nước ngầm và đặc biệt là vai trò của con người để hoàn chỉnh khái niệm về đất nêu trên. Ngoài ra, còn có một số học giả khác cũng có những khái niệm về đất như sau: Học giả người Anh V.R William đã đưa ra khái niệm “Đất là lớp mặt tơi xốp của lục địa có khả năng tạo ra sản phẩm cho cây trồng [7] Học giả E.Mitscherlich (1923), cho rằng “Đất chỉ là cái giá đỡ, cái kho cung cấp chất dinh dưỡng” và “Đất là cái khối hỗn hợp gồm các phân tử nhỏ, cứng rắn, nước, không khí cần thiết cho thực vật”. Các Mác cho rằng “Đất đai là tư liệu sản xuất cơ bản và phổ biến quý báu nhất của sản xuất nông nghiệp, điều kiện không thể thiếu được của sự tồn tại và tái sinh của hàng loạt thế hệ người kế tiếp nhau”. Như vậy, đất đai là một khoảng không gian có giới hạn gồm khí hậu, lớp đất bề mặt, thảm thực vật, động vật, diện tích mặt nước, nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất.
Trên bề mặt đất đai là sự kết hợp giữa các yếu tố thổ nhưỡng, địa hình, thuỷ văn, thảm thực vật cùng với các thành phần khác có vai trò quan trọng và ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất và cuộc sống của xã hội loài người. Như Luật đất đai (2003) đã khẳng định: Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh và quốc phòng. Còn theo Luật đất đai (2013), “Đất nông nghiệp bao gồm đất sản xuất nông nghiệp (đất trồng lúa, đất đồng cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác), đất lâm nghiệp (đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng), đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác theo quy định của Chính phủ".[15] Tại Việt Nam, đất nông nghiệp được định nghĩa là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng. Đất nông nghiệp bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác.
Trong nông nghiệp, đất đai vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động. Ở đây, đất đai không chỉ là chỗ đứng, chỗ tựa của lao động mà còn cung cấp thức ăn cho cây trồng và thông qua sự phát triển của trồng trọt tạo điều kiện cho ngành chăn nuôi phát triển. Với nghĩa đó, đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, là cơ sở 6 tự nhiên sản sinh ra của cải vật chất cho xã hội. Ở nước ta với gần 80% dân số làm trong ngành nông nghiệp cho nên vấn đề phát triển nông nghiệp là mặt trận hàng đầu tạo cơ sở vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Phân loại đất nông nghiệp Theo luật đất đai 2013 [15], nhóm đất nông nghiệp được phân thành các loại sau: - Đất trồng cây hàng năm (đất canh tác) là loại đất dùng trồng các loại cây ngắn ngày, có chu kỳ sinh trưởng không quá một năm. Đất trồng cây hàng năm bao gồm: Đất 3 vụ là đất gieo trồng và thu hoạch được 3 vụ/năm với các công thức 3 vụ lúa, 2 vụ lúa + 1 vụ màu,… Đất 2 vụ có công thức luân canh như lúa - lúa, lúa - ngô, ngô - đậu tương,… Đất 1 vụ là đất trên đó chỉ trồng được một vụ lúa hay một vụ màu/năm. Ngoài ra đất trồng cây hàng năm còn được phân theo các tiêu thức khác và được chia thành các nhóm đất chuyên trồng lúa, đất chuyên trồng màu như ngô, đậu tương… - Đất trồng cây lâu năm gồm đất dùng để trồng các loại cây có chu kỳ sinh trưởng kéo dài trong nhiều năm, phải trải qua thời kỳ kiến thiết cơ bản mới đưa vào kinh doanh, trồng một lần nhưng thu hoạch trong nhiều năm. Đất rừng sản xuất là diện tích đất được dùng để chuyên trồng các loại cây rừng với mục đích sản xuất.
Đất rừng phòng hộ là diện tích đất để trồng rừng với mục đích phòng hộ. Đất rừng đặc dụng là diện tích đất được Nhà Nước quy hoạch, đưa vào sử dụng với mục đích riêng. - Đất nuôi trồng thủy sản là diện tích đất dùng để nuôi trồng thủy sản như tôm, cua, cá… - Đất làm muối là diện tích đất được dùng để phục vụ cho quá trình sản xuất muối. Đặc trưng của đất đai trong sản xuất nông nghiệp Đất đai là nguồn tài nguyên thiên có vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất vật chất.
Có những đặc điểm chủ yếu sau: 7 * Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt và không thể thay thế được Đất đai là tư liệu sản xuất vì nó vừa là tư liệu lao động khi đất đai sản xuất ra sản phẩm, vừa là đối tượng lao động khi đất đai chịu tác động của công cụ lao động. Con người sử dụng hệ thống công cụ tác động vào đất để làm ra sản phẩm. Đất là tư liệu sản xuất chủ yếu bởi vì không có đất thì không có sản xuất nông nghiệp, không có các công trình xây dựng, không có các nhà máy công nghiệp. Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, với các loại tư liệu sản xuất khác trong quá trình sử dụng chúng bị hao mòn, nhưng đối với đất nếu biết sử dụng hợp lý thì đất có thể ngày càng tốt hơn.
* Đất đai có vị trí cố định Đất gắn liền với các vị trí địa lý, địa hình, cho nên mỗi vùng đều có một diện tích đất cố định. Đất gắn chặt với các điều kiện tự nhiên, kinh tế của từng vùng, chịu ảnh hưởng bởi khí hậu, thời tiết của vùng đó. Tùy vào điều kiện từng vùng mà có phương thức sản xuất phù hợp. Tính cố định của đất đai gắn liền với điều kiện kinh tế của vùng.
Trong Nông nghiệp điều đó là điều kiện để quyết định nên sản xuất sản phẩm nào thì thu được lợi nhuận cao. * Diện tích đất có hạn Đất có giới hạn sẵn của diện tích bề mặt quả cầu, diện tích đất đai gắn với diện tích của vỏ Trái đất. Xét trên góc độ kinh tế đường cung của diện tích đất đai tuân theo quy luật cung - cầu trong thị trường. * Đất xuất hiện tồn tại ngoài ý muốn chủ quan của con người Bởi lẽ, đất là một trong những yếu tố tự nhiên cấu tạo nên Trái Đất.
Khi con người xuất hiện thì đất đã có rồi. Đất đai thực chất là của cải của tự nhiên, không do lao động sáng tạo ra. * Đất thuộc sở hữu chung của toàn xã hội không riêng một ai Theo Luật Đất đai, thì đất thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý. Nhà nước giao quyền sử dụng đất cho các tổ chức xã hội, hộ gia đình và cá nhân sử dụng lâu dài dưới hình thức giao đất.
Nhà nước có thể thu tiền hoặc không thu tiền sử dụng đất. 8 * Đất là hàng hóa đặc biệt Đất đai là hàng hóa nhưng khác với các loại hàng hóa thông thường khác. Các loại hàng hóa bình thường khác thì thống nhất giữa quyền sử dụng và quyền sở hữu. Còn đất đai không thống nhất hai quyền trên.
Đối với đất đai, quyền sở hữu là của toàn dân mà Nhà nước là người đại diện. Vai trò của đất nông nghiệp Đất là sản phẩm của tự nhiên, có trước lao động và cùng với quá trình lịch sử phát triển kinh tế xã hội, đất đai là điều kiện chung của lao động. Đất đóng vai trò quyết định cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người và các sinh vật trên trái đất. Đất tham gia vào tất cả các hoạt động của đời sống kinh tế xã hội.
Đất đai là địa điểm, là cơ sở của các thành phố, làng mạc, các công trình công nghiệp, giao thông. Đất và cùng với các điều kiện tự nhiên khác là một trong những cơ sở quan trọng nhất để hình thành các vùng kinh tế của đất nước nhằm khai thác và sử dụng có hiệu quả các tiềm năng tự nhiên, kinh tế, xã hội ở mỗi vùng của đất nước. Đất tham gia vào tất cả các ngành sản xuất vật chất của xã hội nhưng là một tư liệu sản xuất đặc biệt. Tuy nhiên đối với mỗi ngành cụ thể trong nền kinh tế quốc dân, đất đai cũng có những vị trí vai trò khác nhau.
Trong ngành công nghiệp (trừ ngành khai khoáng), đất đai làm nền tảng, làm cơ sở, làm địa điểm để tiến hành những thao tác, những hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong nông nghiệp, đất đai có vị trí đặc biệt quan trọng là yếu tố hàng đầu của ngành sản xuất này. Đất đai sử dụng trong nông nghiệp được gọi là ruộng đất. Trong nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt không thể thay thế được, ruộng đất vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động.