CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 1.1 Các khái niệm có liên quan 1.1 Khái niệm văn hóa Văn hóa là khái niệm có nhiều cách hiểu tùy vào cách tiếp cận của người nghiên cứu. Là một lĩnh vực đa dạng và phức tạp, vì vậy, khó có thể thống nhất được một khái niệm đầy đủ và chính xác về văn hóa. Nên việc cùng tồn tại nhiều khái niệm văn hóa khác nhau càng làm vấn đề được hiểu biết một cách phong phú và toàn diện hơn. Năm 1871, Edward Burnett Tylor đưa ra định nghĩa “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội”[E.
Tylor, Văn hóa nguyên thủy, Huyền Giang dịch từ tiếng Nga, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, Hà Nội, trang13] Theo E. Herriot: “Văn hoá là cái còn lại sau khi người ta đã quên đi tất cả, là cái vẫn còn thiếu sau khi người ta đã học tất cả” [Bài giảng văn hóa kinh doanh(2006), Dương Thị Liễu, trang 9] Khái niệm văn hóa cũng được giáo sư, viện sỹ, tiến sỹ khoa học Trần Ngọc Thêm đưa ra như sau: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.” [Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam, trang 25] Từ điển Tiếng Việt cũng đưa ra khái niệm: “Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử.” [Bài giảng Văn hóa kinh doanh(2014), ThS Dương Thị Thúy Nương, trang 2] Khái niệm văn hoá do Tổng thư ký UNESCO Federico Mayor nêu ra nhân lễ phát động Thập kỷ thế giới phát triển văn hoá (1988 - 1997): “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo (của các cá nhân và các cộng đồng) trong quá khứ và hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của từng dân tộc.” [Sức hấp dẫn - một giá trị VHDN (2005), Trần Quốc Dân, trang 24] Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 học, tôn giáo, văn họa, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa.
Văn hóa là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn.” [Trích trong Hồ Chí Minh: Toàn tập, Tập 3 (2000), trang 431] Ngoài ra còn rất nhiều khái niệm, định nghĩa khác nhau của nhiều nhà nghiên cứu mà các khái niệm đã được đưa ra ở trên là những khái niệm về văn hóa theo phạm vi nghiên cứu rộng nhất. Như vậy một một cách khái quát thì: “Văn hóa là toàn bộ những hoạt động vật chất và tinh thần do loài người đã sáng tạo ra trong lịch sử của mình trong quan hệ với con người, với tự nhiên và với xã hội, được đúc kết lại thành hệ giá trị và chuẩn mực xã hội.2 Khái niệm văn hóa doanh nghiệp Trong một xã hội rộng lớn, mỗi doanh nghiệp được coi là một xã hội thu nhỏ. Xã hội lớn có nền văn hoá lớn, xã hội nhỏ (doanh nghiệp) cũng cần xây dựng cho mình một nền văn hoá riêng biệt. Nền văn hoá ấy chịu ảnh hưởng và đồng thời cũng là một bộ phận cấu thành nền văn hoá lớn.
Như Edgar Schein, một nhà quản trị nổi tiếng người Mỹ đã nói: “ Văn hoá doanh nghiệp gắn với văn hoá xã hội, là một bước tiến của văn hoá xã hội, là tầng sâu của văn hoá xã hội. Văn hoá doanh nghiệp đòi hỏi vừa chú ý tới năng suất và hiệu quả sản xuất, vừa chú ý quan hệ chủ thợ, quan hệ giữa người với người. Nói rộng ra nếu toàn bộ nền sản xuất đều được xây dựng trên một nền văn hoá doanh nghiệp có trình độ cao, nền sản xuất sẽ vừa mang bản sắc dân tộc, vừa thích ứng với thời đại hiện nay”.TS Trần Hùng, trang 63] Ông Saite Marie, chuyên gia người Pháp về doanh nghiệp vừa và nhỏ đưa ra định nghĩa như sau: “ Văn hoá doanh nghiệp là tổng hợp các giá trị, các biểu tượng, huyền thoại, nghi thức, các điều cấm kỵ, các quan điểm triết học, đạo đức tạo thành nền móng sâu xa của doanh nghiệp”.TS Trần Hùng, trang 63] Một định nghĩa khác của tổ chức lao động quốc tế (ILO): “Văn hoá doanh nghiệp là sự trộn lẫn đặc biệt các giá trị, các tiêu chuẩn, thói quen và truyền thống, những thái độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức đã biết.TS Trần Hùng, trang 63] LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Các nhà học giả của Việt Nam cũng có khá nhiều tranh luận xung quanh vấn đề này. Trong đó có định nghĩa do ông Đỗ Minh Cương đưa ra: “ Văn hóa doanh nghiệp (văn hóa công ty) là một dạng của văn hóa tố chức bao gồm những giả trị, những nhân tố văn hóa mà doanh nghiệp làm ra trong quá trình sản xuất kinh doanh.
” [Đỗ Minh Cương: Vai trò con người trong quan lý doanh nghiệp, NXB Chính trị Quốc Gia] Tuy nhiên, định nghĩa phổ biến và được chấp nhận rộng rãi nhất là định nghĩa của chuyên gia nghiên cứu các tổ chức Edgar Schein: “Văn hoá công ty là tổng hợp những quan niệm chung mà các thành viên trong công ty học được trong quá trình giải quyết các vấn đề nội bộ và xử lý các vấn đề với môi trường xung quanh.” [Tạp chí Người đưa tin UNESCCO,Số 4 – 1994] Trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu của các học giả và hệ thống nghiên cứu logic về văn hoá và văn hoá kinh doanh, văn hoá doanh nghiệp được định nghĩa như sau: “Văn hoá doanh nghiệp là hệ các giá trị đặc trưng mà một doanh nghiệp dám tạo ra và gìn giữ trong suốt quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, trở thành những chuẩn mực quan niệm, tập quán truyền thống, thâm nhập và chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ, hành vi ứng của mọi thành viên trong doanh nghiệp; làm cho doanh nghiệp có bản sắc riêng gắn kết thành một khối và phát triển bền vững.3 Các yếu tố cấu thành văn hóa doanh nghiệp 1.1 Các yếu tố hữu hình Nhóm các yếu tố hữu hình bao gồm: - Kiến trúc đặc trưng Những kiến trúc đặc trưng của một doanh nghiệp gồm kiến trúc ngoại thất và thiết kế nội thất công sở được sử dụng như những biểu tượng và hình ảnh về công ty, để tạo ấn tượng thân quen, thiện chí trong công ty. Phần lớn các công ty thành công hay đang phát triển đều muốn gây ấn tượng đối với mọi người về sự độc đáo, sức mạnh và thành công của doanh nghiệp mình bằng những công trình kiến trúc đặc biệt và đồ sộ. Các công trình này rất được các tổ chức, công ty chú trọng như một phương tiện thể hiện tính cách đặc trưng của tổ chức. Không chỉ những kiến trúc bên ngoài mà những kiến trúc nội thất bên trong cũng được các công ty, tổ chức quan tâm.
Từ những vấn đề lớn như tiêu chuẩn hoá về màu sắc, kiểu dáng của bao bì đặc trang, thiết kế nội thất như mặt bằng, quầy, bàn ghế, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 phòng, giá để hàng, lối đi, loại dịch vụ, trang phục. đến những chi tiết nhỏ như đồ ăn, vị trí công tắc điện, thiết bị và vị trí của chúng trong các phòng. Tất cả đều được sử dụng để tạo ấn tượng thân quen, thiện chí và được quan tâm. - Lễ nghi và lễ hội hàng năm Một trong số các biểu trưng của văn hóa doanh nghiệp là lễ nghi và lễ hội hàng năm.
Đó là loại hình văn hóa có yếu tố chính trị hoặc tín ngưỡng, tâm linh, được cộng đồng doanh nghiệp tôn trọng và gìn giữ. Đó cũng là dịp đặc biệt để nhấn mạnh những giá trị riêng của tổ chức, tạo cơ hội cho mọi thành viên cùng chia sẻ cách nhận thức về những sự kiện trọng đại, để nêu gương và khen tặng những tấm gương điển hình đại biểu cho những niềm tin và cách thức hành động cần tôn trọng của tổ chức. - Biểu tượng (logo) Một công cụ khác biểu thị đặc trưng của văn hóa doanh nghiệp là biểu tượng. Biểu tượng được thiết kế để thể hiện hình tượng về một doanh nghiệp bằng ngôn ngữ nghệ thuật phổ thông.
Biểu tượng có tác dụng giúp mọi người nhận ra hay hiểu được thứ mà nó biểu thị. Nói cách khác, biểu tượng là sự biểu trưng những giá trị, những ý nghĩa tiềm ẩn bên trong của tổ chức thông qua các biểu tượng vật chất cụ thể. - Ngôn ngữ, khẩu hiệu Khẩu hiệu (slogan) là hình thức dễ nhập tâm và được không chỉ nhân viên mà cả khách hàng luôn nhắc đến. Khẩu hiệu thường rất ngắn gọn, cô đọng, xúc tích, thường sử dụng các câu từ đơn giản, dễ nhớ đôi khi còn hơi “sáo rỗng” về hình thức.
Khẩu hiệu là cách diễn đạt cô đọng nhất của triết lý hành động, kinh doanh của một tổ chức, một doanh nghiệp. Vì vậy, chúng cần được liên hệ với bản tuyên bố sứ mệnh của tố chức để hiểu được ý nghĩa tiềm của chúng. - Thương hiệu Thuật ngữ thương hiệu được dùng không chỉ đơn thuần là chỉ các dấu hiệu phân biệt hàng hoá, dịch vụ mà cao hơn nhiều đó là hình ảnh về hàng hoá hoặc hình tượng về doanh nghiệp trong tâm trí của khách hàng, nó gắn liền với chất lượng hàng hoá và phong cách kinh doanh, phục vụ của doanh nghiệp. Như vậy, thương hiệu về bản chất là uy tín, danh tiếng của sản phẩm hàng hoá, dịch vụ hoặc của doanh nghiệp mà khách hàng nhận biết, nhớ đến thông qua nhãn hiệu hàng hoá và những yếu tố ẩn chứa bên trong nhãn hiệu đó.
- Ấn phẩm điển hình LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.