Luận văn đại học thương mại pháp luật về hợp đồng dịch vụ thực tiễn thực hiện tại công ty tnhh phát triển công nghệ và xuất nhập khẩu bình minh

Tài liệu nghiên cứu Luận văn đại học thương mại pháp luật về hợp đồng dịch vụ thực tiễn thực hiện tại công ty tnhh phát, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Trường Đại Học Thương Mại

Chuyên ngành

Luật Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2022

56
23
1

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ

1.1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến pháp luật điều chỉnh hợp đồng dịch vụ

1.1.1. Khái niệm về hợp đồng

1.1.2. Khái niệm hợp đồng dịch vụ

1.1.3. Đặc điểm của hợp đồng dịch vụ

1.1.4. Phân loại hợp đồng dịch vụ

1.1.5. Vai trò của hợp đồng dịch vụ đối với các doanh nghiệp

1.2. Cơ sở ban hành và nội dung pháp luật điều chỉnh hợp đồng dịch vụ

1.2.1. Cơ sở ban hành pháp luật điều chỉnh hợp đồng dịch vụ

1.2.2. Nội dung pháp luật điều chỉnh hợp đồng dịch vụ

1.2.2.1. Nguyên tắc về pháp luật điều chỉnh hợp đồng dịch vụ. Nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí hợp tác, trung thực và ngay thẳng
1.2.2.2. Nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng dịch vụ nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội. Nguyên tắc không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, lợi ích hợp pháp của người khác

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI CÔNG TY TNHH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ VÀ XUẤT NHẬP KHẨU BÌNH MINH

2.1. Tổng quan tình hình và các nhân tố ảnh hưởng đến pháp luật điều chỉnh hợp đồng dịch vụ

2.1.1. Tổng quan tình hình pháp luật điều chỉnh hợp đồng dịch vụ

2.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến pháp luật điều chỉnh hợp đồng dịch vụ

2.2. Thực trạng các quy phạm pháp luật điều chỉnh hợp đồng dịch vụ

2.2.1. Thực trạng các quy phạm pháp luật điều chỉnh đối tượng hợp đồng dịch vụ

2.2.2. Thực trạng các quy phạm pháp luật điều chỉnh chủ thể hợp đồng dịch vụ

2.2.3. Thực trạng pháp luật quy định về giá dịch vụ và trả tiền dịch vụ

2.2.4. Thực trạng pháp luật quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng dịch vụ

2.2.5. Thực trạng pháp luật quy định về nguyên tắc giao kết hợp đồng dịch vụ

2.2.6. Thực trạng pháp luật quy định về trình tự, thủ tục giao kết hợp đồng dịch vụ

2.2.7. Thực trạng pháp luật quy định về sửa đổi, chấm dứt, huỷ bỏ hợp đồng dịch vụ

2.2.8. Thực trạng pháp luật quy định về tranh chấp và giải quyết tranh chấp trong quan hệ hợp đồng dịch vụ

2.3. Thực trạng thực hiện các quy phạm pháp luật điều chỉnh hợp đồng dịch vụ và thực tiễn thực hiện tại công ty tại công ty TNHH Phát triển Công nghệ và Xuất Nhập khẩu Bình Minh

2.3.1. Thực trạng thực hiện các quy phạm pháp luật điều chỉnh hợp đồng dịch vụ tại công ty tại công ty TNHH Phát triển Công nghệ và Xuất Nhập khẩu Bình Minh

2.3.2. Thực tiễn thực hiện các quy phạm pháp luật điều chỉnh hợp đồng dịch vụ tại công ty TNHH Phát triển Công nghệ và Xuất Nhập khẩu Bình Minh

2.4. Các kết luận và phát hiện qua nghiên cứu

2.4.1. Những thành tựu mà Công ty TNHH Phát triển Công nghệ và Xuất Nhập khẩu Bình Minh đạt được trong quá trình giao kết hợp đồng dịch vụ

2.4.2. Một số bất cập trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng dịch vụ của Công ty TNHH Phát triển Công nghệ và Xuất Nhập khẩu Bình Minh

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ

3.1. Quan điểm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh về hợp đồng dịch vụ

3.2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh về hợp đồng dịch vụ

3.2.1. Về phía nhà nước

3.2.2. Về phía công ty

3.3. Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về pháp luật hợp đồng dịch vụ tại Việt Nam

Pháp luật về hợp đồng dịch vụ đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ thương mại tại Việt Nam. Hợp đồng dịch vụ không chỉ là công cụ pháp lý bảo vệ quyền lợi của các bên mà còn là nền tảng cho sự phát triển bền vững của ngành dịch vụ. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, việc hiểu rõ các quy định pháp luật về hợp đồng dịch vụ là cần thiết để các doanh nghiệp có thể hoạt động hiệu quả.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng dịch vụ

Hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ trong quan hệ cung ứng dịch vụ. Đặc điểm của hợp đồng dịch vụ bao gồm tính không hữu hình, tính không đồng nhất và tính không thể lưu trữ.

1.2. Vai trò của hợp đồng dịch vụ trong thương mại

Hợp đồng dịch vụ giúp các doanh nghiệp bảo vệ quyền lợi hợp pháp, tạo ra cơ sở pháp lý cho các giao dịch thương mại. Nó cũng góp phần nâng cao tính cạnh tranh và phát triển bền vững trong ngành dịch vụ.

II. Thực trạng pháp luật điều chỉnh hợp đồng dịch vụ tại công ty TNHH Bình Minh

Công ty TNHH Phát triển Công nghệ và Xuất Nhập khẩu Bình Minh là một trong những doanh nghiệp tiêu biểu trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ. Thực trạng áp dụng pháp luật về hợp đồng dịch vụ tại công ty này cho thấy nhiều vấn đề cần được cải thiện để nâng cao hiệu quả hoạt động.

2.1. Các quy định pháp luật hiện hành

Các quy định pháp luật hiện hành về hợp đồng dịch vụ tại công ty TNHH Bình Minh chủ yếu dựa trên Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Thương mại 2005. Tuy nhiên, việc áp dụng còn gặp nhiều khó khăn do sự phức tạp của các quy định.

2.2. Thực tiễn thực hiện hợp đồng dịch vụ

Thực tiễn thực hiện hợp đồng dịch vụ tại công ty TNHH Bình Minh cho thấy nhiều bất cập trong việc giao kết và thực hiện hợp đồng. Các bên thường gặp khó khăn trong việc xác định quyền và nghĩa vụ của mình.

III. Vấn đề và thách thức trong thực hiện hợp đồng dịch vụ

Mặc dù hợp đồng dịch vụ có vai trò quan trọng, nhưng việc thực hiện hợp đồng này tại công ty TNHH Bình Minh vẫn gặp nhiều thách thức. Những vấn đề này cần được nhận diện và giải quyết để nâng cao hiệu quả hoạt động.

3.1. Khó khăn trong việc xác định quyền và nghĩa vụ

Nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc xác định rõ quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng dịch vụ, dẫn đến tranh chấp và xung đột.

3.2. Thiếu sự đồng bộ trong quy định pháp luật

Sự thiếu đồng bộ trong các quy định pháp luật về hợp đồng dịch vụ gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc áp dụng và thực hiện hợp đồng.

IV. Phương pháp cải thiện pháp luật về hợp đồng dịch vụ

Để nâng cao hiệu quả thực hiện hợp đồng dịch vụ, cần có những phương pháp cải thiện pháp luật hiện hành. Việc này không chỉ giúp doanh nghiệp hoạt động hiệu quả mà còn bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên.

4.1. Đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật

Cần hoàn thiện các quy định pháp luật về hợp đồng dịch vụ để đảm bảo tính đồng bộ và dễ áp dụng cho các doanh nghiệp.

4.2. Tăng cường đào tạo và nâng cao nhận thức

Tăng cường đào tạo cho các doanh nghiệp về pháp luật hợp đồng dịch vụ sẽ giúp họ hiểu rõ hơn về quyền và nghĩa vụ của mình.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của hợp đồng dịch vụ

Hợp đồng dịch vụ sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của ngành dịch vụ tại Việt Nam. Việc hoàn thiện pháp luật và nâng cao nhận thức về hợp đồng dịch vụ sẽ giúp các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn trong bối cảnh hội nhập.

5.1. Tương lai của hợp đồng dịch vụ tại Việt Nam

Dự báo rằng hợp đồng dịch vụ sẽ ngày càng trở nên phổ biến và quan trọng trong các giao dịch thương mại tại Việt Nam.

5.2. Những cơ hội và thách thức mới

Các doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với nhiều cơ hội và thách thức mới trong việc áp dụng hợp đồng dịch vụ trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

25/07/2025
Luận văn đại học thương mại pháp luật về hợp đồng dịch vụ thực tiễn thực hiện tại công ty tnhh phát triển công nghệ và xuất nhập khẩu bình minh

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu về hợp đồng và nghĩa vụ hợp đồng trong BLDS Cộng Hòa Pháp thì: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó một hoặc nhiều người cam kết với một hoặc nhiều người khác về việc chuyển giao một vật, làm hoặc không làm một công việc nào đó”. Theo định nghĩa này, hợp đồng chính là sự thống nhất ý chí giữa hai hoặc nhiều người, không giới hạn số người tham gia vào quan hệ hợp đồng, trong đó liên quan tới việc mua bán một vật hoặc không được làm một việc gì đó. Tương tự như cách định nghĩa về hợp đồng của BLDS Pháp, khoản 1 Điều 420 BLDS Nga (1994) quy định: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Dưới góc độ pháp luật thực định, khái niệm hợp đồng tại Việt Nam được quy định tại Điều 385 BLDS 2015, theo đó: “Hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.” Như vậy, các định nghĩa trên tuy có cách thể hiện khác nhau phù hợp cách thức lập pháp của từng quốc gia nhưng nói chung đều chỉ rõ bản chất của hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các chủ thể, hay nói cách khác nó là sự thống nhất ý chí của các bên.

Khi đối chiếu với định nghĩa hợp đồng của BLDS 2015 của Việt Nam thì có thể nói, khái niệm hợp đồng của BLDS 2015 có nhiều điểm giống BLDS Nga, Pháp nhưng thể hiện tính ngắn gọn, súc tích và đầy đủ. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Có thể nói, thuật ngữ “hợp đồng” là một phạm trù đa nghĩa và có thể được xem xét nhiều góc độ khác nhau. Các luật gia Việt Nam thường hiểu khái niệm “hợp đồng” theo hai nghĩa: nghĩa khách quan và nghĩa chủ quan. Theo nghĩa khách quan, “hợp đồng” là một bộ phận của chế định nghĩa vụ trong Luật Dân sự, bao gồm các “quy phạm pháp luật được quy định cụ thể trong BLDS nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội (chủ yếu là quan hệ tài sản) trong quá trình dịch chuyển các lợi ích vật chất giữa các chủ thể với nhau”.

Theo nghĩa chủ quan, hợp đồng “là sự ghi nhận kết quả của việc cam kết, thỏa thuận giữa các chủ thể giao kết hợp đồng” hay “là kết quả của việc thỏa thuận, thống nhất ý chí của các bên, được thể hiện trong các điều khoản cụ thể về quyền và nghĩa vụ mỗi bên để có cơ sở cùng nhau thực hiện”. Xét về bản chất, hợp đồng được tạo ra bởi sự thỏa thuận, là kết quả của quá trình thương thảo và thống nhất ý chí giữa các bên để làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quyền và nghĩa vụ đối với nhau, trừ những quyền và nghĩa vụ mà pháp luật có quy định là không thể thay đổi hoặc chấm dứt bằng thỏa thuận của các bên. Xét về vị trí và vai trò của hợp đồng, theo nghĩa hẹp, hợp đồng là một loại giao dịch dân sự, là căn cứ pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự. Một hợp đồng phải xuất phát từ yếu tố thoả thuận nhưng không phải mọi thoả thuận đều là hợp đồng.

Chỉ những thoả thuận làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các bên mới tạo nên quan hệ hợp đồng. Như vậy, ta có thể hiểu: Hợp đồng là phương tiện pháp lý thể hiện ý chí của các bên để làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ. Ý chí của các bên đóng vai trò quan trọng trong hợp đồng, khi sự thống nhất của các ý chí là thực chất và không trái pháp luật thì nó sẽ làm phát sinh nghĩa vụ ràng buộc giữa các bên. Khái niệm hợp đồng dịch vụ Quan hệ cung ứng dịch vụ được xác lập và thực hiện thông qua hình thức pháp lý là hợp đồng dịch vụ.

Hợp đồng dịch vụ mang bản chất chung của hợp đồng, là sự thỏa thuận của các bên nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ cung ứng dịch vụ. Dịch vụ xuất hiện từ khá lâu, ngày càng phát triển và khẳng định vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội. Ngày nay, có thể dễ dàng nhận thấy nhiều loại hình dịch vụ trong đời sống thường ngày như: dịch vụ ăn uống, khám chữa bệnh, cắt tóc, dịch vụ giáo dục, dịch vụ vận chuyển hàng hóa,.Tuy nhiên, hiện nay tồn tại nhiều khái niệm khác niệm khác nhau về dịch vụ. Theo đó, nhiều nhà nghiên cứu như Adam Smith, Philip Kotler, … đưa ra quan niệm về dịch vụ ở dưới góc độ kinh tế.

Dưới góc độ này, dịch vụ được hiểu là các hoạt động của con người mà được trao đổi trên thị trường, mang tính vô hình và quá trình cung ứng và tiêu dùng diễn ra đồng thời cùng 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các quan niệm về dịch vụ hiện nay còn chưa thống nhất, đặc biệt dưới góc độ dân sự hiện nay chưa có định nghĩa cụ thể. Trong từ điển Wikipedia, dịch vụ trong kinh tế học được hiểu là những thứ tương tự như hàng hoá nhưng phi vật chất, bản chất của dịch vụ là sự cung ứng để đáp ứng nhu cầu như: dịch vụ du lịch, thời trang, chăm sóc sức khoẻ.và mang lại lợi nhuận. Về bản chất, dịch vụ là sản phẩm được tạo ra để thỏa mãn nhu cầu khác nhau của con người.

Khi sử dụng dịch vụ, nhất là dịch vụ thương mại, người sử dụng phải trả một khoản tiền nhất định cho bên cung ứng dịch vụ, tức là dịch vụ cũng có giá trị và giá trị sử dụng như là hàng hóa. Chỉ có điều, dịch vụ là sản phẩm hàng hóa vô hình, người sử dụng không sở hữu dịch vụ mà chỉ được hưởng những tiện ích từ dịch vụ mang lại. Do vậy, dịch vụ cũng là hàng hóa nhưng là hàng hóa vô hình. Cung ứng dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên (sau đây gọi là bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện công việc cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ (sau đây gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận.

Như vậy, có thể hiểu cung ứng dịch vụ là việc mà một bên sẽ thực hiện công việc nào đó theo yêu cầu của khách hàng và sẽ nhận lại được thanh toán cho việc của mình. Theo đó, hợp đồng dịch vụ có thể được hiểu: “Hợp đồng dịch vụ là sự thoả thuận của bên cung ứng dịch vụ và bên thuê mà theo đó bên cung ứng có nghĩa vụ thực hiện một công việc nhất định nhằm mang lại lợi ích cho bên thuê còn bên thuê dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng theo các nội dung quy định về quyền và nghĩa vụ củ các bên trong hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật. Hợp đồng dịch vụ là hình thức pháp lý của quan hệ cung ứng dịch vụ, nó gắn liền với hoạt động cung ứng dịch vụ. Đặc điểm của hợp đồng dịch vụ Hợp đồng dịch vụ mang một số đặc điểm sau: Thứ nhất, hợp đồng dịch vụ là hợp đồng song vụ: Cả bên cung ứng dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ đều có quyền và nghĩa vụ nhất định khi tham gia vào quan hệ hợp đồng dịch vụ, trong đó quyền của bên này tương ứng với nghĩa vụ của bên kia và ngược lại.

Mỗi bên trong hợp đồng đều chịu sự ràng buộc bởi nghĩa vụ đối với bên kia, đồng thời cũng là bên có quyềnđồi hỏi bên kia thực hiện nghĩa vụ đối với mình. Trong hợp đồng dịch vụ tồn tại hai nghĩa vụ chính mang tính chất qua lại và liên quan mật thiết với nhau, đó là: bên cung ứng dịch vụ phải thực hiện các hành vi pháp lí theo yêu cầu của bên thuê dịch vụ còn bên thuê dịch vụ có nghĩa vụ tiếp nhận kết quả công việc và trả tiền công cho bên cung ứng dịch vụ. Ví dụ như trong hợp đồng dịch vụ viễn thông – cung cấp mạng giữa nhà mạng FPT và bà H. Bên nhà cung cấp dịch vụ (nhà 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mạng FPT) có nghĩa vụ cung cấp mạng internet cho bà H và bà H có nghĩa vụ trả tiền dịch vụ theo quy định trong hợp đồng đã kỹ trước đó.

Thứ hai, hợp đồng dịch vụ là hợp đồng ưng thuận: Quyền và nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ phát sinh ngay sau khi các bên đã thoả thuận với nhau xong về nội dung của hợp đồng. Trong hợp đồng dịch vụ, dù rằng các bên chưa trực tiếp thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết nhưng đã phát sinh quyền yêu cầu của bên này đối với bên kia trong việc thực hiện hợp đồng. Hay nói cách khác, hợp đồng dịch vụ là hợp đồng mà thời điểm có hiệu lực của nó được xác định tại thời điểm giao kết. Thứ ba, hợp đồng dịch vụ luôn gắn liền với cơ chế thị trường: Như Các Mác đã khẳng định: “Dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hoá, khi mà nền kinh tế hàng hoá phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu thông thông suốt, trôi chảy, liên tục để thoả mãn nhu cầu ngày càng cao đó của con người thì dịch vụ ngày càng phát triển” [3.III, Kiều Thị Thuỳ Linh (2017), Hợp đồng dịch vụ theo quy định pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành – một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường đại học Luật Hà Nội].

Mà thị trường là nơi giao dịch mua bán, chuyển nhượng hàng hoá, dịch vụ, …. Vì vậy, dịch vụ gắn liền với thị trường và chịu ảnh hưởng của quy luật thị trường. Do đó, hợp đồng dịch vụ luôn gắn liền với cơ chế thị trường. Thứ tư, hợp đồng dịch vụ có đối tượng là công việc thực hiện được: Thật vậy, bởi dịch vụ là hoạt động của con người nhằm thực hiện công việc nhất định đáp ứng nhu cầu của chủ thể trong xã hội.

Và hợp đồng dịch vụ là sự thoả thuận của các bên trong hợp đồng về việc bên cung ứng thực hiện một công việc nhằm thoả mãn nhu cầu của bên thuê. Do đó, đối tượng của hợp đồng dịch vụ phải là công việc có thể thực hiện hiện được và không trái với đạo đức xã hội hay vi phạm điều cấm của luật.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ