CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH THIẾT KẾ 1. NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN - Thông tin là một dữ liệu được tổ chức, doanh nghiệp sử dụng một phương thức nhất định sao cho chúng mang lại một giá trị gia tăng so với giá trị vốn có của bản thân dữ liệu. Thông tin chính là dữ liệu đã qua xử lý (phân tích, tổng hợp, thống kê) có ý nghĩa thiết thực, phù hợp với mục đích cụ thể của người sử dụng. Thông tin có thể gồm nhiều giá trị dữ liệu có liên quan nhằm mang lại ý nghĩa trọn vẹn cho một sự vật, hiện tượng cụ thể trong một ngữ cảnh.TS Đàm Gia Mạnh (2017), Giáo trình Hệ thống thông tin quản lý, Nhà xuất bản Thống Kê, trang 22).
- Hệ thống là một tập hợp có tổ chức gồm nhiều phần tử có mối quan hệ tương tác, ràng buộc lẫn nhau, cùng phối hợp hoạt động để đạt được một mục tiêu chung. Các phần tử trong một hệ thống có thể là vật chất hoặc phi vật chất như con người, máy móc, thông tin, dữ liệu, phương pháp xử lý, qui tắc hoạt động, quy trình xử lý… (PGS.TS Đàm Gia Mạnh (2017), Giáo trình Hệ thống thông tin quản lý, Nhà xuất bản Thống Kê, trang 27). - Hệ thống thông tin là một tập hợp phần cứng, phần mềm, cơ sở dữ liệu, mạng viễn thông, con người và các quy trình thủ tục khác nhằm thu thập, xử lý, lưu trữ và truyền thông tin trong một tổ chức, doanh nghiệp.TS Đàm Gia Mạnh (2017), Giáo trình Hệ thống thông tin quản lý, Nhà xuất bản Thống Kê, trang 37). Hệ thống quản lý là một hệ thống có một mục đích mang lại lợi nhuận hoặc lợi ích nào đó.
Đặc điểm của hệ thống là có sự tham gia của con người và trao đổi thông tin. Hệ thống quản lý chia thành hai hệ thống con: Hệ tác nghiệp: Gồm con người, phương tiện, phương pháp trực tiếp thực hiện mục tiêu đã đề ra. Hệ quản lý: Gồm con người, phương tiện, phương pháp cho phép điều khiển hoạt động của hệ thống. Hệ thống thông tin quản lý là hệ thống cung cấp thông tin cho công tác quản lý.
Hệ thống bao gồm con người, thiết bị và quy trình thu thập, phân tích, đánh giá và phân phối những thông tin cần thiết, kịp thời chính xác cho những người soạn thảo các quyết định trong tổ chức. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. MỘT SỐ LÝ THUYẾT VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Các thành phần của hệ thống thông tin - Hệ thống thông tin bao gồm 5 thành phần: Hình 1.
Mô hình hệ thống thông tin (Nguồn: Giáo trình Hệ thống thông tin quản lý) + Nguồn lực phần cứng: Trang thiết bị phần cứng của một hệ thống thông tin gồm các thiết bị vật lý được sử dụng trong quá trình xử lý thông tin như nhập dữ liệu vào, xử lý và truyền phát thông tin ra. Phần cứng là các thiết bị hữu hình có thể nhìn thấy, cầm nắm được. + Nguồn lực phần mềm: Phần mềm là các chương trình được cài đặt trong hệ thống, thực hiện công việc quản lý hoặc các quy trình xử lý trong hệ thống thông tin. Phần mềm được sử dụng để kiểm soát và điều phối phần cứng, thực hiện xử lý và cung cấp thông tin theo yêu cầu của người sử dụng.
+ Nguồn lực dữ liệu: Cơ sở dữ liệu là tập hợp dữ liệu có tổ chức và có liên quan đến nhau được lưu trữ trên các thiết bị lưu trữ thứ cấp để phục vụ yêu cầu khai thác thông tin đồng thời của nhiều người sử dụng hay nhiều chương trình ứng dụng với nhiều mục đích tại nhiều thời điểm khác nhau. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Nguồn lực mạng: Mạng máy tính gồm tập hợp máy tính và các thiết bị vật lý được kết nối với nhau nhờ đường truyền vật lý theo một kiến trúc nhất định dựa trên các giao thức nhằm chia sẻ các tài nguyên trong mạng của tổ chức, doanh nghiệp. Dựa trên mạng máy tính các nhân viên trong tổ chức, doanh nghiệp có thể dễ dàng trao đổi thông tin cho nhau, chia sẻ tài nguyên trong hệ thống cho nhau, làm việc cùng nhau không phụ thuộc vào vị trí địa lý. + Nguồn lực con người: Trong hệ thống thông tin hiện đại, yếu tố con người bao gồm tất cả những đối tượng tham gia quản lý, xây dựng, mô tả, lập trình, sử dụng, nâng cấp và bảo trì hệ thống.
Con người được coi là thành phần quan trọng nhất, đóng vai trò chủ động để tích hợp các thành phần trong hệ thống để đạt được hiệu quả cao nhất trong hoạt động. Quy trình xây dựng hệ thống thông tin Giai đoạn 1: Khảo sát hiện trạng và xác lập dự án: Là giai đoạn đầu tiên của quá trình phân tích thiết kế hệ thống. Việc khảo sát thường được tiến hành qua 2 giai đoạn: - Khảo sát sơ bộ nhằm xác định tính khả thi của dự án. - Khảo sát chi tiết nhằm xác định tính chính xác những gì sẽ thực hiện và khẳng định những lợi ích kèm theo.
Yêu cầu của giai đoạn khảo sát hệ thống: + Khảo sát đánh giá sự hoạt động của hệ thống cũ. + Đề xuất mục tiêu, ưu tiên cho hệ thống mới. + Đề xuất ý tưởng cho giải pháp mới. + Đề ra kế hoạch cho dự án.
+ Lập báo cáo về khảo sát và xác định tính khả thi. - Các hình thức khảo sát: + Quan sát theo dõi: Bao gồm quan sát chính thức và không chính thức. Quá trình theo dõi có ghi chép và sử dụng các phương pháp để rút ra các kết luận có tính thuyết phục và khoa học. + Phỏng vấn điều tra: Phương pháp trao đổi trực tiếp với người sử dụng hệ thống.
Thông thường người phân tích sử dụng các bảng hỏi, mẫu điều tra nhanh. Giai đoạn 2: Phân tích hệ thống: Là công đoạn đi sau giai đoạn khảo sát hiện trạng và xác lập dự án và là giai đoạn đi sâu vào các thành phần cơ bản của hệ thống. Các công việc cần thực hiện của giai đoạn này bao gồm: - Phân tích hệ thống về xử lý: xây dựng được các biểu đồ mô tả logic chức năng xử lý của hệ thống. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Phân tích hệ thống về dữ liệu: Xây dựng được lược đồ cơ sở dữ liệu mức logic của hệ thống giúp lưu trữ lâu dài các dữ liệu được sử dụng trong hệ thống.
- Phân tích khả thi về kỹ thuật: Xem xét khả năng kỹ thuật hiện đại, đề xuất giải pháp kỹ thuật áp dụng hệ thống thông tin mới. - Phân tích khả năng kinh tế: Xem xét khả năng tài chính có thể chi trả cho việc xây dựng hệ thống thông tin mới, cũng như chỉ ra những lợi ích mà hệ thống có thể đem lại. - Phân tích khả thi hoạt động: Khả năng vận hành của hệ thống trong điều kiện bình thường, điều kiện tổ chức và quản lý cho phép của tổ chức. Giai đoạn 3: Thiết kế hệ thống: Là công đoạn cuối của quá trình khảo sát, phân tích, thiết kế.
Nhiệm vụ của giai đoạn này là chuyển các biểu đồ, lược đồ mức logic sang vật lý. Các công việc cần thực hiện của giai đoạn này là: - Thiết kế tổng thể. - Thiết kế giao diện. - Thiết kế cơ sở dữ liệu.
- Thiết kế các kiểm soát. - Thiết kế phần mềm. Giai đoạn 4: Cài đặt hệ thống: Trong giai đoạn này xây dựng hệ thống bao gồm xây dựng các file cơ bản. Viết các chương trình thực hiện các chức năng của hệ thống mới tương ứng với các kiểu khai thác đã đặt ra.
Thực chất của giai đoạn này là thực hiện mã hóa dữ liệu và giải thuật nên còn được gọi là giai đoạn mã hóa. Một trong những nhiệm vụ quan trọng của giai đoạn này là làm tài liệu sử dụng để cho hướng dẫn cho người sử dụng và làm tài liệu kỹ thuật cho các chuyên gia tin học phát triển hệ thống sau này. Giai đoạn 5: Chuyển giao hệ thống: Giai đoạn này là giai đoạn cuối cùng để người phân tích hiệu chỉnh hệ thống thông tin và đưa hệ thống vào khai thác, vận hành thử bằng số liệu giả để phát hiện sai sót. Sau đó người phân tích phải đào tạo người sử dụng tại mỗi vị trí trong hệ thống.
Giai đoạn 6: Bảo trì: Là quá trình sửa đổi, khắc phục những thiếu sót của hệ thống thông tin để làm cho hệ thống thích nghi hơn, thuận tiện hơn trong sử dụng. Các phương pháp phân tích thiết kế hệ thống thông tin 1. Phương pháp phân tích thiết kế hướng chức năng Đặc điểm của phương pháp này là phân chia chương trình thành nhiều chương trình con, mỗi chương trình con thực hiện một công việc xác định. Phương pháp này tiến 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hành phân rã thành các bài toán nhỏ, rồi tiếp tục phân rã chúng thành các bài toán con, chi tiết tới khi bài toán có thể dễ dàng được xử lý.
Phương pháp phân tích thiết kế hướng đối tượng Cách tiếp cận hướng đối tượng là một cách tư duy theo hướng ánh xạ các thành phần trong bài toán vào các đối tượng ngoài đời thực. Một hệ thống được chia thành các phần nhỏ gọi là các đối tượng, mỗi đối tượng bao gồm đầy đủ cả hành động và các dữ liệu liên quan đến đối tượng đó. Các đối tượng trong một hệ thống tương đối độc lập với nhau và hệ thống sẽ được xây dựng bằng cách kết hợp các đối tượng đó lại với nhau thông qua mối quan hệ tương tác giữa chúng. Các loại biểu đồ khi phân tích thiết kế hướng đối tượng - Biểu đồ Use case (Use case diagram): biểu diễn chức năng của hệ thống.
Một biểu đồ Usecase sẽ chỉ ra một số lượng các tác nhân ngoại cảnh và mối liên kết của chúng đối với Usecase mà hệ thống cung cấp. Đi kèm với các Usecase là các kịch bản. Các biểu đồ Use case có thể phân rã theo nhiều mức khác nhau. - Biểu đồ lớp (Class diagram): biểu diễn cái nhìn tĩnh về hệ thống dựa trên các khái niệm lớp, thuộc tính và phương thức.
Các lớp ở đây có mối liên hệ liên kết với nhau theo nhiều cách: Quan hệ kết hợp, cộng hợp, quan hệ thực thi, quan hệ gộp. - Biểu đồ trạng thái (State Diagram): tương ứng với mỗi lớp sẽ chỉ ra các trạng thái mà đối tượng của lớp đó có thể có và sự chuyển trạng thái của các lớp.