Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài Chương 2: Tóm lược một số vấn đề lý luận cơ bản về QHLĐ trong doanh nghiệp Chương 3: Phân tích thực trạng QHLĐ tại Công ty TNHH Công nghệ mới ASG Chương 4: Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện QHLĐ tại Công ty TNHH Công nghệ mới ASG 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƯƠNG II: TÓM LƯỢC MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUAN HỆ LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 2. Một số định nghĩa, khái niệm cơ bản 2. Lao động Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, nó tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội. Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước, xã hội, gia đình và bản thân mỗi NLĐ.
Bất cứ một chế độ xã hội nào, lao động của con người cũng là một trong những yếu tố quyết định nhất, năng động nhất trong sản xuất. Mác, lao động là hoạt động cơ bản của con người. Trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội,… Tuỳ theo lĩnh vực, tính chất hoạt động mà lao động được phân chia thành lao động sản xuất kinh doanh, lao động khoa học, lao động văn hoá, nghệ thuật,… Những người tham gia hoạt động trong các lĩnh vực của đời sống xã hội được gọi là NLĐ. Trong kinh tế học, lao động được hiểu là một yếu tố sản xuất do con người tạo ra và là một dịch vụ hay hàng hóa.
Có ý kiến cho rằng: Lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm biến đổi các vật chất tự nhiên thành của cải vật chất cần thiết cho đời sống của mình. Một số ý kiến khác cho rằng, lao động là sự vận động của con người, là một yếu tố then chốt của lực lượng sản xuất, kết hợp với tư liệu sản xuất và quan hệ sản xuất hình thành lên hình thức sản xuất xã hội. Hay đơn giản hơn, lao động là quá trình con người sử dụng sức lao động trong quá trình sản xuất vật chất. Có thể thấy lao động được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, mỗi khái niệm lại chỉ ra một đặc thù riêng của lao động nhưng thực tế đều có những điểm chung.
Như vậy “lao động là một hoạt động quan trọng của con người, trong quá trình đó con người sử dụng sức lao động hết hợp với tư liệu sản xuất và quan hệ sản xuất để tạo ra của cải vật chất phục vụ bản thân và xã hội”. Quan hệ lao động và quan hệ lao động trong doanh nghiệp 2. Quan hệ lao động QHLĐ bắt đầu được thừa nhận và trở thành hiện tượng phổ biến khi sức lao động thực sự trở thành hàng hóa, được đem ra trao đổi và chịu sự chi phối bởi các quy luật đặc thù của nền kinh tế thị trường. Có các cách tiếp cận khác nhau về QHLĐ như sau: 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo cách tiếp cận hệ thống: QHLĐ là một hệ thống bao gồm nhiều chủ thể tương tác với nhau trong quá trình lao động sản xuất.
Các chủ thể này gồm nhiều các nhân đơn lẻ và các tổ chức đại diện của họ tồn tại trọng hệ thống thứ bậc từ thấp đến cao. Ngoài ra còn có các chủ thể khác đóng vai trò hỗ trợ trên TTLĐ. [5, tr16] Theo cách tiếp cận kinh tế chính trị: QHLĐ là quan hệ giữa hai nhân tố chính của sản xuất gồm sức lao động và tiền vốn mà đại diện cho chúng là NLĐ và NSDLĐ trong doanh nghiệp, ngành kinh tế hoặc trong một quốc gia, một nhóm quốc gia. [5, tr17] Theo cách tiếp cận của Bộ luật Lao động của nước Cộng hòa Liên bang Nga (2001) được quy định tại Điều 15 thì “ QHLĐ là quan hệ được hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa NLĐ và NSDLĐ về việc NLĐ thực hiện một trách nhiệm công việc các nhân để được trả công (công việc chuyên môn, bằng cấp, chức vụ nhất định), NLĐ phải tuân thủ NQLĐ và được NSDLĐ đảm bảo điều kiện lao động theo pháp luật lao động, hợp đồng tập thể, TƯTĐTT, HĐLĐ”.
[5, tr17] Theo Bộ luật Lao động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2012) được quy định tại Điều 3 khoản 3: “QHLĐ là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa NLĐ và NSDLĐ” và tại Điều 7 “ QHLĐ giữa NLĐ hoặc tập thể lao động và NSDLĐ được xác lập qua đối thoại, thương lượng, thỏa thuận theo nguyên tắc tự nguyện, thiện chí, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền lợi và lợi ích hợp pháp của nhau”[5, tr18] Theo cách tiếp cận của Tổ chức lao động quốc tế (International Labour Organization – ILO): “QHLĐ là những mối quan hệ cá nhân và tập thể giữa những NLĐ và NSDLĐ tại nơi làm việc và nảy sinh từ công việc, cũng như các mối quan hệ giữa những đại diện của NLĐ và NSDLĐ ở cấp ngành, cấp quốc gia, và sự tương tác của các chủ thể này với nhà nước”. [5, tr18] Trên cơ sở các quan điểm và cách tiếp cận được phân tích nêu trên có thể nhận thấy QHLĐ là một phạm trù có nội hàm rộng, phức tạp được định nghĩa như sau: “QHLĐ là hệ thống tương tác giữa các chủ thể (NLĐ hoặc tổ chức đại diện cho NLĐ, NSDLĐ hoặc tổ chức đại diện cho NSDLĐ và nhà nước) nảy sinh từ quá trình thuê mướn lao động để đạt được lợi ích cá nhân, lợi tích tập thể và lợi ích xã hội dựa trên cơ sở pháp luật”. [5, tr20] 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo đó, QHLĐ thể hiện mối quan hệ giữa NLĐ và NSDLĐ hoặc giữa các tổ chức đại diện của họ với nhau hoặc giữa các tổ chức đại diện của họ với nhà nước. Những mối quan hệ này xoay quanh các khía cạnh về kinh tế, xã hội, tâm lý… để cùng đạt lợi ích cho các bên và mục tiêu chung của doanh nghiệp.
Và mối quan hệ này chịu sự điều chỉnh về mặt pháp lý của Nhà nước. Quan hệ lao động trong doanh nghiệp QHLĐ trong doanh nghiệp là hệ thống tương tác giữa các chủ thể là NLĐ hoặc tổ chức đại diện của NLĐ và NSDLĐ nảy sinh từ quá trình thuê mướn lao động để đạt được lợi ích các nhân, lợi ích tập thể và lợi ích xã hội trên cơ sở pháp luật. QHLĐ trong doanh nghiệp xoay quanh các vấn đề về HĐLĐ, TƯLĐTT, điều kiện lao động, nội quy… trong đó có sự tham gia của NLĐ làm việc tại doanh nghiệp hoặc đại diện của họ là tổ chức công đoàn và NSDLĐ. NSDLĐ có thể là chủ sở hữu doanh nghiệp hoặc không.
QHLĐ trong doanh nghiệp mà hai bên thiết lâp sẽ chịu sự điều chỉnh, quản lý về mặt pháp luật của Nhà nước về QHLĐ để đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ các bên. Nội dung nghiên cứu về QHLĐ trong doanh nghiệp 2. Các chủ thể của QHLĐ trong doanh nghiệp Chủ thể QHLĐ là tất cả những cá nhân hoặc tập thể có tính đại diện tham gia vào quá trình tương tác của QHLĐ. Có 2 nhóm chủ thể trong quá trình hình thành, duy trì, phát triển QHLĐ trong doanh nghiệp đó là: NLĐ và tổ chức đại diện cho NLĐ, NSDLĐ.
NLĐ và tổ chức đại diện cho NLĐ Người lao động NLĐ là những người tham gia vào một HĐLĐ mà theo đó họ phải thực hiện một công việc nhất định, được cung cấp các phương tiện vật chất cần thiết để làm và được nhận một số tiền nhất định theo hợp đồng quy định. NLĐ cần có năng lực sau khi tham gia QHLĐ: - Kiến thức: Kiến thức chuyên sâu, kiến thức xã hội và kinh nghiệm. Kiến thức mà NLĐ cần có khi tham gia QHLĐ là: Kiến thức về pháp luật lao động, kiến thức về TCLĐ, kiến thức về thương lượng, đối thoại… - Kỹ năng: Kỹ năng giao tiếp, kỹ năng thương lượng, đàm phán … 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Thái độ/phẩm chất: NLĐ cần có thái độ, ý thức tham gia và sẵn sàng tham gia vào việc thương lượng, đối thoại xã hội để giải quyết nhanh chóng các mâu thuẫn. Tổ chức đại diện cho người lao động Tổ chức đại diện cho NLĐ là tổ chức công đoàn hay nghiệp đoàn (thường gọi là công đoàn).
Tổ chức này sẽ đại diện cho NLĐ trong phạm vi QHLĐ, có cơ cấu chính thức và mục tiêu rõ ràng. Chức năng chủ yếu của công đoàn là bảo vệ quyền lợi hợp pháp và chính đáng của NLĐ; giáo dục và giúp NLĐ phát triển ý thức nghề nghiệp, ý thức kỉ luật; tham gia quản lý doanh nghiệp, quản lý nhà nước để góp phần thúc đẩy xã hội phát triển. Trong nền kinh tế thị trường, hai bên QHLĐ là hai chủ thể có lợi ích độc lập với nhau, mâu thuẫn về lợi ích giữa họ bộc lộ khá rõ nét. Vì vậy, tổ chức đại diện cho NLĐ đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ cho NLĐ, cụ thể: - Bảo vệ quyền lợi chính đáng cho NLĐ là đoàn viên công đoàn.
- Kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, giáo dục NLĐ. - Tham gia đổi mới cơ chế quản lý, củng cố nguyên tắc tập trung dân chủ, tuyên truyền, giáo dục NLĐ. - Góp phần lành mạnh hóa QHLĐ. - Hỗ trợ các dịch vụ và kỹ thuật cho các công đoàn viên và các tổ chức thành viên của công đoàn.
Người sử dụng lao động NSDLĐ được hiểu là người sở hữu vốn, là người chủ hợp đồng. Trong nền kinh tế hiện đại ngày nay thì NSDLĐ không nhất thiết phải là chủ sở hữu doanh nghiệp mà chỉ cần họ có quyền tuyển dụng, sử dụng, sa thải lao động. NSDLĐ có một số quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ cơ bản sau: - NSDLĐ có quyền tuyển chọn lao động, bố trí, điều hành lao động theo nhu cầu sản xuất kinh doanh. - NSDLĐ có quyền khen thưởng và xử lý các vi phạm kỷ luật lao động theo quy định của pháp luật lao động.
- NSDLĐ có quyền cử đại diện để thương lượng, ký kết TƯLĐTT trong doanh nghiệp hoặc TƯLĐTT trong ngành. - NSDLĐ có trách nhiệm cộng tác với công đoàn bàn bạc các vấn đề về QHLĐ, cải thiện đời sống và tinh thần của NLĐ. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - NSDLĐ có nghĩa vụ thực hiện HĐLĐ, TƯLĐTT và những thỏa thuận khác với NLĐ, tôn trọng danh dự, nhân phẩm và đối xử đúng đắn với NLĐ.