CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA LÃI SUẤT ĐÊN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH 1.1 Một số khái niệm cơ bản về lãi suất 1. Lãi suất Lãi suất là một phạm trù kinh tế mang tính chất tổng hợp đa dạng và phức tạp. Tính tổng hợp và phức tạp của lãi suất xuất phát từ khái niệm: “lãi suất không có gì khác hơn là một giá cả -giá thuê vốn”. Francesca Taylor (2000), Commercial Bank Mannagement, International edition, MeGraw- Hill Irwin.
Lãi suất có tác động rất lớn đến nền kinh tế của đất nước, và nó là một công cụ trong phát triển kinh tế và đồng thời lại là một công cụ kìm hãm của chính sự phát triển ấy, tuỳ thuộc vào việc khôn ngoan hay yếu kém trong việc sử dụng chúng. Đối với nước ta, lãi suất luôn được coi là một trong những vấn đề rất được quan tâm hiện nay. Lãi suất được hiểu theo một nghĩa chung nhất là giá cả của tín dụng – giá cả của quan hệ vay mượn hoặc cho thuê những dịch vụ về vốn dưới hình thức tiền tệ hoặc các dạng thức tại sản khác nhau. Khi đến hạn, người đi vay sẽ phải trả cho người cho vay một khoản tiền dôi ra ngoài số tiền vốn gọi là tiền lãi.
Tỷ lệ phần trăm của số tiền lãi trên số tiền vốn gọi là lãi suất. John Maynard Keynes lập luận rằng lãi suất là một hiện tượng tiền tệ phản ánh mối quan hệ giữa cung và cầu về tiền. Cung tiền được xác định một cách ngoại sinh, cầu tiền phản ánh các nhu cầu đầu cơ, phòng ngừa và giao dịch về tiền. Trái với Keynes, các nhà kinh tế học cổ điển trước đó đã coi lãi suất là một hiện tượng thực tế, được xác định bởi áp lực của năng suất - cầu về vốn cho mục đích đầu tư - và tiết kiệm.2 Phân loại lãi suất Có rất nhiều cách phân loại lãi suất nhưng theo nội dung nghiên cứu đề tài là ảnh hưởng của lãi suất đến hoạt động kinh doanh của công ty TNHH Phúc Kiến , ta xét cách phân loại lãi suất theo loại hình tín dụng bao gồm: Thứ nhất: Lãi suất tín dụng thương mại Lãi suất tín dụng thương mại được áp dụng khi các doanh nghiệp cho nhau vay dưới hình thức mua bán chịu hàng hóa.
Tùy theo thời hạn mua bán chịu, cung – cầu về 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mua bán chịu và mức độ tín hiệu giữa các doanh nghiệp tham gia quan hệ mua bán chịu mà lãi suất tín dụng thương mại có các mức khác nhau. Thứ hai: Lãi suất tín dụng ngân hàng Lãi suất tín dụng ngân hàng áp dụng trong quan hệ giữa ngân hàng với công chúng và doanh nghiệp trong việc thu hút tiền gửi và cho vay, trong hoạt động tái cấp vốn của NHTƯ cho các Ngân hàng và trong quan hệ giữa các ngân hàng với nhau trên thị trường liên ngân hàng. Lãi suất tín dụng ngân hàng bao gồm: + Lãi suất tiền gửi: là lãi suất do các ngân hàng đưa ra để huy động vốn tạm thời nhà rỗi trong xã hội. + Lãi suất tiền vay: là lãi suất mà người đi vay của ngân hàng căn cứ vào đó để trả lãi vay cho ngân hàng.
Trong công bố lãi suất, lãi suất cho vay thường đứng sau lãi suất đi vay của ngân hàng. + Lãi suất chiết khấu: lãi suất mà NHNN đánh vào các khoản tiền cho các ngân hàng thương mại vay để đáp ứng nhu cầu tiền mặt ngắn hạn hoặc bất thường của các ngân hàng này. + Lãi suất tái chiết khấu: là lãi suất thực hiện trên cơ sở đối tượng là các giấy tờ có giá, ví dụ: hối phiếu, lệnh phiếu, trái phiếu,. Các ngân hàng sẽ chấp nhận trả tiền cho người cầm (hoặc sở hữu các giấy đó để đổi lại một khoản lời mà ta gọi là lãi suất chiết khấu và thu lại khoản tiền của họ đối với người thanh toán ghi trên đó khi đến hạn.
+ Lãi suất liên ngân hàng: là lãi suất vay mượn lẫn nhau giữa các ngân hàng, thông qua thị trường liên ngân hàng. + Lãi suất cơ bản: Lãi suất cơ bản là lãi suất do NHTƯ công bố làm cơ sở cho các NHTM và tổ chức tín dụng khác ấn định lãi suất kinh doanh. Lãi suất cơ bản do NHTƯ xác định và công bố trên cơ sở tình hình thực tế và mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia. Lãi suất cơ bản là lãi suất có tác dụng chi phối tất cả các loại lãi suất khác hình thành trong nền kinh tế thị trường, đó là loại lãi suất chiếm vị trí quan trọng trong cơ chế thị trường nói chung và trong cơ chế có điều kiện như ở nước ta hiện nay.
Thứ ba: Lãi suất tín dụng Nhà nước Lãi suất tín dụng nhà nước áp dụng khi nhà nước đi vay các chủ thể khác nhau trong xã hội dưới hình thức phát hành tín phiếu hoặc trái phiếu. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngoài ra còn có nhiều cách phân loại khác nhau như xuất phát từ đề tài nghiên cứu ảnh hưởng của lãi suất đến hoạt động kinh doanh của công ty TNHH Phúc Kiến nên cá nhân em chỉ đề cập đến cách phân loại trên.3 Cơ chế xác định lãi suất Từ khái niệm về lãi suất, ta có thể mô hình hóa những yếu tố tham gia vào việc hình thành nên lãi suất trong nền kinh tế như mô hình trên. Dựa vào mô hình chúng ta thấy có nhân tố tham gia vào việc xác định lãi suất. Thị trường lãi suất bao gồm - Người cho vay: những người dư thừa vốn - Người đi vay: những người cần vốn để kinh doanh, tiêu dùng.
- Các NHTM và tổ chức tài chính trung gian: những chủ thể tham gia vào thị trường tài chính, hoạt động tín dụng, huy động vốn để cho vay nhằm mục đích kinh doanh thu lợi nhuận. Họ có những vai trò, vị trí, lợi thế mà tài chính trực tiếp không có được. Những thành phần này tham gia vào việc xác định lãi suất tuân theo theo quy luật thị trường. Khi nhu cầu về vốn được đáp ứng bằng cung về vốn ở mức toàn dụng vốn thì lãi suất cân bằng được hình thành.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tài chính gián tiếp NHNN (NHTM) Lãi suất Người Tài chính trực tiếp Người đi cho vay Lãi suất vay NHNN NHTM Người đi Người vay cho vay Lãi suất Sơ đồ 1.1: Cơ chế xác định lãi suất Những biến động của các biến số kinh tế vĩ mô sẽ ảnh hưởng đến hành vi của các thành phần này, thay đổi cung cầu về vốn và lãi suất cân bằng được điều chỉnh cho phù hợp. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Lãi suất Cung về vốn LSCB E Cầu về vốn O Vốn Hình 1.2: Cơ chế xác định lãi suất cân bằng 1.4 Các nhân tố ảnh hưởng của lãi suất trong nền kinh tế Trong các nền kinh tế thị trường, nhà nhà nước chỉ đóng vai trò là người điều tiết vĩ mô, thị trường tài chính và các tổ chức tài chính trung gian. Các nước có nền kinh tế thị trường chủ yếu theo đuổi chính sách tự do hoá tài chính, do vậy cơ chế hình thành lãi suất chủ yếu dựa trên cơ chế thị trường. Đó là sự thay đổi về cung-cầu của vốn vay ảnh hưởng tới sự hình thành và biến đổi lãi suất trên thị trường.
Cung về vốn vay bắt nguồn từ những người có thu nhập dôi ra mà họ muốn tiết kiệm và cho vay kiếm lời, qua đó cho thấy rằng tiết kiệm là nguồn cung về vốn vay. Còn cầu về vốn vay bắt nguồn từ các hộ gia đình và các doanh nghiệp muốn vay tiền để đầu tư, mua nhà đất hay xây dựng nhà máy. Như vậy, đầu tư là nguồn gốc làm phát sinh nhu cầu về vốn vay. Trên thị trường có rất nhiều tác nhân ảnh hưởng đến sự thay đổi về cung và cầu vốn vay, dưới dây ta chỉ phân tích những tác nhân có ảnh hưởng quan trọng đến đường cung và đường cầu về vốn vay, qua đó tác động đến lãi suất.
Mức lạm phát kỳ vọng Khi mức lạm phát được dự đoán sẽ tăng lên trong một thời kỳ nào đó, lãi suất sẽ có xu hướng tăng. Ta thấy rằng : Lãi suất danh nghĩa = Lãi suất thực tế + Tỷ lệ lạm phát Do đó, để duy trì lãi suất thực tế không giảm, khi tỷ lệ lạm phát tăng thì lãi suất danh nghĩa cũng phải tăng lên tương ứng. Bên cạnh đó, khi lạm phát tăng, công chúng sẽ chuyển phần tiết kiệm của mình sang dự trữ hàng hóa hoặc các dạnh thức tài sản phi tài chính khác như vàng, ngoại tệ mạnh hơn là cho vay. Điều đó làm giảm cung về vốn vay, qua đó làm dịch chuyển đường cung sang trái và làm lãi suất tăng lên.
Ngược lại, ta thấy 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com rằng, nếu lạm phát dự tính có xu hướng giảm thì sẽ làm cho lãi suất giảm xuống. Đầu tư Đầu tư là nhân tố tác động trực tiếp đến lượng cầu về vốn vay. Khi Nhà nước có các chính sách khuyến khích về đầu tư, ví dụ như nhà nước giảm thuế lợi tức công ty, nó có khuyến khích doanh nghiệp vay tiền và đầu tư nhiều hơn vào tư bản mới. Qua đó làm thay đổi đầu tư tại mọi mức lãi suất và làm thay đổi đến cầu về vốn vay.
Nhu cầu vay vốn tăng lên, đường cầu về vốn vay dịch chuyển sang bên phải và làm cho lãi suất tăng lên. Ngược lại, các chính sách của chính phủ làm kìm hãm đầu tư sẽ là nhân tố làm giảm lãi suất.3: Biểu diễn mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa lãi suất và đầu tư Thuế thu nhập Thuế thu nhập luôn tác động đến lãi suất giống như khi thuế tác động đến giá cả hàng hóa. Thông thường người ta quan tâm nhiều đến lợi nhuận sau thuế hơn là thu nhập danh nghĩa. Nên khi thuế thu nhập tăng lên, nó làm giảm đi một phần thu nhập của những cá nhân và tổ chức cung cấp dịch vụ tín dụng hay những người tham gia chứng khoán.
Nghĩa là khi thuế thu nhập tăng, phần tiết kiệm của các cá nhân và tổ chức sẽ giảm đi, do đó lượng tiền cho vay trên thị trường sẽ giảm đi. Qua đó làm giảm cung về vốn vay, đường cung vốn vay dịch chuyển sang trái, lãi suất tăng lên. Ngược lại, khi thuế thu nhập giảm đi sẽ là nhân tố làm giảm lãi suất. Ngân sách của chính phủ Ta biết rằng: Tiết kiệm quốc dân = Tiết kiệm tư nhân + Tiết kiệm Chính phủ.