CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHỞI NGHIỆP VÀ CÁC MÔ HỊ NGHIÊN CỨU Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP. và ý định khởi nghiệp 1. Khái niệm về khởi nghiệp “Khởi nghiệp” là một trong những khái niệm được nhiều nhà nghiên cứu đề xuất với những cách tiếp cận đa dạng và mục tiêu nghiên cứu khác nhau. Nhìn chung, “khởi nghiệp” là hoạt động xây dựng một điều gì đó mới mẻ, bao gồm các công việc phục vụ cho quá trình thành lập một công ty hoặc một đơn vị kinh doanh mới (Leibenstein, 1968).
Trong khi đó, Schumpeter (1934) định nghĩa "khởi nghiệp” như một hoạt động đòi hỏi sự sáng tạo và đổi mới, có thể thể hiện dưới hình thức giới thiệu một sản phẩm mới, một thị trường mới, một phương pháp sản xuất mới, một nguồn cung cấp nguyên liệu mới hoặc một hình thức tô chức mới. Phần lớn các hoạt động kinh doanh hiện nay đều bất nguồn từ dự định khởi nghiệp (Wong & Choo, 2006). Thông thường, dự định khởi nghiệp thường xuất hiện cùng mục đích khởi nghiệp vào khoảng thời gian một năm trước khi một doanh nghiệp mới được ra đời *Khởi nghiệp” là hành vi xác định và quyết tâm thực hiện hoá một cơ hội kinh doanh nhất định nhằm kiếm lời từ đó (George & Zahra, 2002). Đây là một quá trình chủ động quản lý hình ảnh và sáng tạo.
Trong quá trình khởi nghiệp, cá nhân áp dụng các kĩ năng, kiến thức của họ vào doanh nghiệp khởi nghiệp (Veeraraghavan, 2009), Bên cạnh đó, khái niệm về “khởi sự doanh nghiệp” là quá trình một cá nhân hoặc một nhóm cá nhân nắm bắt các cơ hội thương mại bằng những ý tưởng đôi mới, chẳng hạn như tung ra các sản phẩm mới hoặc các dịch vụ hữu ích với sự cải tiến từ các quy trình hoặc phương pháp sản xuất hiện có. Đây được xem như một hi hồng cho phép một nhân viên hoạt động như một doanh nhân trong một công ty hoặc tổ chức khác. Quá trình này thường được thực hiện bởi một tổ chức mới (thành lập doanh nghiệp), nhưng nó cũng có thể được thực hiện trong một công ty hiện có đang. trải qua một thay đôi lớn về sản phẩm hoặc chiến lược.
Đối tượng chính của khởi sự 11 trong doanh nghiệp là những người năng động, chủ động và có định hướng hành động, chủ động theo đuổi một mô hình hoặc một sản phẩm kinh doanh nhất định. “Khởi nghiệp” đề cập đến một hệ thống cho phép nhân viên xuất hiện với tư cách là doanh nhân ở các công ty và tổ chức khác. Doanh nhân là những người năng. động, chủ động và có định hướng hành động một cách tích cực trong việc phát triển và kiếm lợi nhuận từ một mô hình kinh doanh nhất định.
Những người làm trong nội bộ hiểu được thất bại, không giống như các doanh nhân, sẽ không phải chịu bất kỳ chỉ phí cá nhân nào vì tôn thất do thất bại sẽ được tô chức gánh chịu. Ở góc độ một doanh nhân, "khởi nghiệp” được xem như bước đầu trong việc thực hiện hoá ý tưởng kinh doanh, triển khai các hoạt động cần thiết, với tỉnh thần không quản ngại rủi ro để tạo ra của cải (Wortman, 1987). Ở góc độ trách nhiệm xã hội, khởi nghiệp lại được xem như một quá trình đổi mới và tạo ra sự khác biệt, không chỉ nhằm đem lại lợi nhuận cho cá nhân và mà cỏn giúp xây dựng nên các giá trị tích cực mới cho cộng đồng, qua đó phản ánh đúng chức năng xã hội của kinh doanh, đặt nhiệm vụ phục vụ lợi ích công cộng ở một mức độ ưu tiên cao hơn (Kao, 1993). Nhóm nghiên cứu của Tan và các cộng sự (2005) cũng có chung quan điểm, cho rằng khởi nghiệp cần được nhìn từ góc độ xã hội, thông qua những giá trị cụ thể mà khởi nghiệp có thể đem lại cho xã hội.
“Khởi nghiệp” còn là thuật ngữ dùng đề chỉ giai đoạn đầu khi một công ty/tổ chức kinh doanh đi vào hoạt động. Các công ty ở giai đoạn này chủ yếu hoạt động dựa trên việc sử dụng nguồn vốn cá nhân của nhà khởi nghiệp đề phát triển các sản phẩm và dịch vụ cốt lõi (Aswath Damodaran, 2009). Tuy nhiên, do nguồn thu thời gian đầu còn hạn chế và chỉ phí vận hành luôn ở mức cao, hầu hết các công ty nhỏ thường không thê hoạt động hiệu quả và rơi vào tình trạng bắt ôn trong thời gian dài nếu không các quỹ đầu tư cung cấp vốn hỗ trợ (Baringer và Ireland, 2010). Tóm lại, khởi nghiệp có rất nhiều định nghĩa và cũng rất nhiều cách hiểu khác nhau; song, nhìn chung, “khởi nghiệp” được xác định là việc một cá nhân theo.
đuổi một mô hình kinh doanh lý tưởng và phù hợp với mình với mục đích tạo ra một doanh nghiệp mới, kiếm lợi nhuận, doanh thu cho chính doanh nghiệp đó, đồng, thời đem đến các giá trị tích cực cho cộng đồng xung quanh. So sánh khởi sự doanh nghiệp và khởi nghiệp Khởi sự doanh nghiệp (KSDN) thường được nhận xét là có tiềm năng hơn so với khởi nghiệp ở một số khía cạnh như sau: « Về đối tượng, có thê thấy: đối tượng của cả hai mô hình chủ yếu đều là giới trẻ đang tràn đầy năng lượng và nhiệt huyết, có tư duy làm chủ và tỉnh thần cầu thị. Tuy nhiên, đối tượng KSDN là những người có kỳ năng lãnh đạo và tư duy vượt trội hơn và quan trọng nhất là họ có định hướng hành động và kinh nghiệp làm việc trong nhiều loại môi trường kinh doanh. « Về tinh thần khởi nghiệp, mặc dù cả hai loại đối tượng đều có tỉnh thần khởi nghiệp, song tỉnh thần của người tham gia KSDN luôn được tín nhiệm cao hơn nhờ có tỉnh thần trách nhiệm đến từ việc họ đại diện không chỉ cho cá nhân mà cho cả một tập thể, ý chí tiến thủ, khả năng chịu đựng, không chấp nhận thất bại và ý chí đương đầu với mọi khắc nghiệt, khó khăn từ bên ngoài khiến cho kế hoạch kinh doanh của họ được nuôi dưỡng, bảo vệ và phát triển ở một lộ trình bài bản hơn, thay vì một tỉnh thần chưa đủ lớn và tâm huyết của một người mới bắt đầu khởi nghiệp.
« Về mô hình hoạt động, KSDN cho phép nhân viên không phải trả giá cho thất bại của mình ở mức độ như đối với một doanh nhân vì tổ chức sẽ là đơn vị trực tiếp hấp thụ những tôn thất phát sinh từ thất bại. Trong khi đó, cá nhân khởi nghiệp. sẽ là nạn nhân của chính thất bại của mình. Tuy nhiên, bài học nhận được của cả hai đối tượng sẽ đều đem lại những giá trị thực tế nhất định.
Sự khác nhau giữa Khởi nghiệp và Siartup Phát biểu tại Ngày hội khởi nghiệp KH&CN Việt Nam - Techfest, Nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam (2017) gọi Startup là doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. "Khởi nghiệp” và “Startup” 14 hai khái niệm hoàn toàn khác biệt. Tuy vậy, rất nhiều người nhằm lẫn và sử dụng hai khái niệm này thay thế cho nhau. Trong khi thuật ngữ "khởi nghiệp” đã có từ lâu và được áp dụng ở nhiều nước từ hàng.
trăm năm nay thì thuật ngữ “Startup” lại chỉ mới xuất hiện n đây. Hai khái niệm này có điểm chung là đều bắt đầu với yếu tố “con người” và thông qua quá trình 13 nhận định vấn đề, đưa ra giải pháp nhằm đáp ứng nhu cầu hiện có của thị trường, thông qua việc sử dụng mọi nguồn vốn cá nhân và thu về lợi nhuận. “Khởi nghiệp” là khởi đầu việc xây dựng một hoạt động kinh doanh nhất định, trong khi đó, “Startup” chỉ đơn thuần là một trong những hình thức được lựa chọn để tiến hành khởi nghiệp. Mục tiêu của khởi nghiệp có thê đa dạng và không nhất thiết phải liên quan đến việc phá vỡ thị trường hoặc thay đổi ngành công nghiệp.
Nó có thê là việc khởi đầu một doanh nghiệp gia đình, mở một quán cà phê, hoặc thậm chí là một cửa hàng nhỏ. Mục tiêu chính của khởi nghiệp là tạo ra lợi nhuận và duy trì hoạt động. Mục tiêu của một Startup thường là phát triển và triển khai một ý tưởng hoặc sản phâm đột phá có tiềm năng thay đổi cách một ngành công nghiệp hoạt động. Startup thường nhận được sự quan tâm từ các nhà đầu tư vốn nhìn ra được tiềm năng phát triên nhanh chóng của họ và sẵn sàng giúp các sản phẩm của họ đạt được giá trị cao hơn.
Khái niệm về ý định khởi nghiệp `Ý định khởi nghiệp thường được đề cập đến trong hệ thống tư duy của cá nhân về cách thức tạo dựng và duy trì một doanh nghiệp mới (Ibrahim & Lucky, 2014). Nói cách khác, theo Chhabra Raghunathan, và Rao (2020), khái niệm ý định khởi nghiệp. thể hiện một tỉnh thần thôi thúc, khuyến khích các cá nhân trong việc thành lập và xây. dựng một doanh nghiệp mới.
Nam 2007, Gupta & Bhawe đưa ra nl : Quá trình khởi nghiệp thành công hay không chủ yếu được bắt nguồn từ một ý tưởng phù hợp và một quá trình lập kế hoạch chỉ tiết hay không; cùng với đó là sự kết hợp với việc nắm bắt được cơ hội của thị trường và tận dụng tốt các nguồn lực hiện có (Kuckertz Wagner, 2010). số nghiên cứu về ý định và hảnh vi khởi nghiệp của các học giả quốc tế đưa ra các luận điểm rất đa dạng. Nghiên cứu của Ajzen (1991) cho thầy ¥ định khởi nghiệp của một cá nhân có thể được đánh giá thông qua lý thuyết hành 14 vi dự định.' Bên cạnh đó, dựa trên lý thuyết hành vi hợp ly,? Ajzen va Fishbein (1975) cho rằng, con người thực hiện hành vi dựa trên thái độ của họ khi phản ứng với hành vi tương tự trước đó, đồng thời được thê hiện bằng sự đồng thuận/không đồng thuận. Dựa trên lý thuyết này, Marco và cộng sự (2013) đã đưa ra nhận định rằng, là một quá trình xác định, đánh giá mức độ khả thi và khai thác khả năng thực hiện các cơ hội kinh doanh.
Bird (1988) thì nhấn mạnh, ý định khởi nghiệp là một xúc cảm cá nhân thể hiện sự quan tâm vượt bậc và nhu cầu tạo ra một doanh nghiệp mới. Trong câu chuyện khởi nghiệp dự án Facebook của Mark Zuckerberg, anh cùng các cộng sự của mình tạo ra một mạng xã hội mới, cho phép sinh viên trường Dai hoc Harvard tao ra hồ sơ cá nhân, tải lên hình ảnh và trỏ chuyện với nhau. rang web này đã được công bố chính thức ngay tại phòng ký túc xá, và đó là sự khởi đầu của Facebook. Hiện tại, Facebook đã có giá trị 600 tỉ đô với hàng tỷ người dùng hàng tháng.
Phải nói rằng tại thời điểm Facebook ra đời, thế giới Internet đang trong.