Luận Đại Trí Độ Tập I Cuốn 6 - 10 (Mahàprajnàparamitàsatra) Tác giả: Nàgàrjuna (Long Thọ) Dịch Phạn ra Hán: Cƣu Ma La Thập Việt Dịch HT.Thiện Siêu Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam Ấn hành 1997 ---o0o--- Nguồn http://www.com Luận Đại Trí Độ Tập I Cuốn 6 - 10 (Mahàprajnàparamitàsatra) Tác giả: Nàgàrjuna (Long Thọ) Dịch Phạn ra Hán: Cƣu Ma La Thập Việt Dịch HT.Thiện Siêu Cuốn 6. 3 GIẢI THÍCH: "MƢỜI DỤ" .27 GIẢI THÍCH: PHẬT THẾ GIỚI NGUYỆN .37 GIẢI THÍCH: TAM MUỘI .44 GIẢI THÍCH: PHÓNG QUANG .73 GIẢI THÍCH: HIỆN PHỔ THÂN .82 GIẢI THÍCH: MƢỜI PHƢƠNG CHƢ BỒ-TÁT ÐẾN .95 Cuốn 6 Chƣơng 10 GIẢI THÍCH: "MƢỜI DỤ" KINH: Hiểu rõ các Pháp nhƣ huyễn, nhƣ sóng nắng, nhƣ trăng dƣới nƣớc, nhƣ hƣ không, nhƣ thành Càn-thát-bà, nhƣ mộng, nhƣ ảnh, nhƣ tiếng vang, nhƣ bóng trong gƣơng, nhƣ hóa. LUẬN: Ấy là mƣời thí dụ để giải thích pháp Không. Hỏi: Nếu tất cả pháp Không ví nhƣ huyễn thuật, vì sao các pháp lại có thể thấy, có thể nghe, có thể ngửi, có thể nếm, có thể xúc, có thể biết? Nếu thật không có thì không có thể thấy cho đến có thể biết? Lại nữa, nếu không mà vọng kiến là có, thế vì sao không thấy tiếng, nghe sắc? Nếu hết thẩy đều không có gì, thế vì sao có cái thấy đƣợc, có cái không thấy đƣợc? Nhƣ một ngón tay, móng thứ nhất không, móng thứ hai cũng không, thế tại sao không thấy móng thứ hai mà chỉ thấy móng thứ nhất? Vậy cho biết móng thứ nhất thật có nên có thể thấy, móng thứ hai thật không nên không thể thấy? Đáp: Các pháp tƣớng tuy không, cũng có phân biệt có thể thấy và không thể thấy.
Ví nhƣ Voi, Ngựa huyễn hóa và các thứ khác tuy biết nó không thật, nhƣng sắc có thể thấy, tiếng có thể nghe, đối với sáu căn không tạp loạn. Các pháp cũng nhƣ vậy, tuy không mà có thể thấy, có thể nghe, không tạp loạn. Nhƣ kinh Đức Nữ (Therisutra) thuyết: "Đức Nữ bạch Phật rằng: "Bạch đức Thế Tôn, nhƣ Vô minh có ở bên trong chăng?" Phật nói "Không phải". - Bạch, có ở bên ngoài chăng? - Không.
- Bạch, có ở bên trong bên ngoài chăng? - Không. - Bạch Thế Tôn, Vô minh ấy từ đời trƣớc mà đến chăng? Phật nói "Không". - Bạch, từ đời này đến đời sau chăng? - Không. - Bạch, Vô minh ấy có sanh có diệt chăng? - Không.
- Bạch Thế Tôn, có một pháp nhất định có thật tánh gọi là Vô minh chăng? - Không. Bấy giờ Đức Nữ lại bạch Phật: "Bạch đức Thế Tôn, nếu Vô minh không ở trong không ở ngoài; cũng không ở trong ở ngoài; không từ đời trƣớc đến đời nay, từ đời nay đến đời sau; cũng không có tánh chơn thật; vậy sao nói từ Vô minh làm duyên mà có Hành cho đến các khổ tập? Bạch Thế Tôn, ví nhƣ có cây, nếu không có gốc làm sao sanh cọng, đốt, cành, lá, hoa, quả đƣợc?" Phật nói: "Các pháp tƣớng tuy không, nhƣng vì kẻ phàm phu vô văn vô trí đối với các pháp sanh đủ thứ phiền não, do phiền não làm nhân duyên tạo nghiệp thân khẩu ý, do nghiệp làm nhân tác thành thân đời sau, do thân làm nhân duyên mà thọ khổ thọ vui. Ở trong đó, không có phiền não tạo tác thật sự, cũng không có thân khẩu ý nghiệp, cũng không có kẻ thọ khổ thọ vui, ví nhƣ huyễn sƣ huyễn làm ra các vật, ý ngƣơi nghĩ sao? Các vật huyễn ấy có ở bên trong chăng?" - Bạch Thế Tôn, không phải. - Có ở bên ngoài chăng? - Bạch Thế Tôn, không.
- Có ở bên trong bên ngoài chăng? - Bạch, không. - Từ đời trƣớc đến đời nay, từ đời nay đến đời sau chăng? - Bạch, không. - Các vật huyễn có sanh có diệt chăng? - Bạch, không. - Thật có một pháp gọi là vật huyễn chăng? - Bạch, không.
Phật nói: "Ngƣơi có thấy có nghe kỹ nhạc do huyễn thuật làm ra chăng?" - Bạch, con cũng có nghe có thấy. Phật hỏi Đức Nữ: "Nếu huyễn thuật không, dối trá, không thật; làm sao từ huyễn thuật làm ra kỹ nhạc?" Đức Nữ bạch Phật: "Bạch Thế Tôn, huyễn tƣớng ấy là nhƣ vậy, tuy vốn không có căn bản, mà vẫn có thể nghe, thấy". Phật nói: "Vô minh cũng nhƣ vậy, tuy không có ở bên trong, không ở bên ngoài, không có ở bên trong bên ngoài, không từ đời trƣớc đến đời nay, từ đời nay đến đời sau, không có thật tánh, không có sanh diệt, nhƣng Vô minh làm nhân duyên mà có các Hành sanh, cho đến các khổ tập hợp. Nhƣ khi huyễn dứt thì vật huyễn cũng dứt.
Vô minh cũng vậy, Vô minh hết thì Hành cũng hết, cho đến các Khổ và Tập cũng hết". Lại nữa, thí dụ về huyễn là chỉ cho chúng sanh hay rằng hết thảy pháp Hữu vi là trống không không bền chắc. Nhƣ nói: các Hành nhƣ huyễn, dối gạt trẻ con, hệ thuộc vào nhân duyên, không tự tại, không trụ lâu. Thế cho nên nói các Bồ-tát biết các pháp nhƣ huyễn.
1- Nhƣ ráng nắng. Ráng nắng là khi mặt trời chiếu vào bụi trần do gió thổi động, thấy nhƣ Ngựa chạy giữa đồng hoang, ngƣời vô trí trông thấy bảo đó là nƣớc, tƣớng nam tƣớng nữ cũng vậy. Ánh mặt trời của kiết sử phiền não chiếu vào bụi trần các Hành do gió tà ức niệm thổi lên, xoay chuyển trong đồng hoang sanh tử. Ngƣời không có trí tuệ cho đó là một tƣớng, là nam, là nữ.
Thế gọi là nhƣ ráng nắng. Lại nữa, nếu ở xa trông thấy ráng nắng tƣởng là nƣớc, đến gần không có tƣớng nƣớc. Ngƣời vô trí cũng nhƣ thế. Nếu xa rời Thánh pháp, không biết lý Vô ngã, không biết các pháp không, thời với pháp ấm, giới, nhập tánh không, sanh ra tƣớng ngƣời, tƣớng nam, tƣớng nữ.
Nếu gần gũi Thánh pháp thời biết thật tƣớng các pháp, bấy giờ các thứ vọng tƣởng hƣ cuống trừ sạch. Thế nên nói các Bồ-tát biết các pháp nhƣ ráng nắng. 2- Nhƣ trăng dƣới nƣớc: Thí nhƣ trăng thật ở giữa hƣ không mà ảnh hiện dƣới nƣớc. Trăng thật pháp tƣớng ở giữa hƣ không của nhƣ pháp tánh, thật tế, mà trong nƣớc tâm của ngƣời phàm lại hiện ra tƣớng ngã, ngã sở.
Thế nên gọi là nhƣ trăng dƣới nƣớc. Lại nữa, nhƣ trẻ con thấy trăng dƣới nƣớc, vui mừng muốn nắm lấy, ngƣời lớn thấy vậy thì cƣời. Ngƣời vô trí cũng nhƣ thế, do thân kiến mà thấy có tự ngã, do không có thật trí mà thấy đủ thứ pháp, thấy rồi hoan hỷ muốn nắm lấy các tƣớng: Tƣớng nam, tƣớng nữ v.v… Các Thánh nhân đắc đạo thì cƣời, nhƣ kệ nói: "Nhƣ trăng dƣới nƣớc, nƣớc trong nắng. Trong mộng đƣợc tiền, chết cầu sống.
Nếu ai thật muốn đƣợc nhƣ vậy, Là kẻ ngu si bị Thánh cƣời". Lại nữa, nhƣ trong nƣớc đứng lặng trông thấy bóng trăng, khuấy nƣớc lên thời không thấy nữa. Trong nƣớc tâm vô minh, đứng lặng thấy có bóng tự ngã và các kiết sử kiêu mạn. Dùng gậy trí tuệ chơn thật khuấy nƣớc tâm lên thời không còn thấy bóng các kiết sử, tự ngã nữa.
Vì thế nên nói các Bồ-tát biết các pháp nhƣ trăng dƣới nƣớc. 3- Nhƣ hƣ không: Chỉ có danh mà không có thật pháp, hƣ không chẳng phải là pháp có thể thấy, nhìn ở xa, do nhãn quan mà thấy thành màu xanh bạc. Các pháp cũng nhƣ thế, rỗng không, không có gì, do xa rời thật trí tuệ vô lậu, bỏ thật tƣớng nên thấy bỉ, ngã, nam, nữ, ốc xá, thành quách, các thứ tạp vật, tâm đắm vào, nhƣ trẻ con ngửa xem trời xanh, cho là có sắc thật, có ngƣời bay lên thật xa thì hoàn toàn không thấy gì, chỉ vì nhìn xa, bảo là sắc xanh. Các pháp cũng nhƣ thế, vì thế nên nói là nhƣ hƣ không.
Lại nữa, nhƣ hƣ không tánh thƣờng thanh tịnh nhƣng vì khí u ám mà cho là bất tịnh. Các pháp cũng nhƣ thế, tánh thƣờng thanh tịnh, vì dâm dục, sân nhuế che ám mà cho là bất tịnh, nhƣ kệ nói: "Nhƣ trời mùa hạ, sấm chớp mƣa, Mây mờ che khuất không trong sáng. Phàm phu vô trí cũng nhƣ thế, Các thứ phiền não thƣờng che tâm. Nhƣ mặt trời mọc về mùa đông, Thƣờng bị hôn khí, tuyết che ám.
Tuy đƣợc Sơ quả và Nhị quả. Còn bị dục nhiễm làm che lấp. Hoặc nhƣ mặt trời mọc mùa xuân, Thƣờng bị bóng mây làm u ám, Tuy lìa dục nhiễm đƣợc Tam quả, Si, mạn dƣ tàn còn che tâm. Hoặc nhƣ mặt trời thu không mây, Cũng nhƣ biển cả nƣớc thanh tịnh, Việc làm đã xong tâm vô lậu, La-hán đƣợc thanh tịnh nhƣ vậy".
Lại nữa, hƣ không không có đoạn đầu, đoạn giữa, đoạn cuối; các pháp cũng nhƣ vậy. Lại nữa, nhƣ trong kinh Đại thừa, Phật nói với Tu-bồ-đề: Hƣ không không đời trƣớc, cũng không đời giữa, cũng không đời sau; các pháp cũng nhƣ vậy. Kinh kia, đƣợc nói rộng trong đó. Thế nên nói các pháp nhƣ hƣ không.
Hỏi: Hƣ không thật có pháp, vì sao? Vì nếu hƣ không không thật pháp thì các động tác đƣa lên, hạ xuống, đến, đi, co duỗi, ra, vào v.v… cũng không có, vì không có chỗ để chuyển động? Đáp: Nếu pháp hƣ không thật có, thời hƣ không phải có chỗ trú, vì sao? Vì không có chỗ trú thì không có pháp. Nếu hƣ không trú trong lỗ trống, ấy là hƣ không trú trong hƣ không, vì vậy không phải trú trong lỗ trống. Nếu ở trong vật đặc, mà vật đặc chẳng phải làhƣ không, thì không thể trú đƣợc, vì nó không dung nạp. Lại nữa, ông nói chỗ trú là hƣ không, nhƣ trong vách đá đặc không có chỗ trú.
Nếu không có chỗ trú thì không có hƣ không. Vì hƣ không không có chỗ trú, cho nên không có hƣ không. Vì vô tƣớng nên không có hƣ không. Các pháp mỗi mỗi đều có tƣớng, vì tƣớng có nên biết có pháp; nhƣ tƣớng cứng của đất, tƣớng ƣớt của nƣớc, tƣớng nóng của lửa, tƣớng động của gió, tƣớng biết của thức, tƣớng hiểu của tuệ, tƣớng sanh tử của thế gian, tƣớng vĩnh diệt của Niết-bàn; còn hƣ không không có tƣớng cho nên không.
Hỏi: Hƣ không có tƣớng, ông không biết nên nói là không. Chỗ không có sắc tƣớng ấy là tƣớng của hƣ không. Đáp: Không phải! Không sắc tƣớng, ấy gọi là phá trừ sắc, không còn pháp gì khác, nhƣ đèn tắt; vì thế nên không có tƣớng hƣ không. Lại nữa, pháp hƣ không ấy không có, vì sao? Vì ông nhân nơi sắc mà nói chỗ không sắc tƣớng là tƣớng hƣ không.
Nếu vậy khi sắc tƣớng chƣa sanh thời không có tƣớng hƣ không. Lại nữa, ông cho sắc là pháp vô thƣờng, hƣ không là pháp thƣờng, vậy khi sắc tƣớng chƣa sanh phải trƣớc có pháp hƣ không, vì là thƣờng có.