Luận án TS: Vai trò Nhà nước phát triển KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam

Trường đại học

Học Viện Khoa Học Xã Hội

Chuyên ngành

CNDVBC VÀ CNDVLS

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

168
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Khám phá vai trò Nhà nước với KTTT định hướng XHCN tại VN

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, việc xác định vai trò của Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (KTTT định hướng XHCN) là nhiệm vụ chiến lược. Đây không chỉ là vấn đề lý luận mà còn là yêu cầu cấp bách từ thực tiễn Việt Nam. Luận án của Nguyễn Văn Thuân (2021) đã cung cấp một cơ sở lý luận vững chắc, khẳng định Nhà nước là nhân tố quyết định đảm bảo nền kinh tế vận hành đúng hướng, hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Về bản chất, KTTT định hướng XHCN không phải là một mô hình có sẵn, mà là một quá trình tìm tòi, sáng tạo, vận dụng các quy luật của kinh tế thị trường vào điều kiện đặc thù của Việt Nam. Do đó, vai trò của Nhà nước không chỉ dừng lại ở việc quản lý mà còn là vai trò kiến tạo phát triển. Nhà nước phải chủ động tạo lập môi trường pháp lý, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh và điều tiết các nguồn lực. Chức năng kinh tế của Nhà nước được thể hiện rõ nét qua ba nội dung cốt lõi: tạo lập môi trường thể chế, điều tiết kinh tế vĩ mô và định hướng phát triển theo mục tiêu xã hội chủ nghĩa. Sự can thiệp này không phải là sự áp đặt hành chính mà là sử dụng các công cụ kinh tế như chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ để khắc phục những khuyết tật của thị trường, đảm bảo công bằng xã hộian sinh xã hội. Quan điểm này bác bỏ hai thái cực: một là phủ nhận hoàn toàn sự can thiệp của nhà nước vào thị trường, hai là tuyệt đối hóa vai trò của nhà nước, quay lại cơ chế kế hoạch hóa tập trung. Thay vào đó, luận án nhấn mạnh sự kết hợp hài hòa giữa “bàn tay hữu hình” của Nhà nước và “bàn tay vô hình” của thị trường.

1.1. Luận giải cơ sở lý luận về vai trò kinh tế của Nhà nước

Cơ sở lý luận về vai trò của Nhà nước xuất phát từ chính những hạn chế cố hữu của kinh tế thị trường. Chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra, kinh tế thị trường tự phát có thể dẫn đến khủng hoảng, phân hóa giàu nghèo và bất ổn xã hội. Do đó, một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phải thực hiện chức năng kinh tế của nhà nước để định hướng, điều tiết và kiểm soát. Luận án khẳng định, vai trò này không chỉ là yêu cầu phổ biến của kinh tế thị trường hiện đại mà còn xuất phát từ “tính đặc thù của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” [124, tr. 13]. Nhà nước không chỉ là người “trọng tài” mà còn là người “cầm lái”, đảm bảo con thuyền kinh tế không chệch hướng khỏi mục tiêu đã định. Mục tiêu đó là sự phát triển hài hòa giữa kinh tế, xã hội và con người, nơi công bằng xã hộian sinh xã hội luôn được đặt song hành cùng tăng trưởng kinh tế. Đây chính là điểm khác biệt căn bản so với các mô hình kinh tế thị trường khác.

1.2. Phân tích mô hình kinh tế Việt Nam và sự cần thiết phải có Nhà nước

Mô hình kinh tế Việt Nam là một cấu trúc độc đáo, kết hợp các quy luật thị trường với các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội. Mô hình này vận hành với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Chính sự phức tạp này đòi hỏi một vai trò điều phối, định hướng mạnh mẽ từ Nhà nước. Nếu không có sự can thiệp của nhà nước vào thị trường, nền kinh tế có nguy cơ phát triển lệch lạc, chỉ chạy theo lợi nhuận đơn thuần mà bỏ qua các mục tiêu xã hội. Quá trình đổi mới kinh tế hơn 30 năm qua đã chứng minh rằng, thành công chỉ đến khi Nhà nước thực hiện tốt vai trò của mình. Nhà nước là chủ thể duy nhất có đủ thẩm quyền và nguồn lực để xây dựng hạ tầng, phân bổ nguồn lực chiến lược, và thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô nhằm duy trì sự ổn định và thúc đẩy tăng trưởng bền vững, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng.

II. Top thách thức vai trò Nhà nước trong KTTT định hướng XHCN

Mặc dù đạt được nhiều thành tựu, vai trò của Nhà nước trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vẫn đối mặt với không ít thách thức. Luận án chỉ ra rằng, “thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa được xây dựng đồng bộ; quản lý nhà nước về kinh tế còn nhiều bất cập” [124, tr. 20]. Một trong những thách thức lớn nhất là việc phân định ranh giới giữa chức năng quản lý nhà nước và chức năng chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước. Tình trạng “Nhà nước vẫn nắm những cái không cần nắm, buông những cái không cần buông” [140, tr. 20] vẫn còn tồn tại, làm giảm hiệu quả phân bổ nguồn lực và tạo ra môi trường cạnh tranh chưa thực sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Thêm vào đó, năng lực hoạch định và thực thi chính sách còn hạn chế. Nhiều chủ trương đúng đắn chưa được triển khai hiệu quả do bộ máy hành chính còn cồng kềnh, thiếu chuyên nghiệp. Sự can thiệp của Nhà nước vào thị trường đôi khi còn mang tính hành chính, duy ý chí, làm méo mó các tín hiệu thị trường. Vấn đề lợi ích nhóm, tham nhũng trong quá trình thực thi chính sách cũng là một rào cản lớn, làm suy giảm lòng tin của người dân và doanh nghiệp, gây nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Cuối cùng, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, Nhà nước phải đối mặt với áp lực cạnh tranh gay gắt, đòi hỏi phải liên tục đổi mới tư duy và phương thức quản lý để thích ứng với “luật chơi” chung của kinh tế toàn cầu mà vẫn giữ vững bản sắc và định hướng phát triển của quốc gia.

2.1. Bất cập trong quản lý nhà nước về kinh tế và phân bổ nguồn lực

Một trong những bất cập cốt lõi là hiệu quả quản lý nhà nước về kinh tế chưa cao. Công tác quy hoạch, dự báo chiến lược đôi khi còn chậm, chưa theo kịp biến động của thị trường. Cơ chế phân bổ nguồn lực, đặc biệt là đất đai và vốn, còn tồn tại nhiều kẽ hở, dễ dẫn đến lãng phí và tiêu cực. Thực tiễn Việt Nam cho thấy, nguồn lực chưa được tập trung cho các ngành, lĩnh vực then chốt có sức lan tỏa lớn. Thay vào đó, đầu tư công còn dàn trải, hiệu quả thấp. Hệ thống pháp luật, chính sách tuy đã được cải thiện nhưng vẫn còn chồng chéo, thiếu nhất quán, gây khó khăn cho hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân. Năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức thực thi nhiệm vụ quản lý kinh tế còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của một nền kinh tế thị trường hiện đại và năng động.

2.2. Mâu thuẫn giữa vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước và kinh tế tư nhân

Luận án chỉ rõ, việc xác định vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước (DNNN) vẫn còn nhiều lúng túng. Nhiều DNNN hoạt động kém hiệu quả, dựa vào các ưu đãi của Nhà nước thay vì năng lực cạnh tranh thực sự. Điều này tạo ra một sân chơi không bình đẳng, kìm hãm sự phát triển của kinh tế tư nhân – khu vực được xác định là “động lực quan trọng của nền kinh tế”. Sự mâu thuẫn này làm chậm quá trình tái cơ cấu nền kinh tế và giảm sức cạnh tranh quốc gia. Cổ phần hóa DNNN diễn ra còn chậm, chưa thực chất. Nhà nước vẫn can thiệp quá sâu vào hoạt động quản trị của doanh nghiệp, làm mất đi tính tự chủ, năng động cần có. Để giải quyết thách thức này, cần phải xác định rõ DNNN chỉ nên tập trung vào những lĩnh vực then chốt, thiết yếu mà tư nhân không thể hoặc không muốn làm, trả lại không gian phát triển cho các thành phần kinh tế khác.

III. Phương pháp Nhà nước điều tiết KTTT định hướng XHCN hiệu quả

Để vượt qua thách thức, Nhà nước cần đổi mới phương thức điều tiết nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Thay vì can thiệp trực tiếp bằng mệnh lệnh hành chính, Nhà nước phải chuyển sang sử dụng các công cụ quản lý vĩ mô một cách linh hoạt và khoa học. Trọng tâm của phương pháp này là duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, tạo nền tảng vững chắc cho tăng trưởng bền vững. Hai công cụ chính sách quan trọng nhất là chính sách tài khóachính sách tiền tệ. Việc phối hợp nhịp nhàng giữa hai chính sách này sẽ giúp kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá, và điều tiết chu kỳ kinh tế. Luận án nhấn mạnh, “Nhà nước phải tôn trọng các quy luật khách quan của kinh tế thị trường, chủ yếu thông qua các chính sách kinh tế để kích thích thị trường phát triển, tránh can thiệp quá sâu làm bóp méo thị trường” [128, tr. 10]. Bên cạnh đó, Nhà nước cần xây dựng một hệ thống thông tin, dự báo kinh tế chính xác để các quyết sách được đưa ra kịp thời và phù hợp. Quá trình xây dựng và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô phải đảm bảo tính công khai, minh bạch, có sự tham gia phản biện của các chuyên gia và xã hội. Điều này không chỉ nâng cao chất lượng chính sách mà còn củng cố niềm tin thị trường, một yếu tố vô cùng quan trọng đối với sự ổn định và phát triển của mô hình kinh tế Việt Nam trong giai đoạn mới.

3.1. Sử dụng chính sách tài khóa để ổn định kinh tế vĩ mô và an sinh

Chính sách tài khóa là công cụ hữu hiệu để Nhà nước thực hiện vai trò điều tiết. Thông qua thuế, chi tiêu công và quản lý nợ công, Nhà nước có thể tác động đến tổng cầu, định hướng đầu tư và thực hiện mục tiêu phân bổ nguồn lực. Trong giai đoạn kinh tế suy thoái, chính sách tài khóa mở rộng với việc tăng chi tiêu công cho hạ tầng, giảm thuế có thể kích thích tăng trưởng. Ngược lại, khi kinh tế quá nóng, chính sách thắt chặt giúp hạ nhiệt, kiềm chế lạm phát. Quan trọng hơn, chính sách tài khóa là công cụ trực tiếp để thực hiện công bằng xã hộian sinh xã hội. Nhà nước sử dụng ngân sách để đầu tư cho giáo dục, y tế, hỗ trợ người nghèo, trợ cấp thất nghiệp, qua đó giảm bớt sự chênh lệch giàu nghèo do mặt trái của thị trường gây ra. Việc thiết kế một hệ thống thuế lũy tiến và chi tiêu công hiệu quả là chìa khóa để đảm bảo tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ xã hội.

3.2. Vận dụng chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát ổn định giá trị

Chính sách tiền tệ, do Ngân hàng Nhà nước thực thi, đóng vai trò then chốt trong việc duy trì ổn định kinh tế vĩ mô. Các công cụ như lãi suất, tỷ giá, dự trữ bắt buộc, và các hoạt động trên thị trường mở được sử dụng để kiểm soát cung tiền, giữ lạm phát ở mức mục tiêu. Một môi trường lạm phát thấp và ổn định là điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp và người dân yên tâm đầu tư, sản xuất. Trong thực tiễn Việt Nam, việc điều hành chính sách tiền tệ một cách linh hoạt nhưng thận trọng đã góp phần quan trọng vào việc vượt qua các cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực và toàn cầu. Mục tiêu của chính sách tiền tệ không chỉ là kiểm soát lạm phát mà còn hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý và đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng. Sự độc lập tương đối của ngân hàng trung ương trong việc điều hành chính sách là một yếu tố cần được củng cố để nâng cao hiệu quả và tính minh bạch.

IV. Bí quyết phát huy vai trò kiến tạo phát triển của Nhà nước

Vượt lên trên vai trò quản lý và điều tiết, Nhà nước hiện đại trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phải là một “Nhà nước kiến tạo phát triển”. Vai trò kiến tạo phát triển có nghĩa là Nhà nước chủ động tạo ra một môi trường thể chế và pháp lý thuận lợi, minh bạch, và tiên liệu được để mọi thành phần kinh tế, đặc biệt là kinh tế tư nhân, có thể phát huy tối đa tiềm năng. Trọng tâm của vai trò này là hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nơi luật pháp được thượng tôn và thực thi công bằng. Luận án chỉ ra rằng, Nhà nước cần “xây dựng được một khung khổ pháp luật đồng bộ, đầy đủ, minh bạch và vững chắc, tạo ra được môi trường cạnh tranh lành mạnh và sân chơi bình đẳng cho mọi chủ thể” [128, tr. 10-11]. Điều này bao gồm việc cải cách thủ tục hành chính, loại bỏ các rào cản kinh doanh bất hợp lý, bảo vệ quyền sở hữu và thực thi hợp đồng hiệu quả. Bên cạnh đó, Nhà nước kiến tạo còn là Nhà nước đầu tư vào tương lai, tập trung nguồn lực cho giáo dục, khoa học công nghệ, và hạ tầng chiến lược. Nhà nước không làm thay thị trường, mà tạo ra “bệ đỡ” để thị trường vận hành hiệu quả hơn, đồng thời tích cực chủ động trong hội nhập kinh tế quốc tế, mở ra những không gian phát triển mới cho quốc gia.

4.1. Hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN tạo môi trường minh bạch

Nền tảng của vai trò kiến tạo phát triển chính là một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vững mạnh. Điều này đòi hỏi một hệ thống pháp luật kinh tế đồng bộ, phù hợp với thông lệ quốc tế nhưng vẫn phản ánh đặc thù của mô hình kinh tế Việt Nam. Mọi hoạt động của cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và người dân đều phải dựa trên pháp luật. Tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của các cơ quan công quyền phải được đề cao. Cải cách tư pháp, tăng cường năng lực xét xử các tranh chấp kinh tế, và xây dựng cơ chế giám sát quyền lực hiệu quả là những nhiệm vụ cấp bách. Một môi trường pháp lý ổn định, minh bạch sẽ giảm chi phí giao dịch, hạn chế tham nhũng, và tạo niềm tin cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước, từ đó thúc đẩy phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả nhất.

4.2. Thúc đẩy đổi mới kinh tế thông qua hội nhập và chính sách công

Nhà nước kiến tạo phải là đầu tàu trong quá trình đổi mới kinh tếhội nhập kinh tế quốc tế. Nhà nước chủ động đàm phán, ký kết các hiệp định thương mại tự do (FTA), tạo điều kiện cho doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đồng thời, Nhà nước phải có các chính sách công thông minh để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Điều này bao gồm các chính sách khuyến khích nghiên cứu và phát triển (R&D), hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Thay vì bảo hộ dàn trải, Nhà nước cần hỗ trợ có chọn lọc cho các ngành công nghiệp có tiềm năng, giúp chúng vượt qua giai đoạn đầu khó khăn để có thể cạnh tranh sòng phẳng trên thị trường quốc tế. Vai trò kiến tạo ở đây là tạo ra “cú hích” chính sách để định hướng sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại và bền vững.

V. Đánh giá vai trò Nhà nước qua thực tiễn đổi mới kinh tế VN

Nhìn lại chặng đường hơn 30 năm đổi mới kinh tế, vai trò của Nhà nước Việt Nam trong việc dẫn dắt nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã được khẳng định qua những thành tựu to lớn. Từ một nền kinh tế kế hoạch hóa, bao cấp, Việt Nam đã chuyển đổi thành công sang một nền kinh tế thị trường năng động và hội nhập. Luận án ghi nhận, “nhà nước ta đã có nhiều tác động tích cực trong việc đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển nền kinh tế này” [124, tr. 19]. Một trong những thành công nổi bật nhất là việc duy trì được ổn định kinh tế vĩ mô tương đối tốt, ngay cả khi đối mặt với các cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Tăng trưởng kinh tế luôn ở mức cao, đời sống người dân được cải thiện rõ rệt. Đặc biệt, Nhà nước đã thực hiện tốt mục tiêu kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội. Các chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới đã đạt được những kết quả ấn tượng, được quốc tế công nhận. Hệ thống an sinh xã hội ngày càng được mở rộng, đảm bảo quyền lợi cho người lao động và các nhóm yếu thế. Những kết quả này từ thực tiễn Việt Nam là minh chứng rõ ràng nhất cho thấy vai trò của Nhà nước không chỉ là cần thiết mà còn mang tính quyết định đến sự thành công của mô hình phát triển độc đáo này.

5.1. Thành tựu đảm bảo an sinh xã hội và công bằng xã hội

Một trong những dấu ấn đậm nét nhất của vai trò Nhà nước trong mô hình kinh tế Việt Nam là thành tựu về an sinh xã hộicông bằng xã hội. Nhà nước đã chủ động ban hành và thực thi hàng loạt chính sách nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực của thị trường. Hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp được mở rộng, bao phủ ngày càng nhiều đối tượng. Các chính sách ưu đãi cho vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số đã góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền. Tỷ lệ hộ nghèo giảm liên tục và mạnh mẽ là một thành tựu nổi bật. Điều này thể hiện rõ bản chất của định hướng xã hội chủ nghĩa, nơi con người là trung tâm của sự phát triển. Tăng trưởng kinh tế không phải là mục tiêu tự thân, mà là phương tiện để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho toàn dân.

5.2. Kết quả từ thực tiễn Việt Nam trong việc kiến tạo và phát triển

Thực tiễn Việt Nam cho thấy vai trò kiến tạo phát triển của Nhà nước ngày càng được thể hiện rõ. Việc ban hành Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư và các chính sách khuyến khích kinh tế tư nhân đã tạo ra một làn sóng khởi nghiệp mạnh mẽ, giải phóng sức sản xuất trong xã hội. Nhà nước đã đầu tư mạnh mẽ vào hạ tầng giao thông, năng lượng, viễn thông, tạo ra bộ khung vật chất cần thiết cho sự phát triển. Trong hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã trở thành một mắt xích quan trọng trong nhiều chuỗi cung ứng toàn cầu. Mặc dù vẫn còn những hạn chế, nhưng không thể phủ nhận rằng, sự lãnh đạo, định hướng và kiến tạo của Nhà nước là nhân tố cốt lõi làm nên những “kỳ tích” phát triển kinh tế của Việt Nam trong những thập kỷ qua.

VI. Hướng đi mới cho vai trò Nhà nước với KTTT định hướng XHCN

Bối cảnh thế giới đang thay đổi nhanh chóng với cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, căng thẳng địa chính trị và các thách thức an ninh phi truyền thống. Điều này đặt ra yêu cầu phải tiếp tục đổi mới tư duy về vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Hướng đi trong tương lai đòi hỏi Nhà nước phải trở nên tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả hơn. Cần phải tái định vị mô hình kinh tế Việt Nam, giảm bớt sự can thiệp hành chính vào thị trường và tăng cường vai trò kiến tạo phát triển. Nhà nước cần tập trung vào việc xây dựng thể chế chất lượng cao, quản trị quốc gia hiện đại và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Quá trình phân bổ nguồn lực cần dựa nhiều hơn vào cơ chế thị trường, nhưng Nhà nước phải giữ vai trò điều tiết để đảm bảo các mục tiêu chiến lược quốc gia và công bằng xã hội. Đặc biệt, cần nâng cao năng lực dự báo và khả năng phản ứng chính sách để thích ứng với những biến động khó lường của kinh tế toàn cầu. Việc xây dựng một Chính phủ số, một nền kinh tế số là hướng đi tất yếu. Cuối cùng, vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tham gia giám sát của người dân, các tổ chức xã hội là yếu tố then chốt để đảm bảo Nhà nước luôn hành động vì lợi ích chung, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong mọi giai đoạn phát triển.

6.1. Tái định vị mô hình kinh tế Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu mới

Trong bối cảnh mới, mô hình kinh tế Việt Nam cần được điều chỉnh để nâng cao khả năng tự chủ và sức chống chịu. Nhà nước cần định hướng nền kinh tế phát triển dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao, thay vì chỉ dựa vào lao động giá rẻ và tài nguyên. Vai trò kiến tạo phát triển của Nhà nước lúc này là thúc đẩy hình thành các hệ sinh thái công nghiệp, các cụm liên kết ngành có sức cạnh tranh cao. Đồng thời, cần xây dựng các hàng rào kỹ thuật phù hợp với cam kết quốc tế để bảo vệ sản xuất trong nước một cách hợp lý. Tái định vị mô hình kinh tế cũng có nghĩa là chú trọng hơn đến phát triển bền vững, gắn tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.

6.2. Dự báo tương lai và các khuyến nghị chính sách then chốt

Dự báo trong những thập kỷ tới, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn sẽ tiếp tục gay gắt, tác động sâu sắc đến hội nhập kinh tế quốc tế. Luận án đề xuất một số giải pháp mang tính định hướng: Một là, tiếp tục hoàn thiện thể chế nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, coi đây là khâu đột phá. Hai là, đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng. Ba là, phát triển mạnh mẽ khu vực kinh tế tư nhân để thực sự trở thành một động lực quan trọng. Bốn là, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước ở những lĩnh vực then chốt. Năm là, xây dựng hệ thống an sinh xã hội toàn diện, hiện đại, bền vững. Thực hiện đồng bộ các giải pháp này sẽ giúp nâng cao vai trò của Nhà nước, đưa Việt Nam thực hiện thành công các mục tiêu phát triển đã đề ra.

03/10/2025
Luận án tiến sĩ vai trò của nhà nước đối với phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở việt nam