Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu đề tài Chương 2: Một số vấn đề lý luận cơ bản về hợp đồng hành chính và pháp luật về hợp đồng hành chính Chương 3: Pháp luật về hợp đồng hành chính ở một số quốc gia và Việt Nam Chương 4: Giải pháp xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam về hợp đồng hành chính. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam đã có một số hợp đồng mang đặc điểm của hợp đồng hành chính theo quan niệm của nhiều quốc gia trên thế giới nhưng hợp đồng hành chính chưa được ghi nhận trong pháp luật. Thời gian gần đây, vấn đề hợp đồng hành chính nhận được sự quan tâm rõ nét của các nhà nghiên cứu với khá nhiều nghiên cứu liên quan. Những công trình này đã cung cấp những luận cứ khoa học và thực tiễn cho tác giả thực hiện việc triển khai nghiên cứu đề tài, có thể kể đến những công trình như sau: 1.
Các công trình nghiên cứu liên quan đến lý luận về hợp đồng hành chính Thứ nhất, các công trình nghiên cứu về các khái niệm, đặc điểm của hợp đồng hành chính. Trước tiên phải kể đến công trình nghiên cứu của Đào Đăng Kiên (2002), Đề tài khoa học cấp Bộ: Hợp đồng hành chính và việc áp dụng trong quản lý nhà nước về kinh tế, Học viện hành chính quốc gia. Có thể thấy rằng đây là đề tài nghiên cứu cấp Bộ đầu tiên ở Việt Nam về vấn đề hợp đồng hành chính.12 Tác giả sử dụng thuật ngữ hợp đồng hành chính, hệ thống một số vấn đề lý luận về hợp đồng hành chính, bao gồm khái niệm về hợp đồng hành chính, tiêu chí xác định hợp đồng hành chính, phân biệt hợp đồng hành chính với các loại hợp đồng kinh tế và dân sự. Các tác giả cũng chỉ ra các đặc trưng của hợp đồng hành chính về chủ thể hợp đồng, nguyên tắc về tính có thể thay đổi, nội dung của hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của chủ thể cơ quan hành chính nhà nước bao gồm các điều khoản quá lệ (ưu thế hơn, không ngang bằng về quyền và nghĩa vụ đối với các bên đối tác), tiêu chí về mặt chất lượng của hợp đồng, về tranh chấp và khiếu kiện.
Tuy vậy, công trình này chưa có tính khái quát cao về lý luận, mà đề tài chủ yếu thể hiện được thực trạng các hợp đồng trong lĩnh vực kinh tế, sử dụng nhiều hợp đồng thực tiễn để mô tả đặc điểm hợp đồng hành chính. Nguyễn Cửu Việt (2010), Luật Hành chính Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. Trong cuốn giáo trình này, tác giả có dành một mục viết về hợp đồng hành chính, đã đưa ra quan niệm về hợp đồng hành chính, đặc điểm của hợp đồng hành 13 chính và tiêu chí xác định một số loại hợp đồng được gọi là hợp đồng hành chính. Tác giả Nguyễn Cửu Việt cho rằng: “Hợp đồng hành chính là hợp đồng do một pháp nhân công ký hoặc được ký thay cho một pháp nhân công, và bao gồm hoặc mục đích thực hiện công vụ hoặc những điều khoản vượt ra ngoài phạm vi của luật thông thường”.
Ngoài ra tác giả còn phân loại một số loại hợp đồng được gọi là hợp đồng hành chính theo quan điểm của các học giả nước ngoài. Phạm Hồng Thái (2016), Hợp đồng hành chính trong quản lý nhà nước, Sách chuyên khảo, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. Cuốn sách này là công trình nghiên cứu được xem là bao quát và mang tính cập nhật nhất về vấn đề hợp đồng hành chính ở Việt Nam hiện nay. Chương 2 của cuốn sách trình bày những vấn đề lý luận về hợp đồng hành chính gồm các khía cạnh: sự hình thành hợp đồng hành chính và nhận thức về hợp đồng hành chính; khái niệm, đặc điểm, phân loại và vai trò của hợp đồng hành chính; phân biệt hợp đồng hành chính với các hiện tượng pháp lý khác.
Phạm Hồng Thái cho rằng hợp đồng hành chính mang một số đặc điểm như sau: thứ nhất, hợp đồng hành chính là một loại hợp đồng pháp lý được điều chỉnh bởi những quy pháp pháp luật hành chính do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, trong một số trường hợp có thể áp dụng các quy định của luật tư; Thứ hai, một bên trong quan hệ hợp đồng hành chính là pháp nhân công quyền, còn bên khác là cá nhân, pháp nhân, có thể là cả hai bên trong quan hệ hợp đồng hành chính đều là pháp nhân công quyền; Thứ ba, hợp đồng hành chính được giao kết nhằm thực hiện công vụ hay các dịch vụ công. Hợp đồng hành chính luôn hướng đến phục vụ lợi ích chung của toàn xã hội. Đây là đặc thù của hợp đồng hành chính so với các loại hợp đồng khác; Thứ tư, nội dung của hợp đồng hành chính có điều khoản vượt ra khỏi phạm vi của pháp luật dân sự - kinh tế. Bởi vì trong quan hệ hợp đồng hành chính ngoài các quyền và nghĩa vụ trong thỏa thuận giữa các bên giao kết hợp đồng, chủ thể là pháp nhân công quyền có những đặc quyền nhất định trong việc xác định, thay đổi nội dung của hợp đồng, đình chỉ việc thực hiện hợp đồng đơn phương theo quy định của pháp luật vì lợi ích công, có quyền kiểm tra, thanh tra, áp dụng những chế tài cần thiết do luật công quy định; Thứ năm, tranh chấp hợp đồng hành chính được giải quyết bởi các bên trong quan hệ hợp đồng, do cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền – cấp trên của cơ quan đã giao kết hợp 14 đồng hay tòa án theo thủ tục hành chính ở các nước Châu Âu lục địa, ở các nước Common Law được giải quyết bằng tòa án tư pháp; các bên thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại trọng tài thương mại hay những cách thức khác tùy vào loại hợp đồng hành chính nào; Thứ sáu, hợp đồng hành chính luôn thể hiện dưới hình thức văn bản, còn hợp đồng dân sự có thể thể hiện dưới hình thức văn bản, lời nói tùy thuộc vào từng loại hợp đồng; Thứ bảy, việc giao kết, thực hiện hợp đồng hành chính luôn đặt dưới sự kiểm tra, giám sát của cơ quan cấp trên của cơ quan đã giao kết hợp đồng và xã hội.
Nhìn chung các vấn đề lý luận được đề cập trong các công trình trên có liên hệ chặt chẽ tới những vấn đề nghiên cứu của luận án, là nền tảng, cơ sở để nghiên cứu sinh xây dựng khái niệm, nhận diện đặc điểm bản chất của hợp đồng hành chính. Thứ hai, các công trình nghiên cứu về phân loại hợp đồng hành chính. Đào Đăng Kiên (2002), Đề tài khoa học cấp Bộ “Hợp đồng hành chính và việc áp dụng trong quản lý nhà nước về kinh tế", Học viện hành chính quốc gia. Tác giả đã chỉ ra các dạng hợp đồng hành chính như: hợp đồng chuyển nhượng dịch vụ công, hợp đồng chuyển nhượng việc làm công chính, hợp đồng giao thầu công chính, hợp đồng giao ước trợ giúp.
Trong chương 2 các tác giả nghiên cứu về thực trạng việc áp dụng công cụ hợp đồng hành chính trong quản lý nhà nước về kinh tế ở Việt Nam hiện nay. Theo đó các loại hợp đồng của cơ quan hành chính nhà nước đã áp dụng trong quản lý phát triển kinh tế xã hội bao gồm: Hợp đồng đấu thầu công chính - đầu tư xây dựng cơ bản, hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (BOT). Các tác giả minh họa bằng nghiên cứu 8 hợp đồng trong nhiều lĩnh vực như giao nhận công trình, BOT, hợp đồng dịch vụ.mà tác giả cho rằng mang các đặc điểm của hợp đồng hành chính. Phạm Hồng Thái (2016), Hợp đồng hành chính trong quản lý nhà nước, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
Tác giả dựa trên tiêu chí mục đích của hợp đồng hành chính để phân loại này thành: hợp đồng để thực hiện công vụ, hợp đồng thực hiện dịch vụ công, hợp đồng cưng ứng dịch vụ hành chính công. Trong đó, hợp đồng thực hiện công vụ gồm các hợp đồng như: Hợp đồng làm việc trong cơ quan nhà nước; Hợp đồng theo mùa vụ trong các cơ quan nhà nước, đơn vị quân đội, công an; Hợp đồng canh gác trụ sở cơ quan, tổ chức, các mục tiêu quân sự; Hợp đồng với các tổ chức xã hội nhằm bảo đảm trật tự trị an, an toàn xã hội ở khu dân cư, trên các tuyến phố, đường 15 giao thông; Hợp đồng chuyển gia công việc của cơ quan hành chính nhà nước cho cơ quan nhà nước khác thực hiện; Hợp đồng giữa cơ quan nhà nước với cá nhân, tổ chức để thực hiện công việc của cơ quan nhà nước. Hợp đồng thực hiện dịch vụ công lại bao gồm các hợp đồng như: Hợp đồng mua các dịch vụ do cá nhân, tổ chức cung ứng; Hợp đồng nhà nước cho cá nhân, tổ chức khai thác tài sản nhà nước; Hợp đồng với cá nhân, tổ chức trong lĩnh vực đầu tư xây dựng các công trình công cộng, công trình kết cấu hạ tầng, hoặc cung cấp dịch vụ công. Hợp đồng cung ứng dịch vụ hành chính công bao gồm các hợp đồng cung ứng các dịch vụ công trong lĩnh vực hành chính như: cấp giấy phép, giấy chứng nhận, đăng ký, công chứng, thị thực, hộ tịch, xử lý hành chính, kiểm tra, thanh tra hành chính, đấu thầu.
Thứ ba, các công trình nghiên cứu về vai trò, ý nghĩa của hợp đồng hành chính. Phạm Hồng Thái (2015), “Sự hình thành tư tưởng hợp đồng hành chính và vai trò của hợp đồng hành chính trong quản lý nhà nước”, Tạp chí Khoa học - Đại học quốc gia Hà Nội, số 01. Bài viết giới thiệu lịch sử của vấn đề hợp đồng hành chính trên thế giới và Việt Nam, mang tới cho người đọc một cái nhìn khái quát về lịch sử phát triển của vấn đề này. Tác giả cho rằng, trong Nhà nước chủ nô, phong kiến, Nhà nước chủ yếu thực hiện chức năng cai trị, còn chức năng xã hội của Nhà nước rất ít được quan tâm.
Tuy vậy, hợp đồng hành chính có mầm mống hình thành từ rất sớm, ngay trong thời kỳ Nhà nước phong kiến. Đến thời kỳ của Nhà nước tư sản ra đời thì việc ký kết hợp đồng giữa Nhà nước với cá nhân, tổ chức để cá nhân, tổ chức đó cung ứng các dịch vụ công cho Nhà nước, xã hội càng phát triển nhiều.