Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN 1. KHÁI NIỆM VÀ NGUYÊN TẮC THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG MUA BÁN 1. Khái niệm hợp đồng mua bán Trong xã hội có có nhà nước, có pháp luật, có chuyên môn hoá sản xuất và phân công lao động xã hội càng cao thì việc trao đổi các thành quả của lao động giữa các chủ thể ngày một phát triển. Các quan hệ về tài sản giữa các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế, các hình thức sở hữu thông qua quan hệ hợp đồng ngày một phát triển.
Bên cạnh đó, các quan hệ dịch vụ cũng ngày một phát triển đa dạng, phong phú. Quan hệ hợp đồng giữa các bên chủ thể nhằm xác lập quyền sở hữu, quyền sử dụng và các hợp đồng dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ của chủ thể cũng không ngừng được tăng lên theo sự tăng trưởng về của cải vật chất trong xã hội và nhu cầu về vật chất và tinh thần của con người cũng ngày càng được đáp ứng kịp thời thông qua quan hệ hợp đồng.Mác thì: “Tự chúng, hàng hóa không thể đi đến thị trường và trao đổi với nhau thì những người giữ chúng phải đối xử với nhau như những người mà ý chí nằm trong các vật đó”[6]. Hợp đồng là một loại giao dịch dân sự, thể hiện ý chí của các bên chủ thể nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự. Nhưng trong quan hệ giao dịch đó nếu chỉ có một bên thể hiện ý chí mà không có sự thể hiện ý chí của bên kia hoặc không được bên kia chấp nhận thì cũng không hình thành một quan hệ hợp đồng hợp pháp.
Như vậy, chỉ khi nào trong quan hệ đó có sự thể hiện ý chí một cách đầy đủ của tất cả các bên thì quan hệ trao đổi lợi ích vật chất đó mới hình thành. Sự thể hiện ý của các bên trong giao dịch phải phù hợp với pháp luật. Nếu sự thể hiện ý chí của các bên trong giao 7 z dịch không phù hợp với ý chí của nhà nước, phù hợp với quy định của pháp luật, lợi ích của xã hội thì giao dịch đó sẽ vô hiệu. Khi nghiên cứu về khái niệm hợp đồng mua bán, trước tiên chúng ta cần phải tìm hiểu về khái niệm hợp đồng dân sự vì hợp đồng mua bán là một dạng của hợp đồng dân sự.
Khái niệm hợp đồng dân sự được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau. Hợp đồng dân sự được hiểu theo nghĩa khách quan (nghĩa rộng): Theo phương diện khách quan thì hợp đồng dân sự bao gồm các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình dịch chuyển các lợi ích vật chất giữa các chủ thể với nhau thông qua thoả thuận, và quyền khởi kiện hoặc không khởi kiện của bên chủ thể có quyền bị xâm phạm, do chủ thể có nghĩa vụ trong hợp đồng không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng. Hợp đồng dân sự còn được hiểu theo nghĩa hẹp (nghĩa chủ quan): Theo phương diện chủ quan, hợp đồng dân là một giao dịch dân sự mà trong đó các bên có sự thỏa thuận với nhau, tự thể hiện ý chí của các bên, để cùng nhau làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự. Trên thực tế hiện nay có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về hợp đồng dân sự, theo Điều 1 Pháp lệnh về hợp dân sự năm 1991 có quy định:“hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của các bên trong mua bán, thuê, vay, mượn, tặng, cho tài sản, làm một việc hoặc không làm một việc, dịch vụ hoặc các thỏa thuận khác mà trong đó một hoặc các bên nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng” [7].
Với qui đinh về hợp đồng dân sự như vậy, đã không dự liệu hết được các quan hệ xã hội đang diễn ra trên thực tế do hợp đồng dân sự điều chỉnh. Điều 388 Bộ luật dân sự năm 2005 đã đưa ra cách định nghĩa dưới dạng khái 8 z quát hơn: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi và chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự” [8]. Như vậy, khi xem xét khái niệm hợp đồng dân sự theo phương diện chủ quan và theo phương diện khách quan thì giữa chúng không có sự đồng nhất với nhau. Hợp đồng dân sự theo nghĩa chủ quan là một quan hệ xã hội được hình thành từ sự thỏa thuận của các bên để thỏa mãn nhu cầu giao lưu dân sự.
Còn pháp luật về hợp đồng dân sự là sự thừa nhận, là yêu cầu của nhà nước đối với các giao dịch dân sự đó. Hợp đồng dân sự còn được hiểu là một quan hệ pháp luật dân sự về tài sản, do vậy quan hệ hợp đồng có đầy đủ các yếu tố của một quan hệ pháp luật dân sự về chủ thể, khách thể và nội dung. Chủ thể của hợp đồng dân sự là cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác và nhà nước. Cá nhân tham gia hợp đồng mua bán phải có năng lực hành vi dân sự.
Quan hệ hợp đồng dân sự là quan hệ trái quyền, do vậy khách thể của hợp đồng được thể hiện ở những hành vi thực hiện hợp đồng. Vì lợi ích của một bên hợp đồng chỉ có thể đáp ứng được thông qua hành vi của bên kia, bên có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng. Nghĩa vụ của một bên phải chuyển giao một tài sản, phải thực hiện một việc hoặc không được thực hiện một việc vì lợi ích của bên có quyền. Nội dung thực hiện hợp đồng thể hiện mối liên hệ của bên có quyền và bên có nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng được xác lập theo thoả thuận của các bên tham gia hợp đồng.
Mua bán tài sản là hợp hợp đồng thông dụng và phổ biến nhất trong các giao dịch dân sự. Nó là công cụ pháp lý không thể thiếu để các chủ thể đạt được lợi ích của mình thông qua việc thỏa thuận về việc chuyển quyền sở hữu tài sản và chuyển giao tiền. Mối quan hệ hàng- tiền được thể hiện rõ nét trong quan hệ mua bán. 9 z Điều 428, BLDS năm 2005 đưa ra khái niệm về hợp đồng mua bán tài sản như sau: “ Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giũa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán” Từ khái niệm hợp đồng mua bán có thể rút ra những đặc điểm cơ bản nhất của hợp đồng mua bán như sau: Là hợp đồng ưng thuận, bởi lẽ hợp đồng mua bán tài sản phát sinh hiệu lực pháp lý vào thời điểm các bên đã giao kết xong hợp đồng chứ không phụ thuộc vào thời điểm chuyển giao tài sản mua bán.
Thời điểm giao kết hợp đồng mua bán dưới hình thức miệng là khi các bên đã thỏa thuận xong về các điều khoản cơ bản của hợp đồng; đối với hợp đồng mua bán bằng văn bản là khi bên sau cùng ký vào hợp đồng; hợp đồng mua bán bằng văn bản có công chứng, chứng thực là khi các bên đã hoàn tất các thủ tục công chứng, chứng thực. Là hợp đồng có đền bù: Giữa bên mua và bên bán luôn có sự trao đổi lợi ích vật chất, theo đó bên bán chuyển giao tài sản và được nhận tiền còn bên mua chuyển giao tiền và nhận tài sản. Tính chất đền bù của hợp đồng mua bán tài sản khác với hợp đồng trao đổi tài sản: Đối với hợp đồng trao đổi tài sản, các bên nhận được lơi ích vật chất tương ứng thể hiện bằng tài sản (tài sản có thể có giá bằng nhau hoặc không bằng nhau, nếu giá trị không bằng nhau thì các bên thỏa thuận thanh toán giá trị chênh lệch). Là hợp đồng song vụ: Cả hai bên trong hợp đồng mua bán đều có quyền và nghĩa vụ tương ứng nhau, quyền của bên này sẽ tương ứng với nghĩa vụ của bên kia và ngược lại: bên mua có nghĩa vụ chuyển giao tài sản thì bên bán có nghĩa vụ chuyển giao tiền thanh toán.
Là hợp đồng có mục đích: chuyển giao quyền sở hữu đối với tài sản. Hậu quả pháp lý phát sinh trực tiếp từ hợp đồng mua bán là chấm dứt quyền 10 z sở hữu của một chủ thể cụ thể và làm phát sinh quyền của chủ sở hữu mới đối với tài sản. Việc chuyển quyền sở hữu này phải tuân theo trình tự, thủ tục nhất định nếu pháp luật đòi hỏi: như thủ tục sang tên đối với viêc mua bán những tài sản có đăngký quyền sở hữu. Đối tượng của hợp đồng mua bán tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá, quyền tài sản.
Điều 163, BLDS 2005 quy định tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá, quyền tài sản. Vật bao gồm vật hiện có và vật sẽ hình thành trong tương lai như nhà sẽ xây, tàu sẽ đóng… cũng là đối tượng của hợp đồng mua bán. Khi giao kết hợp đồng mua bán loại tài sản này thì bên bán phải tìm được các chứng cứ để chứng minh chắc chắn tài sản đó sẽ hình thành trong tương lai và chắc chắn sẽ xác lập quyền sở hữu cho bên bán đến thời điểm phải chuyển giao cho bên mua. Tiền bao gồm tiền đồng Việt Nam và ngoại tệ.
Nếu các bên chọn tiền làm đối tượng của mua bán thì quan hệ đó được chuyển sang hợp đồng trao đổi tài sản, đổi tiền. Giấy tờ có giá như cổ phiếu, trái phiếu… là đối tượng của hợp đồng mua bán khi đó là giấy tờ có giá không ghi danh được phép mua bán tự do trên thị trường như một loại hàng hóa. Nếu là giấy tờ có giá có ghi danh hay đòi hỏi các điều kiện khác thì các bên phải tuân thủ các quy định của pháp luật có liên quan đến loại giấy tờ có giá đó và pháp luật về công ty, điều lệ của công ty phát hành chúng. Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự như quyền sở hữu trí tuệ, quyền đòi nợ, quyền sử dụng đất và các quyền yêu cầu khác phát sinh từ hợp đồng cũng là đối tượng của hợp đồng mua bán.