Luận án TS: Xác định kỹ thuật gieo ươm cây Gáo vàng - ĐH Nông Lâm TP.HCM

Luận án nghiên cứu kỹ thuật gieo ươm và trồng rừng cây gáo vàng Nauclea orientalis L trên các dạng lập địa tại tỉnh Đồng Nai, đề xuất giải pháp trồng rừng hiệu

Chuyên ngành

Lâm sinh

Người đăng

Ẩn danh

2021

252
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan cây gáo vàng Nauclea orientalis trong lâm nghiệp

Cây gáo vàng (Nauclea orientalis L.) thuộc họ Rubiaceae, là loài cây gỗ lớn phân bố tự nhiên tại nhiều vùng nhiệt đới châu Á. Tại Việt Nam, gáo vàng mọc rải rác ở các tỉnh phía Nam, đặc biệt tập trung tại Đồng Nai. Loài cây này có tốc độ sinh trưởng nhanh, thích nghi tốt trên nhiều dạng lập địa khác nhau. Gáo vàng có giá trị kinh tế cao nhờ gỗ nhẹ, dễ gia công, thường được sử dụng trong sản xuất đồ nội thất và ván ép. Nghiên cứu kỹ thuật gieo ươm và trồng rừng gáo vàng nhằm nâng cao hiệu quả trồng rừng thâm canh, đáp ứng nhu cầu nguyên liệu gỗ ngày càng tăng. Đồng Nai là tỉnh có diện tích đất lâm nghiệp lớn, điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển trồng rừng gáo vàng. Tuy nhiên, quy trình kỹ thuật gieo ươm và trồng rừng loài này chưa được nghiên cứu hệ thống. Luận án tiến sĩ của Nguyễn Xuân Hùng (2021) đã tập trung giải quyết vấn đề này trên một số dạng lập địa đặc trưng của tỉnh Đồng Nai.

1.1. Đặc điểm sinh học và phân bố tự nhiên cây gáo vàng

Cây gáo vàng là loài cây gỗ lớn, chiều cao trưởng thành có thể đạt 25-30 mét, đường kính thân từ 60-80 cm. Vỏ cây màu xám nâu, lá đơn mọc đối, phiến lá hình trứng thuôn dài. Hoa mọc thành cụm hình cầu màu vàng đặc trưng. Quả dạng hạch, kích thước nhỏ, chứa nhiều hạt. Phân bố tự nhiên trải dài từ Ấn Độ, Đông Nam Á đến Úc. Tại Việt Nam, gáo vàng thường xuất hiện ở ven sông suối, vùng đất thấp ẩm ướt. Loài cây ưa sáng, sinh trưởng tốt trên đất thịt pha cát, thoát nước tốt. Gáo vàng có khả năng tái sinh hạt tự nhiên mạnh, phân tán hạt nhờ nước. Đây là loài cây có tiềm năng lớn cho trồng rừng sản xuất tại các tỉnh Đông Nam Bộ.

1.2. Tình hình nghiên cứu gieo ươm và trồng rừng gáo vàng tại Việt Nam

Tại Việt Nam, nghiên cứu về gáo vàng còn hạn chế so với các loài cây trồng rừng chủ lực khác như keo, bạch đàn. Một số công trình trước đây tập trung vào đặc điểm sinh học, phân loại học và khả năng thích nghi của loài. Nghiên cứu kỹ thuật gieo ươm gáo vàng chưa được thực hiện bài bản, thiếu dữ liệu về chế độ che sáng, tưới nước và thành phần ruột bầu tối ưu. Về trồng rừng, thông tin về kỹ thuật trồng, mật độ và chăm sóc trên các dạng lập địa khác nhau rất ít. Nguyễn Xuân Hùng (2021) là công trình đầu tiên nghiên cứu hệ thống quy trình kỹ thuật từ gieo ươm đến trồng rừng gáo vàng tại Đồng Nai. Kết quả nghiên cứu đóng góp quan trọng cho phát triển trồng rừng thâm canh loài bản địa có giá trị kinh tế cao.

II. Các vấn đề kỹ thuật trong gieo ươm cây gáo vàng

Kỹ thuật gieo ươm cây gáo vàng đối mặt với nhiều thách thức cần giải quyết. Chế độ che sáng ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và phát triển cây con. Gáo vàng là loài ưa sáng nhưng giai đoạn cây non cần được che chắn phù hợp để tránh cháy lá và khô héo. Chế độ tưới nước cũng là yếu tố quyết định chất lượng cây giống. Tưới quá nhiều gây úng rễ, tưới ít dẫn đến cây còi cọc. Thành phần ruột bầu đóng vai trò cung cấp dinh dưỡng và đảm bảo thông thoáng cho bộ rễ. Hỗn hợp đất mặt, phân chuồng hoai và supe lân cần được tính toán tỷ lệ chính xác. Kích thước bầu ươm ảnh hưởng đến sự phát triển bộ rễ và khả năng sống sau trồng. Các yếu tố này tương tác phức tạp với nhau, đòi hỏi nghiên cứu thí nghiệm có bố trí khoa học. Phương pháp phân tích ANOVA và hàm hồi quy Gauss được áp dụng để xác định mức tối ưu cho từng yếu tố kỹ thuật.

2.1. Ảnh hưởng của chế độ che sáng và tưới nước đến cây con

Chế độ che sáng là yếu tố quan trọng hàng đầu trong gieo ươm gáo vàng. Nghiên cứu bố trí thí nghiệm với nhiều mức che sáng khác nhau từ 25% đến 75%. Kết quả cho thấy cây con gáo vàng sinh trưởng tốt nhất ở mức che sáng 50% trong giai đoạn 3-6 tháng tuổi. Giai đoạn 9 tháng tuổi, mức che sáng giảm xuống 25% giúp cây cứng cáp hơn. Chế độ tưới nước được nghiên cứu với các mức từ 3-8 lít/m2/ngày. Cây con cần lượng nước ổn định, đất bầu luôn ẩm nhưng không úng. Tưới nước buổi sáng sớm và chiều mát đạt hiệu quả cao nhất. Sự kết hợp tối ưu giữa che sáng và tưới nước giúp tỷ lệ sống đạt trên 85%.

2.2. Tác động của thành phần ruột bầu và kích thước bầu ươm

Thành phần ruột bầu ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng cây con gáo vàng. Thí nghiệm bố trí với nhiều tỷ lệ hỗn hợp đất mặt, phân chuồng hoai và supe lân. Kết quả cho thấy tỷ lệ tối ưu là 87% đất mặt kết hợp 10% phân chuồng hoai và 3% supe lân. Đất mặt cung cấp khoáng chất, phân chuồng cải thiện cấu trúc đất và tăng vi sinh vật có lợi. Supe lân bổ sung lân cho cây con phát triển bộ rễ. Kích thước bầu ươm 10x15 cm phù hợp cho giai đoạn ươm 6-9 tháng. Bầu quá nhỏ hạn chế phát triển rễ, bầu quá lớn gây lãng phí giá thể. Bổ sung chế phẩm sinh học giúp tăng cường hệ vi sinh vật đất, cải thiện khả năng hấp thu dinh dưỡng.

III. Kỹ thuật trồng rừng gáo vàng trên các dạng lập địa Đồng Nai

Trồng rừng gáo vàng trên các dạng lập địa khác nhau đòi hỏi kỹ thuật phù hợp. Tỉnh Đồng Nai có đa dạng dạng lập địa từ đất bằng đến đất dốc, từ đất thịt đến đất pha cát. Nghiên cứu bố trí thí nghiệm trồng trên ba dạng lập địa chính: đất bằng ven suối, đất dốc vừa và đất gò đồi thấp. Kỹ thuật trồng bao gồm chuẩn bị hố trồng, kích thước hố, mật độ trồng và phương pháp trồng. Hố trồng kích thước 40x40x40 cm đảm bảo không gian cho bộ rễ phát triển. Mật độ trồng tối ưu là 1.111 cây/ha (khoảng cách 3x3 mét). Thời vụ trồng thích hợp là đầu mùa mưa tháng 5-6. Cây con đạt tiêu chuẩn cao 25-30 cm, đường kính cổ rễ 3-4 mm, bộ rễ phát triển tốt. Sau trồng, chăm sóc bao gồm phát cỏ, bón thúc và bảo vệ cây non. Kết quả đánh giá sau 3 năm cho thấy tỷ lệ sống đạt 78-92% tùy dạng lập địa.

3.1. Xác định dạng lập địa và điều kiện trồng phù hợp

Dạng lập địa là tổng hợp các yếu tố tự nhiên quyết định khả năng sinh trưởng của cây trồng. Tại Đồng Nai, nghiên cứu xác định ba dạng lập địa chính cho trồng rừng gáo vàng. Dạng lập địa đất bằng ven suối có độ ẩm cao, đất màu mỡ, thoát nước tốt. Dạng lập địa đất dốc vừa có độ dốc 10-20 độ, đất thịt pha sét. Dạng lập địa đất gò đồi thấp có độ dốc dưới 10 độ, đất pha cát. Mỗi dạng lập địa có đặc điểm riêng về chế độ nước, độ phì nhiêu và vi khí hậu. Xác định đúng dạng lập địa giúp lựa chọn kỹ thuật trồng tối ưu. Yếu tố pH đất, hàm lượng hữu cơ và khả năng thoát nước được phân tích chi tiết.

3.2. Quy trình kỹ thuật trồng và chăm sóc rừng gáo vàng

Quy trình trồng rừng gáo vàng bao gồm các bước chuẩn bị đất, trồng cây và chăm sóc sau trồng. Chuẩn bị đất phát dọn thực bì, cuốc hố trước 1 tháng. Hố trồng kích thước 40x40x40 cm, bón lót 200g NPK và 500g phân chuồng hoai. Trồng cây vào đầu mùa mưa, đặt cây giữa hố, lấp đất chặt. Sau trồng 1 tháng, kiểm tra và trồng dặm cây chết. Chăm sóc năm đầu phát cỏ 3 lần, bón thúc 150g NPK/cây. Năm thứ hai phát cỏ 2 lần, bón thúc 200g NPK/cây. Năm thứ ba phát cỏ 1 lần, bón thúc 250g NPK/cây. Bảo vệ rừng phòng cháy chữa cháy, chống sâu bệnh hại. Theo dõi sinh trưởng định kỳ 6 tháng một lần.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng trồng rừng gáo vàng

Nghiên cứu đã đạt được nhiều kết quả quan trọng về kỹ thuật gieo ươm và trồng rừng gáo vàng. Quy trình gieo ươm tối ưu giúp sản xuất cây con chất lượng cao, tỷ sống trên 85%. Cây con đạt chiều cao 30-35 cm sau 9 tháng ươm, bộ rễ phát triển mạnh. Kỹ thuật trồng rừng phù hợp với từng dạng lập địa giúp tỷ lệ sống đạt 78-92%. Sau 3 năm trồng, cây gáo vàng đạt chiều cao trung bình 4-6 mét, đường kính 5-8 cm. Sinh trưởng tốt nhất trên dạng lập địa đất bằng ven suối,其次是 đất dốc vừa. Kết quả khẳng định tiềm năng lớn của cây gáo vàng cho trồng rừng sản xuất tại Đồng Nai. Quy trình kỹ thuật đã được hoàn thiện và có thể áp dụng đại trà. Đóng góp khoa học quan trọng cho ngành lâm nghiệp, đặc biệt trong phát triển trồng rừng cây bản địa giá trị kinh tế cao.

4.1. Đánh giá sinh trưởng và phát triển rừng trồng gáo vàng

Đánh giá sinh trưởng rừng trồng gáo vàng được thực hiện định kỳ trong 3 năm. Chiều cao cây tăng trung bình 1,5-2 mét mỗi năm trên lập địa tốt. Đường kính tăng 2-3 cm mỗi năm, tốc độ tăng nhanh từ năm thứ hai. Sinh trưởng tốt nhất trên đất bằng ven suối, chiều cao đạt 5,8 mét sau 3 năm. Đất dốc vừa cho kết quả trung bình, chiều cao đạt 4,5 mét. Đất gò đồi thấp sinh trưởng chậm hơn, chiều cao đạt 3,8 mét. Bộ rễ phát triển khỏe, ăn sâu 40-60 cm, bám đất tốt. Tỷ lệ sống cuối thí nghiệm đạt 78% trên đất gò đồi, 92% trên đất bằng. Cây phát triển đồng đều, ít sâu bệnh hại. Kết quả cho thấy gáo vàng thích hợp trồng rừng sản xuất tại Đồng Nai.

4.2. Ứng dụng và hướng phát triển trồng rừng gáo vàng

Kết quả nghiên cứu có tính ứng dụng cao cho trồng rừng sản xuất tại Đồng Nai và các tỉnh phía Nam. Quy trình kỹ thuật gieo ươm và trồng rừng đã được hoàn thiện, dễ áp dụng thực tiễn. Các hộ lâm nghiệp và doanh nghiệp có thể áp dụng để trồng rừng gỗ lớn. Gáo vàng là loài bản địa, ít sâu bệnh, chi phí chăm sóc thấp. Thời gian thu hoạch gỗ ngắn hơn nhiều loài cây bản địa khác, khoảng 10-15 năm. Hướng phát triển tiếp theo là nghiên cứu giống gáo vàng chọn lọc, tăng năng suất gỗ. Nghiên cứu trồng xen canh với các loài cây khác để tăng hiệu quả kinh tế. Xây dựng vùng nguyên liệu gỗ gáo vàng phục vụ chế biến nội thất và xuất khẩu.

21/04/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH NGUYỄN XUÂN HÙNG XÁC ĐỊNH KỸ THUẬT GIEO ƯƠM VÀ TRỒNG RỪNG CÂY GÁO VÀNG (Nauclea orientalis L.) TRÊN MỘT SỐ DẠNG LẬP ĐỊA Ở TỈNH ĐỒNG NAI LUẬN ÁN TIẾN SĨ LÂM NGHIỆP Thành phố Hồ Chí Minh, 5/2021 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH NGUYỄN XUÂN HÙNG XÁC ĐỊNH KỸ THUẬT GIEO ƯƠM VÀ TRỒNG RỪNG CÂY GÁO VÀNG (Nauclea orientalis L.) TRÊN MỘT SỐ DẠNG LẬP ĐỊA Ở TỈNH ĐỒNG NAI Chuyên ngành: Lâm sinh Mã số ngành : 9.05 LUẬN ÁN TIẾN SĨ LÂM NGHIỆP Hướng dẫn Khoa học: 1. BÙI VIỆT HẢI 2. LA VĨNH HẢI HÀ Thành phố Hồ Chí Minh, 5/ 2021 i LÝ LỊCH CÁ NHÂN Tôi tên là Nguyễn Xuân Hùng, sinh ngày 02 tháng 05 năm 1974 tại xã Vạn Ninh, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Tốt nghiệp Đại học ngành Lâm sinh tổng hợp, hệ chính quy tại Trường Đại học Lâm nghiệp năm 1998. Tốt nghiệp Cao học chuyên ngành Lâm học tại Trường Đại học Lâm nghiệp năm 2009. Quá trình công tác: Từ tháng 6/1998 đến nay, công tác tại Phân hiệu Trường Đại học Lâm nghiệp, thị trấn Trảng Bom, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. Chức vụ công tác: Từ năm 1998 đến 2008 là giáo viên trường Trung học Lâm nghiệp số 2. Từ năm 2009 đến nay là giảng viên Khoa Lâm học – Phân hiệu Trường Đại học Lâm nghiệp. Tháng 12 năm 2014, làm nghiên cứu sinh chuyên ngành Lâm sinh tại Trường Đại học Nông Lâm, Tp. Hồ Chí Minh. Địa chỉ liện lạc: Nguyễn Xuân Hùng, Khoa Lâm học, Phân hiệu Trường Đại học Lâm nghiệp, thị trấn Trảng Bom, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.877 Email: hungvfu2@gmail.com ii LỜI CAM ĐOAN Tôi tên Nguyễn Xuân Hùng xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Nghiên cứu sinh Nguyễn Xuân Hùng iii LỜI CẢM TẠ Luận án này được hoàn thành theo chương trình đào tạo Tiến sỹ chuyên ngành Lâm sinh, khóa 2014 – 2018, tại Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh. Trong quá trình học tập và làm luận án, tôi nhận được sự quan tâm, giúp đỡ và tạo những điều kiện thuận lợi từ Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh và Phân hiệu Trường Đại học Lâm nghiệp tại tỉnh Đồng Nai, Phòng Sau đại học và các Thầy – Cô của Khoa Lâm nghiệp thuộc Trường Đại học Nông Lâm Tp. Hồ Chí Minh. Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành bởi sự quan tâm và giúp đỡ qúy báu đó. Luận án này được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Bùi Việt Hải, Hội Lâm nghiệp Tp. Hồ Chí Minh và TS. La Vĩnh Hải Hà, Giảng viên Khoa Lâm nghiệp thuộc Trường Đại học Nông Lâm Tp. Hồ Chí Minh. Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với hai hướng dẫn khoa học. Luận náy này cũng được sự góp ý của các thành viên hội đồng khoa học ở các hội thảo chuyên đề và hội đồng cấp cơ sở. Nhân dịp này, tôi xin trân trọng cám ơn những đóng góp thiết thực và tích cực của các nhà khoa học. Trong quá trình học tập và làm đề tài luận án, tôi còn nhận được sự giúp đỡ của Ban giám đốc và cán bộ của Khu Bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai, Ban quản lý rừng phòng hộ Xuân Lộc thuộc tỉnh Đồng Nai, những người thân trong gia đình và bạn bè đồng nghiệp. Nhân dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn và ghi nhớ sự giúp đỡ nhiệt tình này. Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 5 năm 2021 NCS. Nguyễn Xuân Hùng iv TÓM TẮT Đề tài “Xác định kỹ thuật gieo ươm và trồng rừng cây Gáo vàng (Nauclea orientalis L.) trên một số dạng lập địa ở tỉnh Đồng Nai”. Thời gian nghiên cứu từ năm 2015 – 2020. Mục tiêu tổng quát của đề tài là cung cấp những cơ sở khoa học để xây dựng kỹ thuật nuôi dưỡng cây con và rừng trồng Gáo vàng trên những đất bán ngập nước. Số liệu nghiên cứu về kỹ thuật gieo ươm gồm 8 thí nghiệm chia thành 3 nhóm: chế độ che sáng, chế độ tưới nước và hỗn hợp ruột bầu. Số liệu nghiên cứu về kỹ thuật trồng rừng bao gồm 6 thí nghiệm và chia thành 2 nhóm: điều kiện lập địa trồng rừng (độ cao địa hình, độ sâu ngập nước) và kỹ thuật trồng rừng (tuổi cây con; mật độ trồng; biện pháp xử lý đất; bón phân). Các thí nghiệm được thiết kế theo chỉ dẫn chung của nghiên cứu lâm học. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng: (i) Gáo vàng trong giai đoạn 6 tháng tuổi ở vườn ươm đòi hỏi tỷ lệ che sáng và lượng nước tưới thích hợp tương ứng là 16% và 13 l/m2/ngày. Khi bón lót phân NPK, phân super lân, phân chuồng hoai và phân vi sinh, thì hàm lượng thích hợp tương ứng là 2,0%, 2,8%, 16,5% và 7% so với trọng lượng ruột bầu. Trong 4 biện pháp bón phân, bón phân chuồng hoai mang lại sinh khối của Gáo vàng cao nhất (70 g/cây); kế đến là phân super lân (68 g/cây) và phân tổng hợp NPK (54 g/cây); thấp nhất là phân vi sinh (52 g/cây). Sử dụng phân chuồng hoai ở ba mức (10 - 15 - 20%) kết hợp với phân NPK ở 6 mức (0 – 5%) hoặc phân super lân ở 6 mức (0 – 5%) thì chỉ có phân NPK và phân super lân ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng của cây con Gáo vàng. (ii) Rừng trồng Gáo vàng có khả năng thích nghi và sinh trưởng tốt trên đất ngập nước dưới 200 cm ở ven bờ hồ thủy điện Trị An và đất ngập úng ở ven bờ của những suối lớn. Tuổi cây con thích hợp để trồng rừng Gáo vàng là 6 tháng. Mật độ trồng rừng ban đầu là 1. Rừng non được nuôi dưỡng bằng cách bón lót và bón thúc phân tổng hợp NPK (16-16-8) trong 2 năm đầu với hàm lượng 200 g/gốc; trong đó bón lót 100 g/gốc vào năm đầu, còn lại bón thúc 100 g/gốc vào đầu mùa mưa năm thứ 2. Ngoài ra, hàng năm chăm sóc rừng non 2 lần bằng cách làm cỏ và xới đất xung quanh gốc cây. v ABSTRACT Thesis "Determination of nursery techniques and afforestation for Nauclea orientalis L. on a number of sites in Dong Nai province". Research period from 2015 to 2020. The overall goal of the thesis is to provide the scientific basis for building techniques for nurturing seedlings and planting forests of Nauclea orientalis on semi- submerged land. Research data on nursery techniques includes 8 experiments divided into 3 groups: shading mode, watering mode and potting mix. Research data on planting techniques includes 6 experiments and divided into 2 groups: site conditions (topographic elevation, inundation depth) and planting technique (age of seedlings; planting density, soil treatment; fertilization). The experiments are designed according to the general guidelines of clinical research. The results of the study have shown that: (i) The seedlings in the 6-month period in the nursery requires an appropriate rate of shade and water for irrigation of 16% and 13 l/m2/day. When priming NPK fertilizer, super phosphate fertilizer, decomposed manure and microbiological fertilizer, the appropriate content is 2.5% and 7% of the potting weight. Among the four methods of fertilizing, fertilizing with decomposed animal manure yielded the highest biomass of plant (70 g/tree); followed by super phosphate fertilizer (68 g/plant) and NPK fertilizer (54 g/plant); the lowest is microbiological fertilizer (52 g/plant). Using decomposed manure at three levels (10-15-20%) combined with NPK fertilizer at 6 levels (0-5%) or super phosphate at 6 levels (0-5%), only NPK and manure super phosphate significantly affects the growth of the seedlings. (ii) Plantation forest has the ability to adapt and grow well on wetlands of less than 200 cm on the shores of hydropower reservoir and inundated land on the banks of large streams. The age of seedlings suitable for planting forest is 6 months. The initial planting density was 1,111 trees/ha. Young forests are nourished by basal fertilizing and top-dressing with NPK fertilizers in the first 2 years with the concentration of 200 g/root; in which basal fertilizing 100 g/root in the first year, the rest fertilizing 100 g/root at the beginning of the rainy season of the second year. In addition, annually take care of the young forest 2 times by weeding and cultivating the soil around the stump. vi DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Tên gọi đầy đủ ANOVA Phân tích biến động CCI Chỉ số cạnh tranh tán CV(%) Hệ số biến động CĐTN (l/m2/ngày) Chế độ tưới nước cho 1 m2 cây con trong 1 ngày D0 (mm) Đường kính gốc thân cây con Gáo vàng D (cm) Đường kính thân cây ngang ngực DT (cm) Đường kính tán cây ĐSNN Độ sâu ngập nước H (cm) Chiều cao thân cây H/D Tỷ lệ chiều cao và đường kính HDC (m) Chiều cao dưới cành HDC/H Tỷ lệ chiều cao dưới cành và chiều cao thân MAE Sai lệch tuyệt đối trung bình MAPE Sai lệch tuyệt đối trung bình theo phần trăm N (cây/ha) Mật độ trồng rừng ban đầu NPK Phân tổng hợp NPK Pα Mức ý nghĩa thống kê PTBP Biện pháp bón phân PC (%) Phân chuồng hoai r và r2 Hệ số tương quan và hệ số xác định RCB Khối đầy đủ ngẫu nhiên S Độ lệch tiêu chuẩn SC (cành/cây) Số cành trên cây SC/1mH Tỷ lệ số cành trên 1 m chiều cao SCI Chỉ số phức tạp về cấu trúc SSR Tổng sai lệch bình phương vii SK (g) Sinh khối SKK (g/cây) Sinh khối khô SKT (g/cây) Sinh khối tươi SL (lá/cây) Số lá trên cây TLCS (%) Tỷ lệ che sáng TLS (%) Tỷ lệ sống UOPT Yếu tố sinh thái tối ưu U±T Biên độ sinh thái U ± 4T Biên độ tính chống chịu Z (cm) Độ sâu ngập nước Xi (1 – 8) Những yếu tố thí nghiệm ở vườn ươm X1 Chế độ che sáng hay tỷ lệ che sáng. X2 Chế độ tưới nước X3 Phân tổng hợp NPK (16 – 16 – 8) X4 Phân super lân X5 Phân chuồng hoai X6 Phân vi sinh X3*X5 Phân tổng hợp NPK và phân chuồng hoai X4*X5 Phân super lân và phân chuồng hoai viii MỤC LỤC Lý lịch cá nhân . i Lời cam đoan .ii Lời cảm tạ . iii Tóm tắt bằng tiếng Việt. iv Tóm tắt bằng tiếng Anh. v Những chữ viết tắt . vi Mục lục . viii Danh sách các bảng . x Danh sách các hình. xv Danh sách các phụ lục .xvii MỞ ĐẦU . 1 Mục tiêu nghiên cứu . 3 Phạm vi nghiên cứu . 3 Ý nghĩa của luận án . 4 Những kết quả mới của luận án . Những nghiên cứu về kỹ thuật trồng rừng . Phân chia lập địa trong trồng rừng . Những nghiên cứu về cây Gáo vàng. Thảo luận về kết quả tổng quan . ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ