Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Chương 2: Thơ lục bát - lịch sử phát triển, đặc trưng thể loại Chương 3: Giá trị của thơ lục bát truyền thống Chương 4: Tiếp biến của thơ lục bát hiện đại 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Vấn đề thể loại và thể lục bát 1. Thể loại nói chung và thơ nói riêng Thể loại văn học là dạng thức tồn tại của chỉnh thể các tác phẩm văn học, nó phản ánh những khuynh hướng phát triển bền vững và tương đối ổn định của văn học. Sự vận động của mỗi thời kỳ văn học luôn gắn liền với sự biến động về thể loại, điều đó biểu hiện rõ sức sống của một nền văn học.
Không có một nền văn học nào, một thời kỳ, một giai đoạn văn học nào được coi là phát triển mà lại đơn điệu và nghèo nàn về thể loại. Thể loại vừa rất cổ sơ vừa luôn luôn mới mẻ. Những thay đổi của thể loại, của cách thức biểu hiện bắt nguồn từ nguyên nhân sâu xa là cảm hứng sáng tạo, tư duy nghệ thuật, quan niệm thẩm mỹ về con người, cuộc sống. Sự “lên ngôi” của từng thể loại trong mỗi thời kỳ phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau.
Có sự thống trị lâu bền, có sự xuất hiện rồi lụi tàn, thể loại đôi khi đi qua nhanh chóng nhưng nhiều khi lại để lại những ảnh hưởng lâu dài, sâu đậm. Có những thể loại trải qua quá trình phát sinh, phát triển, đã có nhiều biến đổi, tạo ra nhiều biến thể phong phú. Trong thể loại kịch, các thể bi kịch, hài kịch, chính kịch,… được đề cao và thịnh hành vào tuỳ từng thời điểm. Trong văn xuôi, các thể loại truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết,… cũng có những biến đổi và thâm nhập lẫn nhau theo thời gian.
Trong thơ, thể bốn chữ, năm chữ, bảy chữ hay tám chữ, thể lục bát, thể tự do,… có những thời kỳ tồn tại và khẳng định riêng. Trong lịch sử phát triển của văn học, mỗi thể loại văn học đều có vai trò và diện mạo riêng. Có một thời, anh hùng ca (sử thi) được xem như đại diện tiêu biểu nhất, đạt được những thành tựu rực rỡ, của thể loại văn học. Dần dần theo thời gian, những yếu tố của sử thi được tiếp thu, chọn lọc và hình thành nên nhiều cách biểu hiện khác hơn, mới mẻ hơn.
Ví như, đặc trưng cơ bản của sử thi được tiểu thuyết hiện đại tiếp nhận để hình thành nên thể loại mới tiểu thuyết sử thi và tác phẩm đỉnh cao phải kể đến như: Chiến tranh và hoà bình của L. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tolstoy, Sông Đông êm đềm của M. Sholokhov,… Số phận lịch sử của nhiều thể loại khác như thơ Đường luật, thơ Sonnet,… cũng có chung con đường phát sinh, phát triển và để lại dư âm vang vọng như thế. Thể loại mang tính lịch sử và dân tộc, tính kế thừa và sáng tạo.
Dấu ấn lịch sử bao giờ cũng khá đậm trong bản thân các thể loại. Nền nghệ thuật cổ đại Hy Lạp rất huy hoàng, nhưng nó chỉ gắn liền với thời đại chưa có bàn in và máy in. Hình tượng Asin không thể tồn tại trong thời đại có thuốc súng và đạn chì. Trong quá trình phát triển, mỗi dân tộc sẽ có những thể loại tiêu biểu thể hiện bản sắc văn hoá, đặc điểm tư duy, hình thái ngôn ngữ, tâm lý thưởng thức nghệ thuật,… ví như ở Nhật Bản là thơ haikư (chỉ có 3 câu), ở Trung Quốc là thơ Đường và tiểu thuyết chương hồi, ở Việt Nam là thơ lục bát,… Mỗi thể loại cũng thường xuyên tự điều chỉnh để hoàn thiện chính mình.
Nó song song hai quá trình kế thừa truyền thống quá khứ và cách tân, sáng tạo cái mới. Một đặc điểm cũng cần phải đề cập đến là tính giao thoa của thể loại. Ranh giới giữa các thể loại mang tính chất tương đối, không phải là sự ngăn cách và phân chia tuyệt đối. Giữa các thể loại luôn luôn có hiện tượng giao kết, sự chuyển hoá, thâm nhập, vay mượn lẫn nhau và từ đó sản sinh ra những thể có thể coi là cầu nối giữa hai thể loại như thơ văn xuôi, kịch thơ, tiểu thuyết phóng sự v.v… Thơ là một thể loại trong văn học.
Chia theo phương thức biểu hiện, khả năng phản ánh hiện thực và khả năng vận dụng ngôn ngữ, thơ (trong loại hình trữ tình) đặt ngang hàng với loại hình tự sự, loại hình kịch. Trong thơ lại có những thể nhỏ hơn, từ thể bi ca, tụng ca, thơ đồng quê,… cho đến các thể thơ trữ tình trong thời kỳ hiện đại. Thơ là hình thái văn học đầu tiên của loài người. Suốt một thời gian dài, từ thế kỷ XVII trở về trước, nói đến văn học tức là nói đến thơ ca.
Thơ có lịch sử lâu dài. Định nghĩa sớm nhất ở châu Âu về thơ có thể bắt đầu từ nhà triết học người Hy Lạp Aristotle (384 - 322 trước Công nguyên). Ở Việt Nam, thơ có thể bắt nguồn từ tục ngữ, ca dao mà ra. Những câu có vần điệu, dễ nhớ như Sấm bên đông, động bên tây vốn là những kinh nghiệm có được thông qua sự từng trải, sự quan sát các hiện tượng thiên nhiên, mà đúc kết lại, truyền từ đời nọ sang 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đời kia, giống như một thứ mật mã trong ngôn ngữ để truyền thông tin vậy.
Những đúc kết bao gồm đủ mọi mặt trong cuộc sống, sau này khi được biến thành những câu ca dao, câu vè, chúng trở thành một hình thức văn nghệ, giải trí. Thơ sinh ra cùng cuộc sống phong phú, muôn màu muôn vẻ, được nuôi dưỡng bởi những tâm hồn thiết tha yêu sự sống, yêu cái đẹp. Thơ gắn liền với cảm xúc, với trí tưởng tượng, tuy nhiên vẫn có một sợi dây vô hình gắn kết thơ với thực tại hiện hữu xung quanh. Sống với thơ, tâm hồn con người sẽ được “thanh lọc” (Aristotle).
“Thi khả dĩ hứng, khả dĩ quan, khả dĩ oán, khả dĩ quần, khả dĩ nộ” như có lần Khổng Tử đã nói. Thơ cũng như văn học và mọi loại hình nghệ thuật khác bồi đắp và làm phong phú đời sống tinh thần, đem lại những xúc cảm yêu thương, vừa nhân đạo hoá con người vừa là niềm vui bất tận cho cuộc sống, thơ ca là niềm vui cao cả nhất mà loài người đã tạo ra cho mình. Tuy thơ là một thể loại văn học nằm trong phương thức trữ tình nhưng nó có những biến thái rất phong phú, đa dạng. Mỗi thể thơ lại mang trong nó những đặc trưng riêng và thích hợp cho việc bộc lộ những xúc cảm, tình cảm khác nhau.
Điểm tựa của thơ bao giờ cũng là ở việc bộc lộ thế giới nội tâm của con người; thơ bắt đầu từ cái ngày mà con người cảm thấy cần phải tự biểu hiện bản thân mình, như trong Vân đài loại ngữ, Lê Quý Đôn đã bình giải: “Thơ khởi phát tự trong lòng người ta”. Khi cuộc sống đã tràn đầy trong tim, thơ đến như một nơi để giãi bày và cùng chia sẻ nỗi lòng. Thơ có thể chỉ là những lời ca thể hiện sự trân trọng, mến yêu quê hương, đất nước, có thể chỉ là một khoảnh khắc vui mừng chợt đến, có thể chỉ là một giây phút nhớ mong, chờ đợi, nhưng cũng có thể là những đau thương dồn nén lâu ngày, có thể là những nghĩ suy không biết cùng ai chia sẻ,… Và lúc ấy, những cảm xúc, những rung động kia sẽ tìm cho mình một cách biểu đạt thích hợp nhất, đạt hiệu quả thẩm mỹ cao nhất. Thơ đã trở thành người bạn tri âm, luôn hội ngộ khi chúng ta muốn bày tỏ nỗi lòng, hay muốn có điểm tựa tinh thần trước bao tình huống khác nhau của cuộc sống.
“Những câu thơ hay/ Ở mãi trong lòng/ Như những viên ngọc trai của tình người cô lại/ Cứ trong trẻo ánh trời sáng mãi/ Cứ hồn nhiên ngọn gió đồng quê/ Sưởi hồn ta ấm nóng nỗi đam mê/ Mềm mại thế mà 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tột cùng vững chãi/ Đã có người thốt lên:/ „Khi ngã xuống, hãy vịn câu thơ mà đứng dậy!‟/ Ôi! Những câu thơ hay không cũ bao giờ/ Thơ với người/ Người với thơ/ Cuộc hôn phối này do Thiên sứ định” (Do Thiên sứ định - Cảnh Trà). Chính thơ ca đã giúp chúng ta chống chọi lại nguy cơ máy móc, cơ khí hoá, lập trình hoá cuộc sống, chống lại sự han gỉ tình người, vượt qua “bi kịch của con người trong thời đại chúng ta là thừa trí tuệ mà thiếu tâm hồn” như Octavio Paz đã nói trong Diễn từ khi nhận giải Nobel. Dân tộc Việt Nam trải qua hàng ngàn năm tồn tại và phát triển đã chứng tỏ sự phong phú, giàu có của kho tàng thơ ca. Những biến chuyển và đổi mới liên tục ở từng thời kỳ, từng giai đoạn đã mang đến cho thi ca Việt Nam những thay đổi đáng kể.
Trong suốt tiến trình phát triển ấy, các thể thơ ca cổ truyền được sử dụng phổ biến hơn cả và là cơ sở cho sự hình thành những thể thơ mới. Ban đầu là những sáng tạo dân gian, dần dần thu nhận những yếu tố mới và nâng cao theo sự tiến triển của tư duy, cảm xúc, của đời sống con người. Các thể cổ truyền của thơ ca Việt Nam như thể bốn chữ, năm chữ, bảy chữ, tám chữ, thể lục bát, thể song thất lục bát,… đều là cơ cở cho sự đổi mới, nhưng những ảnh hưởng đó diễn ra không đồng đều. Từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX và cho đến tận ngày nay, trải qua một quá trình phát triển rất dài, những thể thơ Việt Nam, những thể thơ du nhập của nước ngoài đều có những dòng, những chặng phát triển và để lại những thành tựu đáng ghi nhận.
Các thể thơ và thể lục bát Thơ là một hình thức nghệ thuật dùng từ ngữ làm chất liệu, và sự chọn lọc từ cũng như tổ hợp của chúng được sắp xếp dưới một hình thức logic nhất định tạo nên hình ảnh hay gợi cảm âm thanh có tính thẩm mỹ cho người đọc, người nghe. Từ thơ thường được đi kèm với từ câu để chỉ một câu thơ, hay với từ bài để chỉ một bài thơ. Mỗi câu thơ là một hình thức câu cô đọng, truyền đạt một hoặc nhiều hình ảnh, có ý nghĩa với người đọc, và hoàn chỉnh trong cấu trúc ngữ pháp. Một bài thơ là tổ hợp của các câu thơ.
Tính cô đọng trong số lượng từ, tính tượng hình và dư âm 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.