Luận án tiến sĩ thơ lục bát từ truyền thuyết đến hiện đại

Khám phá luận án tiến sĩ về thơ lục bát truyền thống và hiện đại, phân tích sâu sắc giá trị văn hóa và sự phát triển của thể loại thơ này.

Chuyên ngành

Lý luận văn học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ văn học

2017

168
6
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài

0.2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

0.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

0.4. Phương pháp nghiên cứu

0.5. Đóng góp mới của luận án

0.6. Cấu trúc của luận án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Vấn đề thể loại và thể lục bát

1.1.1. Thể loại nói chung và thơ nói riêng

2. CHƯƠNG 2: THƠ LỤC BÁT - LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN, ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI

2.1. Lịch sử hình thành, phát triển thể lục bát

2.1.1. Nguồn gốc, sự hình thành thể lục bát

2.1.2. Các giai đoạn phát triển của thể lục bát

2.1.3. Đặc trưng thể loại của thơ lục bát

2.1.4. Cấu trúc hình thức thể lục bát

2.1.5. Biến thể lục bát

3. CHƯƠNG 3: GIÁ TRỊ CỦA THƠ LỤC BÁT TRUYỀN THỐNG

3.1. Khái luận về truyền thống và giá trị truyền thống trong thơ

3.1.1. Khái niệm truyền thống và truyền thống văn học

3.1.2. Truyền thống trong thơ và những giá trị truyền thống trong thơ Việt Nam

3.1.3. Thơ lục bát truyền thống - những giá trị cốt lõi

3.1.4. Giá trị hiện thực, tinh thần yêu nước, nhân đạo và bản sắc văn hoá dân tộc

3.1.5. Nghệ thuật biểu hiện đậm chất dân gian

3.1.6. Thơ lục bát truyền thống - những trường hợp điển hình

3.1.6.1. Lục bát ca dao, dân ca
3.1.6.2. Lục bát truyện thơ Nôm
3.1.6.3. Lục bát kinh sách Phật giáo
3.1.6.4. Lục bát Truyện Kiều
3.1.6.5. Lục bát Lục Vân Tiên

4. CHƯƠNG 4: TIẾP BIẾN CỦA THƠ LỤC BÁT HIỆN ĐẠI

4.1. Khái luận về hiện đại, tiếp biến truyền thống và hiện đại

4.1.1. Khái niệm hiện đại và tính hiện đại

4.1.2. Tiếp biến truyền thống và hiện đại

4.1.3. Thơ lục bát hiện đại - truyền thống và cách tân

4.1.3.1. Truyền thống và hiện đại trong nội dung phản ánh
4.1.3.2. Những cách tân về nghệ thuật biểu hiện
4.1.3.3. Thơ lục bát hiện đại tiêu biểu
4.1.3.3.1. Lục bát Thơ mới và Nguyễn Bính
4.1.3.3.2. Lục bát Tố Hữu
4.1.3.3.3. Lục bát Bùi Giáng
4.1.3.3.4. Lục bát Nguyễn Duy
4.1.3.3.5. Lục bát Đồng Đức Bốn

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Cách tổng quan luận án tiến sĩ về thơ lục bát truyền thống và hiện đại

Luận án tiến sĩ về thơ lục bát truyền thốnghiện đại là công trình nghiên cứu toàn diện, hệ thống về thể thơ đặc sắc của văn học Việt Nam. Thể thơ lục bát không chỉ là biểu tượng văn hóa dân tộc mà còn là phương tiện biểu đạt tâm hồn, đời sống người Việt qua nhiều thời kỳ. Luận án tập trung làm rõ nguồn gốc, lịch sử phát triển, đặc trưng thể loại, giá trị truyền thống và sự tiếp biến hiện đại của thơ lục bát. Qua đó, khẳng định vị trí quan trọng của thể thơ trong tiến trình văn học Việt Nam, đồng thời phân tích các hiện tượng, tác giả, phong cách tiêu biểu, góp phần nâng cao nhận thức về giá trị văn hóa và nghệ thuật của thơ lục bát.

1.1. Giới thiệu tổng quan về luận án tiến sĩ về thơ lục bát

Luận án tiến sĩ về nghiên cứu thơ lục bát là công trình đầu tiên nghiên cứu có hệ thống, toàn diện về thể thơ lục bát từ truyền thống đến hiện đại. Luận án làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản, đặc trưng thể loại, giá trị tư tưởng và thẩm mỹ, đồng thời phân tích các hiện tượng thơ tiêu biểu và sự tiếp biến giữa truyền thống và hiện đại. Đây là tài liệu quan trọng góp phần khẳng định vị thế của thơ lục bát trong văn học Việt Nam.

1.2. Tính cấp thiết và phạm vi nghiên cứu luận án tiến sĩ về thơ lục bát

Thơ lục bát là thể thơ truyền thống đặc trưng của dân tộc Việt Nam, có sức sống mãnh liệt và vị trí quan trọng trong văn học dân gian, trung đại và hiện đại. Việc nghiên cứu toàn diện về thơ lục bát giúp phát hiện giá trị văn hóa, nghệ thuật và sự phát triển của thể thơ qua các giai đoạn lịch sử. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các sáng tác tiêu biểu, các tác giả và phong cách thơ lục bát từ truyền thống đến hiện đại.

II. Phương pháp nghiên cứu luận án tiến sĩ về thơ lục bát truyền thống và hiện đại

Luận án sử dụng đa dạng các phương pháp nghiên cứu nhằm đảm bảo tính khoa học và toàn diện. Các phương pháp chính bao gồm phương pháp lịch sử - xã hội để phân tích tác động của hoàn cảnh lịch sử, xã hội đến thơ lục bát; phương pháp loại hình để xác định đặc trưng thể loại; phương pháp phân tích, tổng hợp để đi sâu vào các tác giả, tác phẩm tiêu biểu; và phương pháp thi pháp học để làm rõ yếu tố hình thức trong thơ lục bát. Ngoài ra, luận án còn áp dụng phương pháp liên ngành, so sánh và thống kê để nâng cao hiệu quả nghiên cứu.

2.1. Phương pháp lịch sử xã hội và loại hình trong nghiên cứu thơ lục bát

Phương pháp lịch sử - xã hội giúp xác định ảnh hưởng của bối cảnh lịch sử, xã hội Việt Nam đến sự hình thành và phát triển của thơ lục bát. Phương pháp loại hình tập trung vào việc phân tích đặc trưng thể loại, tính chất của thơ lục bát trong mối quan hệ với các thể thơ trữ tình khác, từ đó làm rõ vị trí và vai trò của thể thơ trong văn học dân tộc.

2.2. Phương pháp phân tích tổng hợp và thi pháp học trong luận án tiến sĩ

Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng để nghiên cứu sâu các tác giả, tác phẩm tiêu biểu, đồng thời có cái nhìn khái quát, hệ thống về thơ lục bát. Phương pháp thi pháp học giúp làm rõ các yếu tố hình thức mang tính quan niệm trong thơ lục bát, như luật bằng trắc, cách gieo vần, nhịp điệu, góp phần giải thích sức hấp dẫn và giá trị nghệ thuật của thể thơ.

III. Bí quyết phân tích đặc điểm thơ lục bát truyền thống và hiện đại trong luận án tiến sĩ

Phân tích đặc điểm thơ lục bát truyền thống tập trung vào cấu trúc hình thức, luật bằng trắc, cách gieo vần, nhịp điệu và giá trị văn hóa dân gian. Thơ lục bát truyền thống mang đậm bản sắc Việt, dễ thuộc, dễ nhớ, gắn bó mật thiết với đời sống người dân qua ca dao, dân ca, truyện thơ Nôm. Phân tích thơ lục bát hiện đại chú trọng sự tiếp biến, cách tân trong nội dung và hình thức, phản ánh đời sống xã hội đương đại, đồng thời giữ gìn và phát huy giá trị truyền thống. Luận án làm rõ mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, từ đó khẳng định sức sống bền vững của thể thơ.

3.1. Phân tích đặc điểm cấu trúc và luật bằng trắc của thơ lục bát truyền thống

Thơ lục bát truyền thống có cấu trúc gồm cặp câu 6 chữ và 8 chữ, với luật bằng trắc nghiêm ngặt: câu lục theo mẫu b B t T b B, câu bát theo mẫu b B t T b B t B (bằng = b, trắc = t). Cách gieo vần chân và vần lưng tạo nên nhịp điệu uyển chuyển, mềm mại. Luật phối thanh và nhịp thơ hài hòa giúp thơ lục bát dễ thuộc, dễ nhớ, phù hợp với ngôn ngữ và tâm hồn người Việt.

3.2. Phân tích sự tiếp biến và cách tân trong thơ lục bát hiện đại

Thơ lục bát hiện đại giữ nguyên cấu trúc cơ bản nhưng có nhiều cách tân về nhịp điệu, gieo vần, ngắt dòng và ngôn ngữ biểu đạt. Nội dung thơ mở rộng, phản ánh đa dạng các vấn đề xã hội, tâm lý, triết lý đương đại. Các nhà thơ hiện đại như Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn đã phát huy tính linh hoạt, sáng tạo trong thể thơ, tạo nên phong cách riêng biệt, vừa kế thừa truyền thống vừa đổi mới phù hợp với thời đại.

IV. Hướng dẫn nghiên cứu các tác giả và phong cách thơ lục bát tiêu biểu trong luận án tiến sĩ

Luận án tập trung nghiên cứu các tác giả tiêu biểu trong lịch sử phát triển của thơ lục bát, từ truyền thống đến hiện đại. Các tác giả truyền thống như Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu đã nâng tầm thể thơ với các tác phẩm kinh điển như Truyện Kiều, Lục Vân Tiên. Trong thơ hiện đại, các nhà thơ như Tản Đà, Nguyễn Bính, Tố Hữu, Bùi Giáng, Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn được phân tích về phong cách, cách sử dụng thể thơ lục bát để thể hiện nội dung và cảm xúc đa dạng. Qua đó, luận án làm rõ sự đa dạng và sức sống của thơ lục bát qua các thời kỳ.

4.1. Nghiên cứu phong cách và đóng góp của các tác giả truyền thống tiêu biểu

Nguyễn Du với Truyện Kiều đã tạo nên đỉnh cao nghệ thuật cho thơ lục bát truyền thống, kết hợp hài hòa luật bằng trắc, gieo vần và nhịp điệu linh hoạt. Nguyễn Đình Chiểu với Lục Vân Tiên phát huy yếu tố ca dao dân ca, ngôn ngữ giản dị, gần gũi, tạo nên sức sống lâu bền cho thể thơ. Các tác giả này góp phần khẳng định giá trị văn hóa, nhân văn và nghệ thuật của thơ lục bát trong văn học dân tộc.

4.2. Phân tích phong cách và sáng tạo của các nhà thơ lục bát hiện đại tiêu biểu

Tản Đà kết hợp nhuần nhuyễn ngôn ngữ bác học và dân gian, tạo phong cách thơ lục bát vừa truyền thống vừa hiện đại. Nguyễn Bính nổi bật với nhịp điệu chẵn và lẻ linh hoạt, ngôn ngữ mộc mạc, chân quê. Tố Hữu sử dụng thể thơ lục bát để chuyển tải nội dung cách mạng, gần gũi với quần chúng. Bùi Giáng sáng tạo bằng cách đan cài từ Hán Việt và thuần Việt, tạo nên phong cách thơ tư tưởng độc đáo. Nguyễn Duy và Đồng Đức Bốn tiếp tục phát triển thể thơ với ngôn ngữ hiện đại, cảm xúc sâu sắc và hình ảnh sinh động.

V. Phương pháp và kết quả ứng dụng thực tiễn trong nghiên cứu luận án tiến sĩ về thơ lục bát

Luận án không chỉ dừng lại ở lý thuyết mà còn ứng dụng các phương pháp nghiên cứu đa ngành để phân tích thơ lục bát một cách sâu sắc và toàn diện. Kết quả nghiên cứu góp phần nâng cao nhận thức về giá trị văn hóa, nghệ thuật của thể thơ, đồng thời hỗ trợ công tác giảng dạy, sáng tác và bảo tồn di sản thơ lục bát. Luận án cũng đề xuất các hướng phát triển mới cho thơ lục bát trong bối cảnh hiện đại hóa và toàn cầu hóa văn học Việt Nam.

5.1. Ứng dụng phương pháp liên ngành trong nghiên cứu thơ lục bát

Phương pháp liên ngành kết hợp văn học, văn hóa, tâm lý học và ngôn ngữ học giúp phân tích thơ lục bát từ nhiều góc độ khác nhau. Qua đó, luận án làm rõ mối quan hệ giữa thể thơ với đặc điểm ngôn ngữ tiếng Việt, tâm lý thưởng thức của người đọc và bối cảnh văn hóa xã hội, góp phần làm sáng tỏ giá trị và sức sống của thơ lục bát.

5.2. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng trong giảng dạy sáng tác thơ lục bát

Kết quả nghiên cứu giúp nâng cao chất lượng giảng dạy về thể thơ lục bát trong các trường đại học, đồng thời cung cấp cơ sở khoa học cho các nhà thơ sáng tác theo thể thơ truyền thống và hiện đại. Luận án cũng góp phần bảo tồn và phát huy giá trị di sản thơ lục bát, đồng thời thúc đẩy các hoạt động thi ca, cuộc thi thơ lục bát, tạo sân chơi văn hóa phong phú cho cộng đồng yêu thơ.

VI. Hướng phát triển tương lai của luận án tiến sĩ về thơ lục bát truyền thống và hiện đại

Luận án mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới về thơ lục bát, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập và hiện đại hóa văn học Việt Nam. Việc tiếp tục nghiên cứu sự giao thoa giữa truyền thống và hiện đại, sự ảnh hưởng của thơ lục bát đến các thể loại thơ khác và văn học đương đại là cần thiết. Đồng thời, phát triển các công cụ phân tích kỹ thuật số, ứng dụng công nghệ thông tin trong nghiên cứu thơ lục bát cũng là xu hướng tương lai. Luận án góp phần định hướng phát triển bền vững cho thể thơ lục bát trong đời sống văn hóa và nghệ thuật Việt Nam.

6.1. Hướng nghiên cứu tiếp theo về sự giao thoa truyền thống và hiện đại trong thơ lục bát

Nghiên cứu sâu hơn về cách thức tiếp biến, cách tân trong thơ lục bát hiện đại, sự ảnh hưởng của các trào lưu thơ ca đương đại và quốc tế đến thể thơ truyền thống. Khai thác các hiện tượng thơ mới, phong cách sáng tác đa dạng để làm rõ sự phát triển liên tục và sức sống bền bỉ của thơ lục bát.

6.2. Ứng dụng công nghệ và phương pháp mới trong nghiên cứu thơ lục bát

Áp dụng công nghệ phân tích văn bản, trí tuệ nhân tạo và các phương pháp kỹ thuật số để phân tích cấu trúc, ngôn ngữ và nhịp điệu của thơ lục bát. Phát triển các công cụ hỗ trợ giảng dạy và sáng tác thơ lục bát, đồng thời mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các lĩnh vực liên quan như âm nhạc dân gian, văn hóa truyền thống và truyền thông hiện đại.

02/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Chương 2: Thơ lục bát - lịch sử phát triển, đặc trưng thể loại Chương 3: Giá trị của thơ lục bát truyền thống Chương 4: Tiếp biến của thơ lục bát hiện đại 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Vấn đề thể loại và thể lục bát 1. Thể loại nói chung và thơ nói riêng Thể loại văn học là dạng thức tồn tại của chỉnh thể các tác phẩm văn học, nó phản ánh những khuynh hướng phát triển bền vững và tương đối ổn định của văn học. Sự vận động của mỗi thời kỳ văn học luôn gắn liền với sự biến động về thể loại, điều đó biểu hiện rõ sức sống của một nền văn học.

Không có một nền văn học nào, một thời kỳ, một giai đoạn văn học nào được coi là phát triển mà lại đơn điệu và nghèo nàn về thể loại. Thể loại vừa rất cổ sơ vừa luôn luôn mới mẻ. Những thay đổi của thể loại, của cách thức biểu hiện bắt nguồn từ nguyên nhân sâu xa là cảm hứng sáng tạo, tư duy nghệ thuật, quan niệm thẩm mỹ về con người, cuộc sống. Sự “lên ngôi” của từng thể loại trong mỗi thời kỳ phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau.

Có sự thống trị lâu bền, có sự xuất hiện rồi lụi tàn, thể loại đôi khi đi qua nhanh chóng nhưng nhiều khi lại để lại những ảnh hưởng lâu dài, sâu đậm. Có những thể loại trải qua quá trình phát sinh, phát triển, đã có nhiều biến đổi, tạo ra nhiều biến thể phong phú. Trong thể loại kịch, các thể bi kịch, hài kịch, chính kịch,… được đề cao và thịnh hành vào tuỳ từng thời điểm. Trong văn xuôi, các thể loại truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết,… cũng có những biến đổi và thâm nhập lẫn nhau theo thời gian.

Trong thơ, thể bốn chữ, năm chữ, bảy chữ hay tám chữ, thể lục bát, thể tự do,… có những thời kỳ tồn tại và khẳng định riêng. Trong lịch sử phát triển của văn học, mỗi thể loại văn học đều có vai trò và diện mạo riêng. Có một thời, anh hùng ca (sử thi) được xem như đại diện tiêu biểu nhất, đạt được những thành tựu rực rỡ, của thể loại văn học. Dần dần theo thời gian, những yếu tố của sử thi được tiếp thu, chọn lọc và hình thành nên nhiều cách biểu hiện khác hơn, mới mẻ hơn.

Ví như, đặc trưng cơ bản của sử thi được tiểu thuyết hiện đại tiếp nhận để hình thành nên thể loại mới tiểu thuyết sử thi và tác phẩm đỉnh cao phải kể đến như: Chiến tranh và hoà bình của L. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tolstoy, Sông Đông êm đềm của M. Sholokhov,… Số phận lịch sử của nhiều thể loại khác như thơ Đường luật, thơ Sonnet,… cũng có chung con đường phát sinh, phát triển và để lại dư âm vang vọng như thế. Thể loại mang tính lịch sử và dân tộc, tính kế thừa và sáng tạo.

Dấu ấn lịch sử bao giờ cũng khá đậm trong bản thân các thể loại. Nền nghệ thuật cổ đại Hy Lạp rất huy hoàng, nhưng nó chỉ gắn liền với thời đại chưa có bàn in và máy in. Hình tượng Asin không thể tồn tại trong thời đại có thuốc súng và đạn chì. Trong quá trình phát triển, mỗi dân tộc sẽ có những thể loại tiêu biểu thể hiện bản sắc văn hoá, đặc điểm tư duy, hình thái ngôn ngữ, tâm lý thưởng thức nghệ thuật,… ví như ở Nhật Bản là thơ haikư (chỉ có 3 câu), ở Trung Quốc là thơ Đường và tiểu thuyết chương hồi, ở Việt Nam là thơ lục bát,… Mỗi thể loại cũng thường xuyên tự điều chỉnh để hoàn thiện chính mình.

Nó song song hai quá trình kế thừa truyền thống quá khứ và cách tân, sáng tạo cái mới. Một đặc điểm cũng cần phải đề cập đến là tính giao thoa của thể loại. Ranh giới giữa các thể loại mang tính chất tương đối, không phải là sự ngăn cách và phân chia tuyệt đối. Giữa các thể loại luôn luôn có hiện tượng giao kết, sự chuyển hoá, thâm nhập, vay mượn lẫn nhau và từ đó sản sinh ra những thể có thể coi là cầu nối giữa hai thể loại như thơ văn xuôi, kịch thơ, tiểu thuyết phóng sự v.v… Thơ là một thể loại trong văn học.

Chia theo phương thức biểu hiện, khả năng phản ánh hiện thực và khả năng vận dụng ngôn ngữ, thơ (trong loại hình trữ tình) đặt ngang hàng với loại hình tự sự, loại hình kịch. Trong thơ lại có những thể nhỏ hơn, từ thể bi ca, tụng ca, thơ đồng quê,… cho đến các thể thơ trữ tình trong thời kỳ hiện đại. Thơ là hình thái văn học đầu tiên của loài người. Suốt một thời gian dài, từ thế kỷ XVII trở về trước, nói đến văn học tức là nói đến thơ ca.

Thơ có lịch sử lâu dài. Định nghĩa sớm nhất ở châu Âu về thơ có thể bắt đầu từ nhà triết học người Hy Lạp Aristotle (384 - 322 trước Công nguyên). Ở Việt Nam, thơ có thể bắt nguồn từ tục ngữ, ca dao mà ra. Những câu có vần điệu, dễ nhớ như Sấm bên đông, động bên tây vốn là những kinh nghiệm có được thông qua sự từng trải, sự quan sát các hiện tượng thiên nhiên, mà đúc kết lại, truyền từ đời nọ sang 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đời kia, giống như một thứ mật mã trong ngôn ngữ để truyền thông tin vậy.

Những đúc kết bao gồm đủ mọi mặt trong cuộc sống, sau này khi được biến thành những câu ca dao, câu vè, chúng trở thành một hình thức văn nghệ, giải trí. Thơ sinh ra cùng cuộc sống phong phú, muôn màu muôn vẻ, được nuôi dưỡng bởi những tâm hồn thiết tha yêu sự sống, yêu cái đẹp. Thơ gắn liền với cảm xúc, với trí tưởng tượng, tuy nhiên vẫn có một sợi dây vô hình gắn kết thơ với thực tại hiện hữu xung quanh. Sống với thơ, tâm hồn con người sẽ được “thanh lọc” (Aristotle).

“Thi khả dĩ hứng, khả dĩ quan, khả dĩ oán, khả dĩ quần, khả dĩ nộ” như có lần Khổng Tử đã nói. Thơ cũng như văn học và mọi loại hình nghệ thuật khác bồi đắp và làm phong phú đời sống tinh thần, đem lại những xúc cảm yêu thương, vừa nhân đạo hoá con người vừa là niềm vui bất tận cho cuộc sống, thơ ca là niềm vui cao cả nhất mà loài người đã tạo ra cho mình. Tuy thơ là một thể loại văn học nằm trong phương thức trữ tình nhưng nó có những biến thái rất phong phú, đa dạng. Mỗi thể thơ lại mang trong nó những đặc trưng riêng và thích hợp cho việc bộc lộ những xúc cảm, tình cảm khác nhau.

Điểm tựa của thơ bao giờ cũng là ở việc bộc lộ thế giới nội tâm của con người; thơ bắt đầu từ cái ngày mà con người cảm thấy cần phải tự biểu hiện bản thân mình, như trong Vân đài loại ngữ, Lê Quý Đôn đã bình giải: “Thơ khởi phát tự trong lòng người ta”. Khi cuộc sống đã tràn đầy trong tim, thơ đến như một nơi để giãi bày và cùng chia sẻ nỗi lòng. Thơ có thể chỉ là những lời ca thể hiện sự trân trọng, mến yêu quê hương, đất nước, có thể chỉ là một khoảnh khắc vui mừng chợt đến, có thể chỉ là một giây phút nhớ mong, chờ đợi, nhưng cũng có thể là những đau thương dồn nén lâu ngày, có thể là những nghĩ suy không biết cùng ai chia sẻ,… Và lúc ấy, những cảm xúc, những rung động kia sẽ tìm cho mình một cách biểu đạt thích hợp nhất, đạt hiệu quả thẩm mỹ cao nhất. Thơ đã trở thành người bạn tri âm, luôn hội ngộ khi chúng ta muốn bày tỏ nỗi lòng, hay muốn có điểm tựa tinh thần trước bao tình huống khác nhau của cuộc sống.

“Những câu thơ hay/ Ở mãi trong lòng/ Như những viên ngọc trai của tình người cô lại/ Cứ trong trẻo ánh trời sáng mãi/ Cứ hồn nhiên ngọn gió đồng quê/ Sưởi hồn ta ấm nóng nỗi đam mê/ Mềm mại thế mà 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tột cùng vững chãi/ Đã có người thốt lên:/ „Khi ngã xuống, hãy vịn câu thơ mà đứng dậy!‟/ Ôi! Những câu thơ hay không cũ bao giờ/ Thơ với người/ Người với thơ/ Cuộc hôn phối này do Thiên sứ định” (Do Thiên sứ định - Cảnh Trà). Chính thơ ca đã giúp chúng ta chống chọi lại nguy cơ máy móc, cơ khí hoá, lập trình hoá cuộc sống, chống lại sự han gỉ tình người, vượt qua “bi kịch của con người trong thời đại chúng ta là thừa trí tuệ mà thiếu tâm hồn” như Octavio Paz đã nói trong Diễn từ khi nhận giải Nobel. Dân tộc Việt Nam trải qua hàng ngàn năm tồn tại và phát triển đã chứng tỏ sự phong phú, giàu có của kho tàng thơ ca. Những biến chuyển và đổi mới liên tục ở từng thời kỳ, từng giai đoạn đã mang đến cho thi ca Việt Nam những thay đổi đáng kể.

Trong suốt tiến trình phát triển ấy, các thể thơ ca cổ truyền được sử dụng phổ biến hơn cả và là cơ sở cho sự hình thành những thể thơ mới. Ban đầu là những sáng tạo dân gian, dần dần thu nhận những yếu tố mới và nâng cao theo sự tiến triển của tư duy, cảm xúc, của đời sống con người. Các thể cổ truyền của thơ ca Việt Nam như thể bốn chữ, năm chữ, bảy chữ, tám chữ, thể lục bát, thể song thất lục bát,… đều là cơ cở cho sự đổi mới, nhưng những ảnh hưởng đó diễn ra không đồng đều. Từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX và cho đến tận ngày nay, trải qua một quá trình phát triển rất dài, những thể thơ Việt Nam, những thể thơ du nhập của nước ngoài đều có những dòng, những chặng phát triển và để lại những thành tựu đáng ghi nhận.

Các thể thơ và thể lục bát Thơ là một hình thức nghệ thuật dùng từ ngữ làm chất liệu, và sự chọn lọc từ cũng như tổ hợp của chúng được sắp xếp dưới một hình thức logic nhất định tạo nên hình ảnh hay gợi cảm âm thanh có tính thẩm mỹ cho người đọc, người nghe. Từ thơ thường được đi kèm với từ câu để chỉ một câu thơ, hay với từ bài để chỉ một bài thơ. Mỗi câu thơ là một hình thức câu cô đọng, truyền đạt một hoặc nhiều hình ảnh, có ý nghĩa với người đọc, và hoàn chỉnh trong cấu trúc ngữ pháp. Một bài thơ là tổ hợp của các câu thơ.

Tính cô đọng trong số lượng từ, tính tượng hình và dư âm 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ