Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN PHẠM VI CỦA ĐỀ TÀI Phát triển kinh tế luôn là một trong những vấn đề thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trên thế giới và trong nước. Trong thực tế, để thúc đẩy kinh tế phát triển cần đánh giá một cách chính xác các nguồn lực và điều kiện kinh tế - xã hội của từng vùng để tìm ra lợi thế so sánh, từ đó xây dựng các chính sách phát triển phù hợp cho từng vùng. Đối với nước ta hiện nay, việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập sâu, rộng vào các tổ chức kinh tế khu vực và quốc tế, việc nghiên cứu đưa ra các chính sách cho phát triển kinh tế vùng càng trở nên cần thiết.
Vì vậy, cho tới nay có nhiều công trình khoa học, các bài báo nghiên cứu về phát triển kinh tế vùng. Có thể tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố có liên quan tới đề tài luận án như sau: 1. Các công trình nghiên cứu liên quan tới kinh tế vùng và phát triển kinh tế vùng Thái Bá Cẩn, Phát triển bền vững kinh tế vùng, liên kết vùng [3]. Tác giả đã phân tích và đưa ra quan điểm phát triển bền vững kinh tế vùng phải được thực hiện trên 3 mặt: phát triển bền vững về kinh tế; phát triển bền vững về xã hội; phát triển bền vững về môi trường.
Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất một số nhóm chính sách phát triển vùng bao gồm: nhóm chính sách trực tiếp cho phát triển kinh tế vùng; nhóm chính sách cho phát triển lãnh thổ đặc biệt (vùng kinh tế trọng điểm, đặc khu kinh tế, khu chế xuất công nghệ cao…); nhóm chính sách áp dụng chung cho tất cả các vùng lãnh thổ trên toàn quốc.Thisse, Economic Geography: The Integration of Regions and Nations (Địa lý kinh tế. Sự hội nhập các vùng và các quốc gia) [76]. Các tác giả trình bày trong lĩnh vực kinh tế vùng với các phương pháp tiếp cận mới và toàn diện. Tác phẩm cung cấp cho người nghiên cứu những nội dung 11 quan trọng để nghiên cứu về địa lý kinh tế, kinh tế khu vực và đô thị, thương mại quốc tế và kinh tế học ứng dụng.
Ngoài ra tác giả còn thông qua các lý thuyết kinh tế để giải thích tại sao sự di chuyển ngày càng tăng của dòng hàng hóa và các phát minh khoa học, sự lan tỏa của các hoạt động kinh tế là bất bình đẳng và vẫn có xu hướng tích tụ trong một số thực thể vùng; bổ sung lý thuyết của kinh tế học tích tụ để cho thấy “vị trí” tiếp tục quan trọng như thế nào đối với thương mại và phát triển kinh tế, hội nhập kinh tế toàn cầu và cách chuyển đổi nền kinh tế toàn cầu thành không gian kinh tế trong đó các hoạt động trao đổi hàng hóa, thông tin được thực hiện chủ yếu ở các trung tâm kinh tế lớn, các đô thị; đưa ra các hàm ý tương lai của sự biến đổi này trong nền kinh tế không gian và liên kết chúng với các xu hướng kinh tế và xã hội quan trọng khác. Bùi Việt Cường, Nghiên cứu cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh vùng theo hướng bền vững [10]. Trên cơ sở khái quát các lý thuyết về vùng và lý thuyết phát triển bền vững, tác giả đã đi vào nghiên cứu năng lực cạnh tranh của vùng theo hướng bền vững và đề xuất khung lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm để rút ra các kết luận và đề xuất một số chính sách nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh vùng theo hướng bền vững. Lê Đăng Doanh, Nguyễn Minh Tú, Tác động xã hội của cải cách kinh tế đối với sự phát triển vùng [11].
Xuất phát từ thực tiễn phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam trải qua 10 năm đổi mới với những biểu hiện chệnh lệch về sự phát triển giữa các vùng thành thị - nông thôn, giữa các trung tâm kinh tế với các vùng ngoại vi, các tác giả đã nghiên cứu với xuất phát điểm từ các câu hỏi: cách biệt giữa thành thị với nông thôn là hệ quả tất yếu của bất kỳ quốc gia nào, bất kỳ quá trình phát triển nào? Hay sự cách biệt phát triển đó là hệ quả của chính sách yếu kém? Hoặc do cả hai yếu tố trên? Từ các câu hỏi đó, tập thể tác giả đi sâu nghiên cứu hai vấn đề: thứ nhất, nghiên cứu tác động xã hội của cải cách kinh tế tới sự thay đổi toàn bộ xã hội với tư cách là một chỉnh thể hoàn chỉnh; thứ hai, nghiên cứu tác động của cải cách kinh tế tới sự phát triển của các vùng lãnh thổ khác nhau của đất nước để từ đó có được cái nhìn tổng thể cho việc xây dựng các chính sách cho phát triển kinh tế. Trên cơ sở đó, tác giả đi vào nghiên cứu khung lý thuyết về phát 12 triển vùng và chính sách kinh tế vùng với tư cách là một bộ phận của chính sách kinh tế, nghiên cứu các mô hình của Cộng hòa Liên bang Đức và của Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Thông qua đánh giá những kết quả của cải cách kinh tế mà nước ta đã đạt được qua 10 năm đổi mới dưới góc độ tăng trưởng kinh tế và khía cạnh xã hội để chỉ ra những tồn tại, hạn chế. Kết hợp với việc nghiên cứu một mô hình cụ thể của tỉnh Thừa Thiên Huế, tác giả đưa ra kết luận: những kết quả của quá trình đổi mới về kinh tế chủ yếu xuất phát từ việc giải phóng các nguồn lực kinh tế vốn đã bị bó chặt trong thời kỳ thực hiện cơ chế kế hoạch hóa tập chung; nền kinh tế chủ yếu phát triển theo chiều ngang nên các trung tâm kinh tế tận dụng được ưu thế của mình, những tác động của nền kinh tế thị trường tới các vùng sâu, xa, núi cao còn rất hạn chế.
Mặc dù chính phủ đã có những chính sách lớn kịp thời hỗ trợ cho các vùng sâu, xa, núi cao nhưng sự cách biệt về kinh tế, xã hội vẫn ngày một gia tăng. Từ đó, tác giả đưa ra những khuyến nghị để thực hiện có hiệu quả về chính sách phát triển kinh tế giảm sự cách biệt giữa các vùng trong quá trình phát triển kinh tế. Nguyễn Tiến Dũng, Kinh tế và chính sách phát triển vùng [12]. Tác giả đã trình bày các khái niệm: vùng kinh tế, cơ cấu vùng kinh tế, phân loại vùng kinh tế, các thước đo phát triển kinh tế vùng, khái niệm chính sách phát triển vùng.
Trên cơ sở các khái niệm, tác giả đưa ra các mô hình đánh giá tăng trưởng và phát triển vùng. Đặc biệt, trong cuốn sách này tác giả đã đề cập tới chính sách marketing vùng trong đó nhấn mạnh các vấn đề như: xác định đối tượng của marketing vùng lãnh thổ; chủ thể của marketing vùng lãnh thổ; chính sách marketing vùng lãnh thổ. Ngoài ra, cuốn sách còn đề cập tới các chính sách thu hẹp khoảng cách phát triển vùng và nhấn mạnh vai trò của cộng đồng trong chính sách phát triển vùng. Lê Anh Đức, Mấy vấn đề về liên kết kinh tế vùng [14].
Tác giả làm rõ tính tất yếu và vai trò của liên kết kinh tế vùng trong quá trình tái cơ cấu nền kinh tế. Thông qua phân tích đánh giá thực trạng liên kết kinh tế vùng của Việt Nam, tác giả đã chỉ ra một số mô hình liên kết cho phát triển kinh tế vùng và đưa ra một số định hướng căn bản cho sự liên kết phát triển kinh tế vùng của Việt Nam. 13 Lê Thu Hoa, Kinh tế vùng Việt Nam - Từ lý luận tới thực tiễn [26]. Trong cuốn sách này, tác giả đã trình bày các khái niệm cơ bản về không gian, lãnh thổ, vùng, phân loại vùng kinh tế, chỉ ra bản chất, nội dung, phương pháp nghiên cứu kinh tế vùng và khái quát các lý thuyết về kinh tế vùng đã được các nhà kinh tế trên thế giới nghiên cứu.
Từ đó tác giả vận dụng trong nghiên cứu thực tiễn phát triển kinh tế vùng ở Việt Nam trong thời gian vừa qua. Cuốn sách đã cung cấp cho người đọc những lý luận cơ bản để hiểu rõ vùng kinh tế, bản chất và nội dung của vùng kinh tế; vai trò của vùng kinh tế trọng điểm trong phát triển kinh tế quốc gia. Trên cơ sở lý luận về kinh tế vùng để luận giải sự hình thành các vùng kinh tế của Việt Nam. Benjamin Higgins, Donal J.Savoie, Regional Development Theories and Their Application (Các lý thuyết phát triển vùng và ứng dụng của chúng) [77].
Trong cuốn sách này, các tác giả đã phân tích để chỉ ra nguy cơ tan rã hoặc chia cắt các vùng thuộc một số quốc gia trên thế giới như: Nam tư, Somalia, Canada, Trung Quốc… mà nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ những mâu thuẫn về kinh tế, sắc tộc, tôn giáo, chính trị và văn hóa xuất hiện trong quá trình phát triển đã không được chính phủ của các nước quan tâm và giải quyết triệt để, hoặc do những nguyên nhân khác mà chính phủ các nước đã bỏ qua các yếu tố gây bất bình đẳng xã hội để chạy theo mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Tác giả đã phân tích làm rõ các nguyên nhân dẫn tới các xung đột và từ đó chỉ ra tại sao việc loại bỏ sự chênh lệch giữa các vùng trong mỗi quốc gia phần lớn không thành công. Tác phẩm đưa ra những gợi ý cho các nhà hoạch định chính sách và xây dựng kế hoạch về phát triển kinh tế vùng, trong đó nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng của việc giải quyết các mâu thuẫn về lợi ích kinh tế giữa các vùng sẽ tạo động lực cho phát triển kinh tế vùng. Nguyễn Hiền, Phát triển vùng trong bối cảnh hội nhập quốc tế ở Việt Nam [21].
Lấy bối cảnh là sự hội nhập quốc tế với các dòng vốn đầu tự trực tiếp nước ngoài đang đổ vào Việt Nam, tác giả thực hiện việc phân tích để chỉ ra sự phát triển vùng không chỉ dừng lại ở chính sự tăng trưởng về mặt kinh tế của bản thân vùng mà còn bao hàm cả khả năng tiếp nhận sự tăng trưởng (hiểu theo nghĩa đơn 14 giản hơn chính là quá trình tái sản xuất mở rộng của vùng phải được thực hiện liên tục).