Tổng quan luận án
Phát triển sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam trong giai đoạn vừa qua chủ yếu vẫn mang tính chất nhỏ lẻ, phân tán theo quy mô nông hộ, sản phẩm phần lớn ở dạng sơ chế thô, thiếu nhãn hiệu thương mại và mức độ liên kết tổ chức sản xuất - chế biến theo chuỗi giá trị gắn với nhu cầu thị trường còn hạn chế. Cây dược liệu là một bộ phận của ngành nông nghiệp, do đó việc tổ chức sản xuất dược liệu theo chuỗi giá trị là yêu cầu cần thiết nhằm thực hiện chủ trương tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.
Tỉnh Quảng Ninh sở hữu thảm thực vật phong phú và đa dạng với nhiều loài cây dược liệu có giá trị như Ba kích, Trà hoa vàng, Hồi, Quế, Trầu một lá, Bình vôi, Bá bệnh, Kim ngân hoa, Nhân trần, Ý dĩ... Tuy nhiên, hoạt động khai thác tài nguyên cây thuốc tại địa phương còn mang tính tự phát, chưa chú trọng đúng mức đến công tác tái sinh và bảo tồn dẫn đến nguy cơ suy giảm trữ lượng; sản phẩm dược liệu chủ yếu dừng lại ở khâu nguyên liệu tươi hoặc sơ chế thô, chưa có nhiều sản phẩm chế biến tinh để nâng cao giá trị gia tăng. Nhằm khai thác tiềm năng tự nhiên và phát triển các sản phẩm đặc sản, tỉnh Quảng Ninh đã đưa dược liệu vào danh mục sản phẩm chủ lực thuộc Chương trình "Mỗi xã, phường một sản phẩm" (OCOP) triển khai từ năm 2013, phục vụ định hướng chuyển đổi mô hình phát triển từ "nâu" sang "xanh". Dù vậy, mối liên kết dọc (giữa người sản xuất, thương lái trung gian và cơ sở chế biến) còn qua nhiều khâu trung gian, thiếu tính minh bạch và thường xuyên xảy ra tình trạng tranh mua tranh bán, vi phạm hợp đồng; mối liên kết ngang (giữa các hộ nông dân, tổ hợp tác, hợp tác xã) còn lỏng lẻo và thiếu cơ chế ràng buộc.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định như sau:
- Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về chuỗi giá trị cây dược liệu tỉnh Quảng Ninh, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp phát triển chuỗi giá trị cây dược liệu tỉnh Quảng Ninh đến năm 2025.
- Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về phát triển chuỗi giá trị và chuỗi giá trị cây dược liệu.
- Đánh giá thực trạng phát triển chuỗi giá trị cây dược liệu tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2013 - 2017.
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển chuỗi giá trị cây dược liệu tỉnh Quảng Ninh.
- Đề xuất giải pháp phát triển chuỗi giá trị cây dược liệu tỉnh Quảng Ninh đến năm 2025.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Chuỗi giá trị và phát triển chuỗi giá trị cây dược liệu tỉnh Quảng Ninh.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu thực hiện trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, tập trung khảo sát tại 8 huyện, thị xã, thành phố có vùng trồng dược liệu tập trung và hoạt động khai thác dược liệu tự nhiên.
- Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp thu thập trong giai đoạn 2013 - 2017; số liệu sơ cấp điều tra thực địa được thu thập trong năm 2017.
- Phạm vi nội dung: Luận án nghiên cứu thực trạng phát triển chuỗi giá trị cây dược liệu, tập trung phân tích sâu về hiệu quả kinh tế và sự phân phối giá trị gia tăng của từng tác nhân tham gia chuỗi đối với hai loại cây dược liệu trọng yếu thuộc chương trình OCOP của tỉnh là Ba kích và Trà hoa vàng.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan các nghiên cứu về chuỗi giá trị, cây dược liệu và chuỗi giá trị dược liệu được tác giả hệ thống hóa qua các nhóm công trình trong và ngoài nước:
- Các nghiên cứu về chuỗi giá trị ở nước ngoài:
- Hướng phương pháp luận và cẩm nang phân tích chuỗi: Raphael Kaplinsky và Mike Morris (2001, 2006) giới thiệu cẩm nang nghiên cứu chuỗi giá trị; Hellin và Meijer (2006) thuộc Tổ chức Nông Lương Thế giới (FAO) hướng dẫn phân tích chuỗi qua bản đồ thị trường tại Chiapas (Mexico), áp dụng cho Bolivia và Ecuador; GTZ (2007) ban hành cẩm nang ValueLinks về phát triển chuỗi giá trị gắn với sinh kế người nghèo; Da Silva và De Sousa Filho (2007) hướng dẫn đánh giá nhanh chuỗi nông sản ở các nước đang phát triển; GTZ (2009) cung cấp công cụ gia tăng giá trị cho sản xuất nông nghiệp; Zschocke (2006) phát triển phương pháp cùng tham gia trong tiếp cận chuỗi thị trường (PMCA).
- Hướng nghiên cứu chuỗi ngành hàng cụ thể: FAO (2004) nghiên cứu chuỗi giá trị quả xoài ở Kenya; Hosni và Lancon (2011) nghiên cứu chuỗi giá trị táo Syria xuất khẩu; Gooch và cộng sự (2009) đánh giá quản lý chất lượng hoa quả tại Ontario (Canada); UNIDO (2009) phân tích chuỗi giá trị nông nghiệp tại Nicaragua, Ethiopia, Ai Cập và Morocco; ADB (2005) và FAO (2008) nghiên cứu tính bền vững của chuỗi khoai tây; Eaton và Shepherd (2001) nghiên cứu chuỗi giá trị ngành chè tại Kenya và cacao tại Indonesia.
- Hướng nghiên cứu về quản lý và vận hành chuỗi: Gereffi và Sturgeon (2005) nghiên cứu quản lý chuỗi giá trị toàn cầu; Van der Vorst (2000, 2006) nghiên cứu quản lý chuỗi cung ứng môi trường qua đánh giá vòng đời; Chopra Sunil và Peter Meindl (2001) phân tích chiến lược, kế hoạch và vận hành chuỗi cung ứng; dự án M4P (2008) phân tích chuỗi giá trị vì người nghèo tại Lào và Campuchia.
- Các nghiên cứu về chuỗi giá trị trong nước:
- Nghiên cứu chuỗi tầm vĩ mô và hội nhập: Phạm Xuân Thành (2016) đánh giá tác động của các hiệp định thương mại tự do tiêu chuẩn cao (EVFTA, TPP) đến chuỗi nông sản xuất khẩu vùng Đông Nam Bộ; Nguyễn Văn Huân (2011) nghiên cứu liên kết chuỗi từ sản xuất đến chế biến nông sản; Nguyễn Thị Nhiễu (2010) nghiên cứu chuỗi mặt hàng điện tử; Đinh Xuân Thành (2010) và Hoàng Thị Vân Anh (2009) phân tích năng lực tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của nông sản và cà phê; Chu Tiến Quang (2008) nghiên cứu chuỗi nông sản toàn cầu; Trần Tiến Khải (2013) phân tích chuỗi giá trị và hệ thống bán lẻ hiện đại.
- Nghiên cứu chuỗi ngành hàng cụ thể: Trần Công Thắng (2015) nghiên cứu chuỗi lúa gạo và thịt lợn; Phạm Thị Thùy Linh (2015) nghiên cứu chuỗi cá cơm Tây Nam Bộ; Phạm Văn Vinh (2014) khảo sát thu nhập hộ nuôi bò tại Cao Bằng; Tạ Quốc Tuấn (2013) nghiên cứu chuỗi điều và hồ tiêu Bình Phước; Lê Thanh Loan, Đặng Hải Phương và Võ Hùng (2006) phân tích chuỗi cung ứng hạt điều tại Đắk Nông và Bình Phước; Trần Công Thắng và cộng sự (2004) nghiên cứu chuỗi ngành chè tại Thái Nguyên và Phú Thọ; Hoàng Văn Việt (2014) phân tích tài chính chuỗi bưởi da xanh Bến Tre.
- Các nghiên cứu về cây dược liệu và chuỗi giá trị dược liệu:
- Nghiên cứu dược liệu quốc tế: Niharika Sahoo và cộng sự (2010), Bensky và Gamble (1993), Nazma Inamdar và cộng sự (2008) điểm lại các dược điển cổ truyền (Charak Samhita, Sushruta Samhita); tài liệu Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cùng các công trình của Rates (2001), Mukherjee (2004), Burstein (1999), Strader (2002), Kassler (1991), Blanc (2001), Rao (1999) về tỷ lệ sử dụng thuốc có nguồn gốc thực vật; Tanya Chhabra (2018) nghiên cứu định lượng sử dụng cây thuốc tại vùng dãy Koh-e-Safaid (Pakistan - Afghanistan); Shinwari (2009) đánh giá thực trạng thương mại và nguy cơ cạn kiệt dược liệu tại Pakistan.
- Nghiên cứu dược liệu trong nước: Nguyễn Mạnh Hùng (2010) nghiên cứu bảo tồn dược liệu tại Bắc Giang; Nguyễn Đức Thắng (2010) bảo tồn 80 loài và 893 cá thể dược liệu vùng Bảy Núi (An Giang); Vũ Tuấn Minh (2009) phân tích thực trạng sử dụng cây thuốc; Nguyễn Thị Phương Mai (2005) nghiên cứu bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với tri thức truyền thống về cây thuốc; Nguyễn Bá Hoạt (2003) điều tra 832 loài cây thuốc tại Quảng Nam và ghi nhận sự phân bố của loài Ba kích (Morinda officinalis How); Hoàng Thị Lệ (1999) ứng dụng cấy mô cây kim tuyến và chè đắng tại Cao Bằng; Nguyễn Huy Văn (2010) đề xuất mô hình liên kết bốn nhà của Công ty Traphaco.
- Nghiên cứu chuỗi giá trị dược liệu: Mebrahtu Hishe và cộng sự (2016) đánh giá chuỗi cây thuốc tại Ethiopia; Gesunde Pflanzen (2015) phân tích chuỗi dược liệu và cây thơm tại Albania; Umesh (2010) nghiên cứu thị trường dược liệu tại Kerala (Ấn Độ); Belt (2009) nghiên cứu chuỗi cây thuốc Kutki (Picrorhiza kurrooa) tại Bắc Ấn Độ; Ngô Văn Nam (2010) nghiên cứu chuỗi cây thuốc tắm tại Sa Pa (Lào Cai); Huỳnh Bảo Tuân, Hồ Phượng Hoàng, Trần Thị Cảm, Nguyễn Ngọc Kiều Chinh (2013) nghiên cứu chuỗi Diệp hạ châu tại Phú Yên; Nguyễn Thị Hương (2015) nghiên cứu sản xuất Ba kích tím tại Ba Chẽ (Quảng Ninh).
Khoảng trống nghiên cứu được xác định: Các nghiên cứu nước ngoài chủ yếu tập trung vào mô tả cấu trúc chuỗi hoặc bảo tồn nguồn tài nguyên hoang dã. Tại Việt Nam, số lượng công trình nghiên cứu về chuỗi giá trị dược liệu còn hạn chế, phần lớn tập trung vào khía cạnh nông học, dược học hoặc mô tả chuỗi nông sản thông thường. Chưa có công trình nào đánh giá có hệ thống và toàn diện về mặt kinh tế đối với chuỗi giá trị cây dược liệu, đặc biệt là việc lượng hóa chi phí, giá trị gia tăng, lợi nhuận của từng tác nhân trong chuỗi Ba kích và Trà hoa vàng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng khung nghiên cứu dựa trên các khái niệm, lý thuyết và hệ thống phương pháp sau:
- Cơ sở lý thuyết và khung khái niệm:
- Khái niệm dược liệu: Dẫn chiếu Khoản 5 Điều 2 Luật Dược số 105/2016/QH13, xác định dược liệu là nguyên liệu làm thuốc có nguồn gốc tự nhiên từ thực vật, động vật, khoáng vật và phải đạt tiêu chuẩn làm thuốc.
- Lý luận về phát triển: Tiếp cận từ phạm trù triết học và kinh tế học phát triển, phân định rõ giữa "tăng trưởng" (biến đổi thuần túy về lượng) và "phát triển" (biến đổi tiến bộ cả về lượng và chất, nâng cao hiệu quả và tính bền vững).
- Lý luận về chuỗi giá trị: Tổng hợp từ lý thuyết chuỗi ngành hàng (filière) của Pháp thập niên 1950, lý thuyết lợi thế cạnh tranh của Michael Porter (1985) và lý thuyết chuỗi giá trị toàn cầu của Raphael Kaplinsky (2001). Luận án phân biệt rõ chuỗi cung ứng (Supply Chain - hệ thống vận chuyển hàng hóa vật chất) và chuỗi giá trị (Value Chain - chuỗi các hoạt động tạo ra và phân phối giá trị gia tăng). Đồng thời, xem xét chuỗi giá trị theo hai cấp độ: nghĩa hẹp (hoạt động nội bộ của một tổ chức) và nghĩa rộng (tổng thể các hoạt động của nhiều tác nhân liên kết từ cung cấp đầu vào, sản xuất, thu gom, chế biến, phân phối đến tiêu dùng).
- Phương pháp tiếp cận và khung phân tích:
- Luận án sử dụng phương pháp tiếp cận hệ thống, tiếp cận chuỗi giá trị và tiếp cận thị trường nhằm theo dõi sự dịch chuyển của sản phẩm dược liệu qua từng công đoạn.
- Kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính (phân tích văn bản chính sách, đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia - PRA, phỏng vấn sâu) và phương pháp nghiên cứu định lượng (khảo sát bảng hỏi, hạch toán chi phí và hiệu quả kinh tế).
- Nguồn dữ liệu và kỹ thuật thu thập:
- Dữ liệu thứ cấp: Báo cáo kinh tế - xã hội, báo cáo phát triển ngành nông nghiệp, số liệu triển khai Chương trình OCOP của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2013 - 2017.
- Dữ liệu sơ cấp: Khảo sát thực địa năm 2017 tại 8 huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Quảng Ninh (các địa phương có diện tích trồng và khai thác tự nhiên). Đối tượng điều tra gồm các tác nhân: hộ trồng dược liệu, thương lái thu mua, cơ sở chế biến, đơn vị bán buôn và đơn vị bán lẻ.
- Phương pháp xử lý số liệu và hệ thống chỉ tiêu phân tích:
- Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, so sánh kinh tế và phân tích ma trận SWOT (Điểm mạnh, Điểm yếu, Cơ hội, Thách thức).
- Hệ thống chỉ tiêu kinh tế tính toán cho một đơn vị sản phẩm của từng tác nhân:
| Nhóm chỉ tiêu |
Tên chỉ tiêu |
Ký hiệu |
Phương pháp xác định |
| Kết quả sản xuất |
Tổng giá trị sản xuất |
$GO$ |
$GO = Q \times P$ (Sản lượng $\times$ Đơn giá bán) |
| Chi phí sản xuất |
Chi phí trung gian |
$IC$ |
Tổng chi phí vật tư, nguyên liệu, dịch vụ mua ngoài |
|
Tổng chi phí |
$TC$ |
$TC = IC + \text{Chi phí lao động} + \text{Chi phí khác}$ |
| Hiệu quả kinh tế |
Giá trị gia tăng |
$VA$ |
$VA = GO - IC$ |
|
Lợi nhuận |
$LN$ |
$LN = GO - TC$ |
|
Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí |
$LN/TC$ |
$(LN / TC) \times 100%$ |
|
Tỷ suất giá trị gia tăng |
$VA/IC$ |
$(VA / IC) \times 100%$ |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu về chuỗi giá trị và chuỗi giá trị dược liệu
Chương này trình bày bức tranh tổng thể về lịch sử nghiên cứu chuỗi giá trị và cây dược liệu trên thế giới và tại Việt Nam. Tác giả phân chia các công trình thành bốn nhóm nội dung chính: (1) Các nghiên cứu phương pháp luận và lý thuyết chuỗi giá trị; (2) Các nghiên cứu chuỗi giá trị ngành hàng nông sản tổng thể và cụ thể; (3) Các nghiên cứu về đặc tính, công dụng, bảo tồn cây dược liệu; (4) Các nghiên cứu về chuỗi giá trị dược liệu.
Chương 1 chỉ ra rằng việc sử dụng dược liệu có nguồn gốc tự nhiên đang là xu hướng phổ biến trên thế giới (với khoảng 25% các loại thuốc hiện nay có nguồn gốc thực vật theo số liệu của WHO). Các nghiên cứu quốc tế về chuỗi dược liệu tại Ethiopia, Albania, Ấn Độ cho thấy chuỗi cung ứng dược liệu thường dài, qua nhiều khâu trung gian, liên kết dọc lỏng lẻo và hầu như thiếu liên kết ngang. Tại Việt Nam, ngoài các nghiên cứu về chuỗi giá trị nông sản (lúa gạo, thịt lợn, chè, bưởi da xanh, hạt điều), nghiên cứu về chuỗi dược liệu mới chỉ có một số khảo sát đơn lẻ đối với cây thuốc tắm tại Sa Pa và Diệp hạ châu tại Phú Yên. Từ việc tổng hợp này, chương 1 xác lập khoảng trống khoa học về việc phân tích kinh tế chuỗi giá trị cây Ba kích và Trà hoa vàng tại tỉnh Quảng Ninh.
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển chuỗi giá trị dược liệu
Chương 2 làm rõ các khái niệm nền tảng về dược liệu theo Luật Dược 2016, phân tích vai trò của dược liệu trong nền y học cổ truyền và công nghiệp dược hiện đại. Tác giả phân tích lý luận về phát triển chuỗi giá trị, phân biệt chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị, mô tả các phân đoạn chức năng gồm: cung cấp đầu vào, sản xuất, chuyển đổi/chế biến, tiếp thị/phân phối và tiêu dùng cuối cùng.
Chương này phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của chuỗi giá trị dược liệu, bao gồm: điều kiện tự nhiên (đất đai, khí hậu, thổ nhưỡng), điều kiện kinh tế - xã hội (lao động, vốn, thị trường), yếu tố khoa học công nghệ (giống, quy trình canh tác, công nghệ chiết xuất/chế biến) và chính sách quản lý nhà nước. Về mặt thực tiễn, chương 2 tổng kết kinh nghiệm phát triển chuỗi dược liệu của một số địa phương trong nước (như mô hình liên kết bốn nhà của Traphaco, kinh nghiệm bảo tồn và phát triển dược liệu tại Lào Cai, An Giang) và rút ra các bài học vận dụng cho tỉnh Quảng Ninh về quy hoạch vùng nguyên liệu, kiểm soát chất lượng và tổ chức các mối liên kết.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 thiết kế quy trình nghiên cứu logic, làm rõ câu hỏi nghiên cứu, khung phân tích và các công cụ thu thập, xử lý dữ liệu. Luận án xác định đối tượng khảo sát tại 8 huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Quảng Ninh có thế mạnh về dược liệu. Quy trình thu thập số liệu thứ cấp được thực hiện cho giai đoạn 2013 - 2017, số liệu sơ cấp được điều tra qua bảng hỏi vào năm 2017 kết hợp phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA).
Chương 3 thiết lập công thức tính toán cụ thể cho từng chỉ tiêu tài chính: Tổng giá trị sản xuất ($GO$), Chi phí trung gian ($IC$), Tổng chi phí ($TC$), Giá trị gia tăng ($VA$), Lợi nhuận ($LN$), tỷ suất $LN/TC$ và $VA/IC$ cho từng tác nhân trong chuỗi. Chương này cũng trình bày mô hình ma trận SWOT để làm công cụ tổng hợp, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nâng cấp chuỗi giá trị.
Chương 4: Thực trạng phát triển chuỗi giá trị cây dược liệu tỉnh Quảng Ninh
Chương 4 là chương thực nghiệm trọng tâm của luận án, trình bày điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2013 - 2017, phân tích vị trí, vai trò của ngành sản xuất dược liệu và đánh giá thực trạng chuỗi giá trị đối với hai loại cây chủ lực:
-
Thực trạng sản xuất và tổ chức chuỗi dược liệu:
Giai đoạn 2013 - 2017, sản xuất dược liệu tại Quảng Ninh gắn liền với việc triển khai Chương trình OCOP của tỉnh. Hoạt động trồng trọt và khai thác tự nhiên phân bổ tại nhiều địa phương, tuy nhiên khâu chế biến còn đơn giản, chủ yếu là phơi sấy thủ công; các kênh tiêu thụ sản phẩm qua nhiều khâu trung gian khiến thị trường thiếu ổn định và người sản xuất trực tiếp chịu nhiều thiệt thòi.
-
Phân tích chuỗi giá trị cây Ba kích:
Luận án mô tả các kênh phân phối và các tác nhân tham gia chuỗi giá trị Ba kích:
| STT |
Tác nhân trong chuỗi Ba kích |
Hoạt động chức năng chính |
Dòng sản phẩm đầu ra |
| 1 |
Người trồng Ba kích |
Trồng trọt, chăm sóc chu kỳ 5 năm, thu hoạch |
Củ Ba kích tươi |
| 2 |
Người thu mua |
Thu gom từ hộ dân, vận chuyển, phân loại |
Củ Ba kích tươi phân loại |
| 3 |
Người chế biến sơ cấp |
Rửa sạch, rút lõi, sấy hoặc phơi khô |
Ba kích khô |
| 4 |
Người chế biến thứ cấp |
Chiết xuất, ngâm ủ, nấu cô đặc |
Rượu Ba kích, Cao Ba kích |
| 5 |
Người bán buôn |
Mua sỉ số lượng lớn, phân phối lại |
Ba kích khô, Rượu và Cao Ba kích |
| 6 |
Người bán lẻ |
Bán lẻ đến người tiêu dùng cuối cùng |
Sản phẩm hoàn thiện các loại |
Kết quả tính toán chi phí trồng Ba kích cho 1 ha trong chu kỳ 5 năm và so sánh hiệu quả giữa các tác nhân cho thấy: Người trồng Ba kích chịu chu kỳ đầu tư dài (5 năm), chịu nhiều rủi ro về vốn và kỹ thuật nhưng tỷ suất lợi nhuận nhận được thấp hơn đáng kể so với các khâu chế biến sâu (sản xuất Rượu Ba kích và Cao Ba kích) và khâu thương mại bán buôn, bán lẻ.
- Phân tích chuỗi giá trị cây Trà hoa vàng:
Luận án phân tích cấu trúc chuỗi Trà hoa vàng với các tác nhân:
| STT |
Tác nhân trong chuỗi Trà hoa vàng |
Hoạt động chức năng chính |
Dòng sản phẩm đầu ra |
| 1 |
Người trồng Trà hoa vàng |
Nhân giống, trồng, chăm sóc, thu hái hoa tươi |
Hoa và búp Trà hoa vàng tươi |
| 2 |
Người thu mua |
Thu gom hoa tươi tại vườn |
Hoa tươi gom lô |
| 3 |
Người chế biến |
Sấy khô (sấy nhiệt/sấy thăng hoa), đóng hộp |
Trà hoa vàng khô thương phẩm |
| 4 |
Người bán buôn |
Phân phối số lượng lớn cho đại lý/cửa hàng |
Trà hoa vàng khô đóng hộp |
| 5 |
Người bán lẻ |
Cung ứng trực tiếp tại điểm bán OCOP, bán lẻ |
Hộp Trà hoa vàng thành phẩm |
Phân tích hiệu quả kinh tế chỉ ra rằng khâu chế biến hoa tươi thành hoa khô đóng hộp tạo ra giá trị gia tăng rất lớn do giá bán Trà hoa vàng khô trên thị trường ở mức cao, trong khi người thu mua và người bán lẻ thu được mức lợi nhuận biên ổn định.
- Phân tích SWOT chuỗi dược liệu tỉnh Quảng Ninh:
- Điểm mạnh (S): Khí hậu và thổ nhưỡng phù hợp cho nhiều loài dược liệu đặc hữu; có chủ trương hỗ trợ từ Chương trình OCOP của tỉnh; người dân có kinh nghiệm canh tác truyền thống.
- Điểm yếu (W): Sản xuất manh mún, quy mô nông hộ nhỏ lẻ; thiếu nguồn giống chuẩn hóa; công nghệ sơ chế, bảo quản sau thu hoạch còn hạn chế; liên kết dọc và liên kết ngang còn yếu, hợp đồng dễ bị phá vỡ.
- Cơ hội (O): Nhu cầu sử dụng dược liệu và sản phẩm bảo vệ sức khỏe thiên nhiên ngày càng tăng; chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển y dược cổ truyền; định hướng chuyển đổi mô hình kinh tế của tỉnh sang tăng trưởng xanh.
- Thách thức (T): Cạnh tranh gay gắt từ dược liệu nhập khẩu không rõ nguồn gốc; suy giảm diện tích dược liệu tự nhiên do khai thác quá mức; biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến năng suất cây trồng.
Chương 5: Giải pháp phát triển chuỗi giá trị cây dược liệu tỉnh Quảng Ninh đến năm 2025
Chương 5 xây dựng hệ thống quan điểm, mục tiêu và ba nhóm giải pháp trọng tâm nhằm phát triển chuỗi giá trị dược liệu tỉnh Quảng Ninh đến năm 2025:
- Quan điểm và mục tiêu phát triển:
- Quan điểm: Phát triển chuỗi giá trị dược liệu gắn liền với Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Quảng Ninh; kết hợp bảo tồn nguồn gen với phát triển vùng nguyên liệu tập trung; phát triển chuỗi sản phẩm theo cả chiều rộng (mở rộng diện tích) và chiều sâu (chế biến tinh, nâng cấp chuỗi); gắn phát triển dược liệu với Chương trình OCOP và du lịch sinh thái.
- Mục tiêu đến năm 2025: Xây dựng vùng nguyên liệu tập trung đạt tiêu chuẩn, nâng cao chất lượng sản phẩm dược liệu thô, hình thành các chuỗi liên kết sản xuất - chế biến - tiêu thụ khép kín, nâng cao tỷ trọng giá trị gia tăng giữ lại cho người nông dân tại địa phương.
- Các nhóm giải pháp chủ yếu:
- Nhóm 1: Phát triển sản xuất nguồn nguyên liệu và nâng cao chất lượng sản phẩm thô: Tổ chức quy hoạch vùng trồng tập trung cho Ba kích, Trà hoa vàng và các loài dược liệu tiềm năng; tuyển chọn và cung ứng giống đảm bảo chất lượng; chuyển giao quy trình kỹ thuật canh tác, thu hái bền vững cho người dân nhằm bảo tồn nguồn gen tự nhiên.
- Nhóm 2: Xây dựng và phát triển chuỗi sản phẩm đối với một số dược liệu tiềm năng: Tập trung hoàn thiện chuỗi sản phẩm đối với Ba kích và Trà hoa vàng; đa dạng hóa sản phẩm chế biến (rượu, cao, trà túi lọc, dịch chiết); xây dựng tiêu chuẩn chất lượng và nhãn hiệu sản phẩm gắn với chương trình OCOP.
- Nhóm 3: Nâng cấp chuỗi giá trị cây dược liệu tỉnh Quảng Ninh:
- Nâng cấp quy trình: Đổi mới công nghệ sơ chế, sấy, bảo quản và chiết xuất nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch và nâng cao hoạt chất dược liệu.
- Nâng cấp sản phẩm: Đăng ký nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, hoàn thiện quy cách bao bì, mã số truy xuất nguồn gốc sản phẩm.
- Nâng cấp chức năng: Khuyến khích các hộ trồng tham gia vào các tổ hợp tác, hợp tác xã để thực hiện khâu sơ chế và đàm phán thương mại trực tiếp với doanh nghiệp.
- Nâng cấp liên kết: Củng cố liên kết dọc giữa doanh nghiệp chế biến và người trồng thông qua hợp đồng tiêu thụ có ràng buộc trách nhiệm; phát triển liên kết ngang giữa các hộ sản xuất nhằm giảm chi phí đầu vào và ổn định sản lượng cung ứng.
Kết quả và những đóng góp mới
- Đóng góp về mặt lý luận:
- Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về chuỗi giá trị và phát triển chuỗi giá trị áp dụng cho ngành hàng cây dược liệu, làm rõ các phân đoạn chức năng từ đầu vào, sản xuất, chế biến, phân phối đến tiêu thụ.
- Đưa ra quan điểm phát triển chuỗi giá trị dược liệu theo cả chiều rộng (mở rộng quy mô diện tích, vùng trồng tập trung) và chiều sâu (nâng cấp quy trình, đa dạng hóa sản phẩm chế biến tinh, củng cố các mối liên kết dọc và ngang).
- Đóng góp về mặt thực tiễn:
- Phân tích chi tiết cấu trúc, các kênh tiêu thụ và thực trạng vận hành của chuỗi giá trị cây dược liệu trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2013 - 2017.
- Lượng hóa và so sánh cụ thể chi phí, doanh thu, lợi nhuận, giá trị gia tăng của từng tác nhân tham gia chuỗi đối với hai loại dược liệu trọng yếu là Ba kích và Trà hoa vàng. Kết quả chỉ ra sự bất hợp lý trong phân chia lợi nhuận khi người trồng chịu chi phí đầu tư dài hạn và rủi ro cao nhưng hưởng tỷ suất lợi nhuận thấp hơn các khâu chế biến và thương mại.
- Đề xuất hệ thống giải pháp và các hình thức nâng cấp chuỗi giá trị dược liệu tỉnh Quảng Ninh đến năm 2025 có tính ứng dụng thực tế.
- Đóng góp về mặt phương pháp:
- Luận án kết hợp đồng bộ giữa phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, sử dụng khung phân tích chuỗi giá trị kết hợp với hệ thống chỉ tiêu hạch toán tài chính vi mô và ma trận SWOT để đánh giá toàn diện chuỗi ngành hàng dược liệu ở cấp địa phương.
- Giá trị đối với địa phương:
- Cung cấp cơ sở khoa học và số liệu thực chứng giúp các nhà hoạch định chính sách tỉnh Quảng Ninh quản lý hiệu quả các chương trình, dự án phát triển nông nghiệp theo chuỗi giá trị, đặc biệt là Chương trình OCOP; góp phần nâng cao thu nhập cho người lao động trực tiếp tại các vùng trồng dược liệu.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của đề tài:
- Về phạm vi nội dung: Do nguồn lực nghiên cứu, luận án mới tập trung phân tích sâu hiệu quả kinh tế chuỗi giá trị của hai loại cây dược liệu chủ lực là Ba kích và Trà hoa vàng, chưa thể đi sâu hạch toán chi tiết cho toàn bộ các loài cây dược liệu khác hiện có tại Quảng Ninh (như Hồi, Quế, Trầu một lá, Bình vôi, Kim ngân hoa...).
- Về phạm vi không gian và dữ liệu: Số liệu sơ cấp được thu thập tại thời điểm năm 2017 trên 8 huyện, thị xã, thành phố của tỉnh; các biến động về giá cả vật tư, công nghệ chế biến và thị trường tiêu thụ sau năm 2017 chưa được cập nhật trong dữ liệu khảo sát gốc của luận án.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng phân tích kinh tế chuỗi giá trị đối với các loài cây dược liệu tiềm năng khác trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
- Nghiên cứu sâu hơn về tác động của các tiêu chuẩn thực hành tốt trồng trọt và thu hái cây thuốc (GACP-WHO) và các rào cản thương mại quốc tế đến khả năng xuất khẩu của chuỗi giá trị dược liệu địa phương.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng sau:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế nông nghiệp, Kinh tế phát triển: Tham khảo về phương pháp luận phân tích chuỗi giá trị ngành hàng, khung chỉ tiêu hạch toán kinh tế vi mô và quy trình khảo sát thực địa kết hợp phương pháp PRA.
- Giảng viên và nhà nghiên cứu: Cung cấp nguồn tư liệu học thuật, nghiên cứu trường hợp thực tế (case study) về chuỗi giá trị nông sản và dược liệu phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu chuyên sâu.
- Các nhà hoạch định chính sách, cán bộ quản lý nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ninh: Sử dụng làm căn cứ thực tiễn để quy hoạch vùng nguyên liệu dược liệu, xây dựng chính sách hỗ trợ phát triển sản phẩm OCOP và thúc đẩy liên kết doanh nghiệp - nông dân.
- Doanh nghiệp, hợp tác xã và các hộ trồng dược liệu: Tham khảo cơ cấu chi phí, biên lợi nhuận giữa các công đoạn để định hướng đầu tư công nghệ chế biến sâu, nâng cao chất lượng sản phẩm và tổ chức lại các kênh phân phối.
Câu hỏi thường gặp
-
Luận án tập trung phân tích sâu chuỗi giá trị của những loại cây dược liệu cụ thể nào?
Luận án tập trung phân tích sâu cấu trúc và hiệu quả kinh tế chuỗi giá trị của hai loại cây dược liệu chủ lực tại tỉnh Quảng Ninh là Ba kích và Trà hoa vàng. Đây là hai sản phẩm trọng yếu đã được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt trong danh mục sản phẩm của Chương trình "Mỗi xã, phường một sản phẩm" (OCOP).
-
Các tác nhân chính tham gia trong chuỗi giá trị cây Ba kích tại Quảng Ninh gồm những ai?
Chuỗi giá trị cây Ba kích bao gồm các tác nhân: Người trồng Ba kích (hạch toán chi phí chu kỳ 5 năm), Người thu mua Ba kích tươi, Người chế biến Ba kích tươi thành Ba kích khô, Người chế biến Ba kích tươi thành Rượu và Cao Ba kích, Người bán buôn (Ba kích khô, Rượu và Cao Ba kích) và Người bán lẻ (Ba kích khô, Rượu và Cao Ba kích).
-
Kết quả phân tích chuỗi giá trị chỉ ra sự phân chia lợi nhuận giữa các tác nhân như thế nào?
Kết quả phân tích cho thấy các khâu chế biến sâu (sản xuất Rượu Ba kích, Cao Ba kích, đóng hộp Trà hoa vàng khô) và khâu thương mại tạo ra giá trị gia tăng và thu được tỷ suất lợi nhuận cao hơn; trong khi người trồng trực tiếp chịu chu kỳ đầu tư dài ngày, chi phí vốn và rủi ro lớn nhưng nhận tỷ trọng lợi nhuận chưa tương xứng.
-
Hạn chế lớn nhất trong liên kết chuỗi dược liệu tại Quảng Ninh giai đoạn 2013 - 2017 là gì?
Hạn chế lớn nhất là mối liên kết dọc còn qua nhiều khâu trung gian, thiếu tính minh bạch và thường xuyên xảy ra tình trạng tranh mua tranh bán, vi phạm hợp đồng cung ứng; đồng thời mối liên kết ngang giữa các hộ nông dân thành tổ hợp tác, hợp tác xã còn lỏng lẻo và thiếu cơ chế ràng buộc chặt chẽ.
-
Luận án đề xuất những nhóm giải pháp chính nào để phát triển chuỗi dược liệu đến năm 2025?
Luận án đề xuất ba nhóm giải pháp trọng tâm: (1) Phát triển sản xuất nguồn nguyên liệu tập trung và nâng cao chất lượng sản phẩm thô; (2) Xây dựng và phát triển chuỗi sản phẩm đối với các dược liệu tiềm năng (Ba kích, Trà hoa vàng); (3) Nâng cấp chuỗi giá trị cây dược liệu thông qua nâng cấp quy trình, nâng cấp sản phẩm, nâng cấp chức năng và củng cố liên kết dọc - ngang.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Trần Trung Vỹ đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển chuỗi giá trị cây dược liệu, đồng thời phân tích thực trạng vận hành chuỗi giá trị tại tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2013 - 2017 với trọng tâm là cây Ba kích và Trà hoa vàng. Công trình đã lượng hóa chi tiết cơ cấu chi phí, lợi nhuận và giá trị gia tăng của từng tác nhân, chỉ ra những điểm nghẽn trong liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Trên cơ sở phân tích ma trận SWOT, luận án đã đề xuất hệ thống giải pháp nâng cấp chuỗi giá trị dược liệu tỉnh Quảng Ninh đến năm 2025, đóng góp cơ sở khoa học phục vụ công tác quản lý kinh tế và thực hiện Chương trình OCOP tại địa phương.