Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Chương 2: Những vấn đề lý luận về pháp luật khắc phục hậu quả thiệt hại ÔNMT biển do dầu từ tàu gây ra Chương 3: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về khắc phục hậu quả thiệt hại ÔNMT biển do dầu từ tàu gây ra Chương 4: Những giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về khắc phục hậu quả thiệt hại ÔNMT biển do dầu từ tàu gây ra hiện nay 6 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Dầu mỏ là nguồn nhiên liệu chủ yếu của thế giới, sau chiến tranh thế giới lần thứ II nguồn dầu mỏ trên thế giới được vận chuyển không ngừng tăng và phần lớn dầu mỏ được vận chuyển bằng đường biển, dẫn đến nguy cơ cao về tràn dầu và thực tế đã xảy ra các vụ tràn dầu lớn như: Torey Canyon năm 1967, Amoco Cadiz năm 1978, Exxon Valdez năm 1989, ABT Summer năm 1991, Sea Empress năm 1996, Prestige năm 2002, Heibe Spirit năm 2007 vv. đã có nhiều nghiên cứu của các học giả nước ngoài về ÔNMT biển, ÔNMT biển do dầu từ tàu gây ra [21]. Ở Việt Nam, ÔNMT biển, ÔNMT biển do dầu không phải là đề tài mới, từ những thập niên cuối của thế kỷ XX đó có nhiều công trình được thực hiện bởi các cơ quan như: Bộ Giao thông vận tải, Bộ Tài nguyên Môi trường, Viện Tài nguyên Môi trường biển, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Trung tâm luật Biển - Đại học Quốc gia Hà Nội… Trên cơ sở nghiên cứu, tiếp cận các tài liệu, sách, báo, bài viết của các học giả trong và ngoài nước liên quan đến đề tài nghiên cứu, tổng quan tình hình nghiên cứu những vấn đề liên quan đến nội dung đề tài luận án được chia thành các nhóm vấn đề tiếp cận và các công trình tiêu biểu sau: 1.
Về khái niệm môi trường biển, ô nhiễm môi trường biển, ô nhiễm môi trường biển do dầu, ô nhiễm môi trường biển do dầu từ tàu gây ra Khái niệm môi trường biển, ÔNMT biển, ÔNMT biển do dầu, ÔNMT biển do dầu từ tàu gây ra đã được phân tích, nghiên cứu trong một số tài liệu, văn kiện, luận văn, luận án và công trình nghiên cứu khác dưới góc độ khoa học và pháp lý, tuy nhiên, dưới các góc độ và lăng kính tiếp cận khác nhau, một số khái niệm vẫn còn nhiều tranh cãi, đây chính là cơ sở để luận án tiếp tục tìm hiểu và phân tích chặt chẽ hơn các khái niệm, từ đó phát triển và bổ sung thêm theo hướng nghiên cứu và hoàn thiện dưới góc độ luật học. 7 - Sau những năm 1960, với sự quan tâm nhiều hơn của cộng đồng thế giới đến bảo vệ môi trường, thuật ngữ “môi trường biển” dần xuất hiện. Lần đầu tiên, thuật ngữ này được nêu tại Chương 17 Agenda 21 của Hội nghị Thượng đỉnh trái đất về bảo vệ môi trường họp tại Rio De Janerio năm 1992. Tuy nhiên, theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu, định nghĩa này vẫn chưa mô tả hết các yếu tố cấu thành của môi trường biển.
Tác giả Nguyễn Hồng Thao trong cuốn “Bảo vệ môi trường biển - Vấn đề và giải pháp” [27] cho rằng: môi trường biển bao gồm không chỉ các vùng biển với các đặc trưng lý hóa của chúng mà còn bao gồm cả nguồn tài nguyên sinh vật và tài nguyên phi sinh vật. Nói đến môi trường biển là nói đến “toàn bộ vùng nước biển của trái đất với tất cả những gì chứa đựng trong nó”. Tác giả Lưu Ngọc Tố Tâm trong luận án tiến sỹ “Pháp luật về kiểm soát ÔNMT biển trong hoạt động hàng hải” [20] nhấn mạnh định nghĩa về môi trường biển tại Chương 17 Agenda 21 mới chỉ ra được giới hạn chiều ngang của môi trường biển (đại dương, biển cả, vùng ven biển), trong khi môi trường biển ngoài giới hạn về chiều ngang còn được giới hạn bởi chiều sâu của nó (bao gồm cả vùng đất dưới đáy biển)… Đây là cơ sở lý luận mà luận án có thể tham khảo để tiếp tục nghiên cứu đưa ra khái niệm hoàn chỉnh về “môi trường biển”. Từ góc độ khoa học, khái niệm ÔNMT biển lần đầu tiên được đưa ra vào năm 1981 bởi Nhóm chuyên gia về các khía cạnh khoa học của ÔNMT biển (Joint Group of Expert on the Scientific Aspects of Marine Pollution – GESAMP).
Tiếp đến vào năm 2003, Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững đối với các đại dương và các vùng ven biển, trong khuôn khổ chương trình hợp tác khu vực các biển Đông Á, gọi tắt là PEMSEA do Tổ chức Hàng hải quốc tế - IMO làm đầu mối cũng đã thống nhất và đưa ra khái niệm ÔNMT biển trong tuyên bố Putrajaya. Từ góc độ pháp luật quốc tế, thuật ngữ ÔNMT biển được đề cập chính thức tại Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (Khoản 4, Điều 1 Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982). Tác giả Lưu Ngọc Tố Tâm trong luận án tiến sỹ “Pháp luật kiểm soát ÔNMT biển trong hoạt động hàng hải ở Việt Nam” [20] nhận định mặc dù được cho là có bước phát triển lớn về mặt học thuật và quan điểm lập pháp, song các định nghĩa về ÔNMT biển trong cả ba (03) tài liệu nói trên hiện vẫn đang nhận được nhiều tranh luận. 8 - ÔNMT biển do dầu - nguyên nhân, tác động và giải pháp khắc phục - đây là một chủ đề được quan tâm nghiên cứu ở nhiều đề tài khoa học cấp Bộ và các công trình, tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước.
Tác giả Nguyễn Đình Dương (2010) [24] với đề tài “Ô nhiễm dầu trên vùng biển Việt Nam và Biển Đông” đã chỉ ra 6 nguồn ÔNMT biển do dầu: (1) ô nhiễm dầu tự nhiên; (2) ô nhiễm do các hoạt động thăm dò, khai thác và chế biến dầu khí; (3) ô nhiễm do các hoạt động giao thông vận tải biển; (4) ô nhiễm từ các tàu bị đánh đắm trong chiến tranh thế giới thứ hai; (5) ô nhiễm do hoạt động kinh tế, xã hội ven biển; (6) ô nhiễm dầu không rõ nguồn gốc. Đồng thời, tác giả cũng đưa ra quy trình dự báo về độ loang rộng của sự cố ô nhiễm dầu để phục vụ cho công tác xử lý ô nhiễm và giảm thiểu ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, phát triển kinh tế xã hội. Liên quan đến phương án ứng cứu SCTD, tác giả Phùng Chí Sỹ (2005) trong đề tài “Nghiên cứu đề xuất các biện pháp phòng ngừa và phương án ứng cứu SCTD mức I tại Thành phố Đà Nẵng” dựa trên phân loại SCTD theo 3 mức: Mức I (dưới 100 tấn), mức II (100 - 2000 tấn), mức III (trên 2000 tấn), từ đó xây dựng kế hoạch cụ thể phòng ngừa cũng như phản ứng kịp thời khi có SCTD xảy ra. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu và chia sẻ cơ sở dữ liệu có ý nghĩa quan trọng trong công tác phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị để thực hiện các mục tiêu như nâng cao chất lượng quản lý, hiệu quả công tác tìm kiếm cứu nạn cũng như theo dõi, quan trắc môi trường; đồng thời đưa ra các phương pháp lượng giá thiệt hại kinh tế các giá trị sinh thái môi trường do ảnh hưởng của ô nhiễm dầu tràn, đó là các phương pháp đo lường thiệt hại đối với giá trị sử dụng trực tiếp, giá trị sử dụng gián tiếp, giá trị phi sử dụng của tài nguyên, môi trường là các vấn đề cập đến trong đề tài “Phương pháp luận xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ nghiên cứu ô nhiễm dầu trên biển” của tác giả Nguyễn Kim Anh và luận văn thạc sỹ về “Lượng giá thiệt hại kinh tế tài nguyên, môi trường các hệ sinh thái biển do sự cố dầu tràn, đề xuất biện pháp trước mắt và lâu dài để phục hồi môi trường các khu vực bị ô nhiễm” của tác giả Nguyễn Thị Vĩnh Hà, năm 2005.
Tác động của các vụ tràn dầu đối với hệ sinh thái được tác giả Hoeberechts nghiên cứu năm 2006 với đề tài “oil spills in New Zealand’s Teritorial Sea at Fence at the Top of the Cliff” [67]. Trong nghiên cứu này, tác giả đánh giá những tác 9 động của các vụ tràn dầu đối với hệ sinh thái biển, các loài chim, động vật có vú, bãi cát, rặng san hô và môi trường cảnh quan tại Niu Di lân. Tác giả Clotilde Armand (1997) với đề tài “Damage assessment and liability compensation for marine oil spills: short and long term strategies that achieve international consensus” [65] đã phân tích tác hại dầu tràn xét từ góc độ kinh tế tới các công ty dầu mỏ, các nhà máy đóng tàu, các công ty bảo hiểm và người dân ven biển… Các tài liệu trên cũng được nghiên cứu, kế thừa để làm rõ thêm cơ sở lý luận về đặc trưng và tác động của ÔNMT biển do dầu, lượng giá thiệt hại khi có ô nhiễm xảy ra, tiêu chí xây dựng kế hoạch ứng phó SCTD… Tuy nhiên, do giới hạn phạm vi nghiên cứu, các công trình này mới chỉ đề cập đến ÔNMT biển do dầu nói chung, chưa tiếp cận, phân tích ở góc độ hẹp là ÔNMT biển do dầu từ tàu gây ra (dầu thải ra từ các hoạt động của tàu hay do các SCTD do tai nạn, đâm va tàu biển. Bên cạnh đó, các công trình này chủ yếu phân tích ở góc độ khoa học - kỹ thuật và môi trường.
- ÔNMT biển do dầu từ tàu gây ra: ÔNMT biển do dầu từ tàu gây ra được hiểu từ chính hoạt động của bản thân con tàu như thải ra những chất gây ÔNMT biển do việc làm sạch các hầm hàng có chứa cặn dầu hay tháo nước dằn tàu (ballast có chứa cặn dầu…) hay do các sự cố như tai nạn đâm va, chìm đắm làm chìm toàn bộ hoặc một khối lượng lớn dầu ra biển.