phần Mở đầu, Kết luận chung, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận án được bố cục thành bốn chương, cụ thể: Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến Luận án; Chương 2: Một số vấn đề lý luận cơ bản về cam kết quốc tế và thực hiện cam kết quốc tế về bảo vệ môi trường biển do nguồn ô nhiễm từ đất liền; Chương 3: Nội dung các cam kết quốc tế về bảo vệ môi trường biển do nguồn ô nhiễm từ đất liền và thực trạng thực hiện ở Việt Nam; Chương 4: Định hướng và giải pháp thực hiện hiệu quả các cam kết quốc tế của Việt Nam về bảo vệ môi trường biển do nguồn ô nhiễm từ đất liền. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. ĐÁNH GIÁ NHỮNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. Đánh giá những kết quả nghiên cứu về định nghĩa, đặc điểm của cam kết quốc tế về bảo vệ môi trường biển do nguồn ô nhiễm từ đất liền a) Khái niệm bảo vệ môi trường biển UNCLOS đã đưa ra khái niệm về ô nhiễm môi trường biển, theo đó “Ô nhiễm môi trường biển là việc con người trực tiếp hoặc gián tiếp đưa các chất liệu hoặc năng lượng vào môi trường biển, bao gồm cả các cửa sông, khi việc đó gây ra hoặc có thể gây ra những tác hại như gây tổn hại đến nguồn lợi sinh vật, và đến hệ động vật và hệ thực vật biển, gây nguy hiểm cho sức khỏe con người, gây trở ngại cho các hoạt động ở biển, kể cả việc đánh bắt hải sản và các việc sử dụng biển một cách hợp pháp khác, làm biến đổi chất lượng nước biển về phương diện sử dụng nó và làm giảm sút các giá trị mỹ cảm của biển”.18 Khái niệm này đã được một số công trình nghiên cứu khẳng định lại và có sự phát triển thêm.
Luận án tiến sĩ “Protecting the marine environment from land-based sources of marine pollution: towards effective cooperative international arrangement” của tác giả Daud Hassan19 xác định “Ô nhiễm là sự đưa vào môi trường các chất hoặc năng lượng do hoạt động của con người làm thay đổi trạng thái và/hoặc chức năng của môi trường và làm suy giảm tính hữu ích của môi trường đối với các hoạt động và lợi ích của con người”. Luận án cũng nhận định khái niệm này chủ yếu đề cập đến quá trình mà theo đó nguồn tài nguyên (tự nhiên hoặc con người tạo ra) được sử dụng nhưng sự hoàn trả không phù hợp gây bất lợi cho các yếu tố vật lý, hóa học hoặc sinh học của môi trường. Điều này liên quan đến các tác hại hoặc thiệt hại gây ra bởi các chất hoặc năng lượng được đưa vào môi trường. Đồng thời, Luận án này cũng dẫn chứng định nghĩa về “ô nhiễm môi trường biển” được quy định tại UNCLOS và khẳng định định nghĩa trong UNCLOS là khá đầy đủ và toàn diện.
Ở trong nước, Giáo trình Luật Môi trường do GS. Lê Hồng Hạnh & PGS. 18 Daud Hassan (2002), Luận án tiến sĩ “Protecting the marine environment from land-based sources of 19 marine pollution: towards effective cooperative international arrangement”. 10 “Ô nhiễm môi trường là khái niệm được nhiều ngành khoa học định nghĩa.
Dưới góc độ sinh học, khái niệm này chỉ tình trạng của môi trường trong đó, chỉ số hoá học, lí học của nó bị thay đổi theo chiều hướng xấu đi. Dưới góc độ kinh tế học, ô nhiễm môi trường là sự thay đổi không có lợi cho môi trường sống về các tính chất vật lí, hoá học, sinh học mà qua đó có thể gây tác hại tức thời hoặc lâu dài đến sức khoẻ của con người, các loài động thực vật và các điều kiện sống khác. Dưới góc độ pháp lý “ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật” (Khoản 8 Điều 3 Luật bảo vệ môi trường năm 2014). Có thể thấy điểm chung nhất giữa các định nghĩa nêu trên về ô nhiễm môi trường là chúng đều đề cập sự biến đổi của các thành phần môi trường theo chiều hướng xấu, gây bất lợi cho con người và sinh vật”.20 Giáo trình Luật Quốc tế về môi trường do Nguyễn Hồng Thao và Nguyễn Thị Xuân Sơn đồng chủ biên, cũng khẳng định sự tiến bộ về định nghĩa về ô nhiễm môi trường biển trong UNCLOS.21 Giáo trình Luật Biển quốc tế do Nguyễn Thị Kim Ngân và Nguyễn Toàn Thắng chủ biên đã nhắc lại định nghĩa về “ô nhiễm môi trường biển” trong UNCLOS và đưa ra định nghĩa về “bảo vệ môi trường biển là hoạt động của chủ thể Luật quốc tế trên cơ sở các nguyên tắc và quy phạm Luật quốc tế thông qua phương thức riêng lẻ hoặc tập thể, sử dụng các công cụ, biện pháp để bảo tồn và phát triển các tài nguyên sinh vật và phi sinh vật, hệ sinh thái, bảo vệ cảnh quang và chất lượng nước khỏi các nguồn ô nhiễm môi trường biển do con người trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra nhằm mục đích phát triển bền vững vì lợi ích của mỗi quốc gia, khu vực và cộng đồng quốc tế”.22 Hai cuốn sách của tác giả Nguyễn Hồng Thao, có tiêu đề “Bảo vệ môi trường biển: Vấn đề và Giải pháp”23 và “Ô nhiễm môi trường biển Việt Nam: Luật pháp và thực tiễn”24, đã phân tích một số định nghĩa về ô nhiễm môi trường biển, trong đó nhấn mạnh đến định nghĩa trong UNCLOS, đồng thời cũng đưa ra định nghĩa về 20 GS.
Lê Hồng Hạnh & PGS. Vũ Thu Hạnh (đồng chủ biên) (2017), Giáo trình Luật Môi trường. Nxb CAND, trang 63. 21 Nguyễn Hồng Thao và Nguyễn Thị Xuân Sơn (đồng chủ biên) (2020), Giáo trình Luật Quốc tế về môi trường, Nxb ĐHQG.
22 Nguyễn Thị Kim Ngân và Nguyễn Toàn Thắng (đồng chủ biên) (2019), Giáo trình Luật Biển quốc tế, Nxb Tư Pháp, Hà Nội. 23 Nguyễn Hồng Thao (2004), Bảo vệ môi trường biển: Vấn đề và Giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia. 24 Nguyễn Hồng Thao (2003), Ô nhiễm môi trường biển Việt Nam: Luật pháp và thực tiễn, Nxb Chính trị Quốc gia. 11 “bảo vệ môi trường biển là việc ngăn chặn ảnh hưởng tiêu cực của các hoạt động của con người và của tự nhiên đến môi trường biển, làm ô nhiễm va suy thoái môi trường biển”.
Luận án tiến sĩ của tác giả Lưu Ngọc Tố Tâm về “Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải ở Việt Nam” đã đưa ra định nghĩa: “ô nhiễm môi trường biển là sự biến đổi thành phần môi trường biển, có nguyên nhân từ những biến đổi bất thường của tự nhiên/và từ việc con người trực tiếp hoặc gián tiếp đưa các chất liệu và/hoặc năng lượng vào môi trường biển, gây tổn hại đến nguồn lợi sinh vật và đến hệ động vật và hệ thực vật biển, gây nguy hiểm cho sức khoẻ con người, gây trở ngại cho các hoạt động ở biển, kể cả việc đánh bắt hải sản và các việc sử dụng biển một cách hợp pháp khác, làm biến đổi chất lượng nước biển về phương diện sử dụng nó và làm giảm sút các giá trị mĩ cảm của biển”.25 Định nghĩa này đã kế thừa định nghĩa trong UNCLOS và hoàn thiện mở rộng thêm phạm vi nghiên cứu về chủ thể, khách thể và đối tượng của hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường biển. Như vậy, khái niệm “ô nhiễm môi trường biển” và “bảo vệ môi trường biển” cũng được nghiên cứu làm rõ trong một số công trình nghiên cứu ở trong nước và ngoài nước, từ việc khẳng định lại khái niệm trong UNCLOS và có sự hoàn thiện hơn. b) Quan niệm về nguồn ô nhiễm từ đất liền Thuật ngữ “Nguồn ô nhiễm từ đất liền” được sử dụng thường xuyên trong nhiều văn kiện quốc tế và trong cả UNCLOS, tuy nhiên, ít các công trình nghiên cứu đề cập cụ thể về nội hàm của cụm từ “đất liền” và “nguồn ô nhiễm từ đất liền”. Hai cuốn sách của tác giả Nguyễn Hồng Thao với tiêu đề “Bảo vệ môi trường biển: Vấn đề và Giải pháp” và “Ô nhiễm môi trường biển Việt Nam: Luật pháp và thực tiễn” đã nhận định “mặc dù có một số văn kiện gộp các giàn khoan, các công trình thiết bị trên biển vào phạm trù đất liền để xác định nguồn ô nhiễm có nguồn gốc từ đất liền, song theo tinh thần chung của luật quốc tế về môi trường, ô nhiễm có nguồn gốc từ đất liền liên quan đến hoạt động trên cơ sở đất liền, không tính đến các hoạt động xuất phát từ các cơ sở nhân tạo trên biển”.
Đồng thời, hai cuốn sách này cũng đánh giá đến các nguồn gây ô nhiễm môi trường biển từ đất liền nhưng chủ yếu tập trung vào nước thải, rác thải sinh hoạt và chất thải nguy hại, chất thải nông – lâm nghiệp và hoạt động đánh bắt cá. 25 Lưu Ngọc Tố Tâm (2012), Luận án tiến sĩ: “Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải ở Việt Nam”. 12 c) Về khái niệm cam kết quốc tế Luận án này nghiên cứu về “cam kết quốc tế” về BVMT do nguồn ONTĐL bao gồm các điều ước quốc tế (ĐƯQT) và các thoả thuận quốc tế khác không phải là ĐƯQT. Do đó, một số công trình nghiên cứu liên quan đến khái niệm này được khảo sát và trình bày dưới đây: Thuật ngữ “Điều ước quốc tế” thì khá rõ ràng, ít tranh cãi hơn vì nó đã được quy định trong Công ước Viên về Luật điều ước quốc tế năm 1969, cụ thể tại Điều 2 quy định “Thuật ngữ “điều ước” dùng để chỉ một thỏa thuận quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và được pháp luật quốc tế điều chỉnh, dù được ghi nhận trong một văn kiện duy nhất hoặc trong hai hay nhiều văn kiện có quan hệ với nhau và với bất kể tên gọi riêng của nó là gì” và định nghĩa này tiếp tục được chỉnh sửa trong Công ước Viên về Luật điều ước quốc tế năm 1981.
Nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến thuật ngữ này đều dẫn chiếu đến quy định này, ví dụ như cuốn “International Law” của tác giả Malcolm N.Shaw xuất bản lần thứ 6 năm 2009; cuốn “Public International Law: Treaties and International Organizations” của tác giả Erik Jensen;26 bài viết “Treaties” của tác giả Malgosia Fitzmaurice.27 Các thoả thuận quốc tế khác không phải là ĐƯQT thường được gọi là “công cụ quốc tế không bắt buộc” hoặc “luật mềm quốc tế” thì có nhiều công trình nghiên cứu với nhiều quan điểm khác nhau.