mở đầu của khuynh hướng nghiên cứu này là Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt của Trần Ngọc Thêm (1985). Tiếp đó là một số công trình của Đỗ Hữu Châu (1985), Nguyễn Thị Việt Thanh (1999), Diệp Quang Ban (2002, 2009), Nguyễn Hoà (2003), Nguyễn Thiện Giáp (2008),. lần lượt xuất hiện, tập trung vào những vấn đề khác nhau của văn bản/diễn ngôn. Về cơ bản, tại Việt Nam, nghiên cứu diễn ngôn có thể khái quát thành hai giai đoạn tiếp cận: - Giai đoạn tiếp cận tĩnh, khép kín: Chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi ngôn ngữ học cấu trúc, các nhà nghiên cứu giai đoạn này tập trung vào khám phá cấu trúc tĩnh tại, bất biến của các văn bản - chỉ mô tả đến bản thân văn bản.
Tư tưởng này đã loại trừ tất cả thuộc tính đơn nhất, cá thể của lời nói, chỉ chú ý đến phương diện ổn định, bất biến của ngôn ngữ như một bản thể xã hội. Và đối tượng hướng tới của các nhà nghiên cứu không phải là những văn bản/diễn ngôn cụ thể, mà họ chỉ coi đó là chất liệu để tìm kiếm các mô hình cấu trúc “khung” cho các văn bản. Dưới cái nhìn của các nhà cấu trúc, tất cả các hành động của con người và các cơ cấu tổ chức của xã hội đều liên quan đến ngôn ngữ, và có thể được tìm hiểu như một hệ thống gồm các yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau. Mỗi yếu tố trong hệ thống chỉ có ý nghĩa khi nó được đặt trong một cấu trúc tổng thể.
Diễn ngôn trong giai đoạn này cũng được xem là một cấu trúc khép kín, nội tại, vì thế, khi phân tích diễn ngôn, các nhà nghiên cứu đặc biệt chú trọng đến phương diện cấu trúc và nỗ lực tìm kiếm những mô hình của tổ chức ngôn từ trong văn bản cũng như diễn ngôn, với các khái niệm điển hình: liên kết, mạch lạc, cấu trúc,. Trên cơ sở đó, các nghiên cứu chủ yếu đi sâu phân tích những biểu hiện cụ thể trong cấu tạo của văn bản. Tiêu biểu là: Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt (Trần Ngọc Thêm), Văn bản và liên kết văn bản trong tiếng Việt (Diệp Quang Ban), Hệ thống liên kết lời nói tiếng Việt (Nguyễn Thị Việt Thanh), Phép tỉnh lược và ngữ trực thuộc trong tiếng Việt (Phạm Văn Tình),. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Giai đoạn tiếp cận “động”: Diễn ngôn giai đoạn này không chỉ được coi như một cái gì tồn tại cố hữu, tự thân và có thể được phân tích một cách cô lập mà là những quy tắc và cấu trúc nhằm tạo ra những phát ngôn và những văn bản cụ thể - quan tâm đến sự diễn giải diễn ngôn.
Đó là một hệ thống của những tư tưởng, quan điểm, khái niệm, cách thức tư duy và hành xử, những cái được hình thành trong một bối cảnh xã hội cụ thể, có một hiệu lực chung đối với cách suy nghĩ và nói năng của mỗi nhóm người cũng như mỗi cá nhân. Giai đoạn này các nhà nghiên cứu tập trung đi sâu phân tích diễn ngôn dưới góc độ dụng học, với các vấn đề: ngữ cảnh diễn ngôn, diễn ngôn và văn hoá, tác động liên nhân của diễn ngôn. Các nhà nghiên cứu không nghiên cứu diễn ngôn như một thực thể biệt lập, mà có xu hướng đặt nó trong mối liên hệ với những loại hình diễn ngôn khác; không chỉ nghiên cứu văn bản và những hình thức tổ chức ngôn từ của nó mà cố gắng tìm hiểu những cơ chế tạo lập và chi phối các văn bản ngôn từ - yếu tố nằm ẩn sâu, đằng sau các văn bản. Vì thế, có thể nói các phân tích diễn ngôn theo cách tiếp cận này tập trung phân tích chức năng của ngôn ngữ trong việc thiết lập, duy trì các mối quan hệ xã hội, sự tác động, điều khiển xã hội của văn bản diễn ngôn.
Tuy nhiên, có thể do xu hướng tiếp cận về phân tích diễn ngôn trên thế giới nên phần lớn các công trình này dù đi theo hướng phân tích ứng dụng đối với một kiểu loại diễn ngôn nhất định của tiếng Việt, song chủ yếu vẫn theo lối phân tích đối chiếu cấu trúc diễn ngôn, chưa đi sâu vào ngữ cảnh văn hoá, mối quan hệ giữa tư tưởng - ngôn ngữ được thể hiện trong diễn ngôn tiếng Việt. Có thể kể đến một số công trình sau: Phân tích thư tín thương mại (Nguyễn Trọng Đàn, 1996) phân tích đối chiếu một số đặc điểm về ngữ vực giữa thư tín tiếng Anh và tiếng Việt, Một số đặc điểm của ngôn ngữ luật pháp tiếng Việt (Lê Hùng Tiến, 1999) đưa ra các đặc điểm diễn ngôn văn bản luật pháp và một số ứng dụng trong biên dịch văn bản luật pháp từ tiếng Việt sang tiếng Anh,. Bằng việc tiếp tục và bổ khuyết vào hành trình nghiên cứu về văn bản, liên kết, mạch lạc, công trình mang tính lí luận rất dày dặn Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo văn bản của Diệp Quang Ban (2009) đã tập trung trình bày các vấn đề lí luận cơ bản của phân tích diễn ngôn như: phân tích hội thoại, phân tích diễn ngôn từ ngữ cảnh 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đến cấu trúc diễn ngôn, mạng mạch, trường, thức, không khí diễn ngôn,., đồng thời đề xuất ứng dụng phân tích diễn ngôn vào phân tích ngôn ngữ nghệ thuật. Tiếp đó, như một sản phẩm cập nhật tình hình nghiên cứu diễn ngôn trên thế giới vào Việt ngữ học, Nguyễn Hoà trong các công trình: Nghiên cứu diễn ngôn về chính trị - xã hội trên tư liệu báo chí tiếng Anh và tiếng Việt hiện đại (1999); Phân tích diễn ngôn: một số vấn đề lí luận và phương pháp (2003), Phân tích diễn ngôn phê phán: lí luận và phương pháp (2006) đã tập trung hệ thống hoá, đi sâu vào các vấn đề về lí luận cũng như thực tiễn phân tích diễn ngôn, những đường hướng chính trong phân tích diễn ngôn: dụng học, biến đổi ngôn ngữ, ngôn ngữ học xã hội tương tác, nhân học, phân tích hội thoại, tâm lí học xã hội, phân tích diễn ngôn phê phán (CDA), giao tiếp liên văn hoá, phương pháp phân tích tổng hợp.
Trên cơ sở đó, Nguyễn Hoà đi vào phân tích cụ thể một số thể loại diễn ngôn trong tiếng Anh và tiếng Việt như: diễn ngôn bình luận chính trị, diễn ngôn tin để chứng tỏ rằng phân tích diễn ngôn có thể áp dụng cho nhiều ngôn ngữ có loại hình khác nhau. Trong công trình Phân tích diễn ngôn phê phán: lí luận và phương pháp, ông cho rằng, CDA quan tâm chủ yếu đến quan hệ quyền lực, quan hệ xã hội và sự tác động của thực tại xã hội đến ngôn ngữ. Ngôn ngữ được sử dụng như một phương tiện tư tưởng, điều khiển và làm thay đổi xã hội. Giai đoạn này hình thành một xu hướng mới là vận dụng lí thuyết và phương pháp phân tích diễn ngôn vào nghiên cứu một số kiểu loại diễn ngôn cụ thể như diễn ngôn bản tin, diễn ngôn tiểu thuyết, diễn ngôn phóng sự, diễn ngôn lời kêu gọi, diễn ngôn kí, diễn ngôn thông cáo báo chí, diễn ngôn hợp đồng, diễn ngôn khẩu hiệu,… Nhìn chung, phân tích diễn ngôn đến giai đoạn này đã bắt đầu khẳng định được vị trí riêng của mình trong nghiên cứu ngôn ngữ học, hơn nữa còn trở thành phương pháp nghiên cứu cho các ngành khoa học xã hội nhân văn khác: văn học, dân tộc học, văn hoá học, nhân học, triết học,… và khẳng định không ít thành quả.
Dẫu vậy, dù đã qua giai đoạn phân biệt văn bản hay diễn ngôn, phân tích diễn ngôn hay phân tích văn bản mà đi vào phân tích các đường hướng tiếp cận, mảnh đất phân tích diễn ngôn - đặc biệt là phân tích diễn ngôn nghị luận chính trị, xã hội trong tiếng Việt vẫn còn rất nhiều vấn đề cần phải quan tâm nghiên cứu. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Phân tích diễn ngôn báo chí nói chung và diễn ngôn chính luận, xã luận nói riêng Hiện nay, ở Việt Nam, nghiên cứu diễn ngôn báo chí chính luận, đáng kể nhất là công trình của Nguyễn Hoà với phân tích diễn ngôn bình luận chính trị trong Phân tích diễn ngôn: một số vấn đề lí luận và phương pháp. Ngoài ra, số lượng các luận án, luận văn, các bài nghiên cứu chọn đối tượng này để khảo sát vẫn còn rất khiêm tốn so với sự phong phú của bản thân đối tượng.
Có thể liệt kê một vài công trình ở bậc tiến sĩ như: Luận án Phân tích diễn ngôn phóng sự (Nguyễn Thị Thanh Hương, 2001) tập trung phân tích đặc trưng tổ chức thông tin của một số thể loại phóng sự trên báo Tiền phong; luận án Khảo sát chức năng ngôn ngữ văn bản quản lí nhà nước qua phương pháp phân tích diễn ngôn (Nguyễn Thị Hà, 2010) nghiên cứu các chức năng chính của văn bản quản lí nhà nước, chỉ ra được sự tác động tích cực của phương tiện ngôn ngữ đến chất lượng và hiệu quả của văn bản quản lí nhà nước; luận án Nghiên cứu ngôn ngữ văn bản hợp đồng tiếng Việt từ bình diện phân tích diễn ngôn (Trần Thị Thuỳ Linh, 2016), luận án Đối chiếu đặc điểm diễn ngôn của khẩu hiệu tiếng Anh và tiếng Việt (Đỗ Thị Xuân Dung, 2016),. Ngoài ra, một số luận văn cũng sử dụng cách tiếp cận và phương pháp phân tích diễn ngôn để khảo sát một số kiểu loại diễn ngôn, như Khảo sát đặc điểm cấu trúc - ngữ nghĩa của diễn ngôn có mục đích kêu gọi - lời kêu gọi (Vũ Thị Oanh, 2011); Huỳnh Thị Chuyên (2014) với Ngôn ngữ bình luận trong báo in tiếng Việt hiện nay,. Nhìn chung, trong tất cả các công trình nhắc trên còn một khoảng trống nhỏ, đó là mặc dù đi sâu phân tích, ứng dụng phương pháp phân tích diễn ngôn theo một kiểu loại văn bản nhất định, song phần lớn đề cập đến phân tích diễn ngôn trên bình diện so sánh đối chiếu hoặc theo một lĩnh vực cụ thể; hoặc mô tả định lượng, hoặc theo phương pháp phân tích cấu trúc truyền thống. Mặt khác, đối với thể loại diễn ngôn chính luận xã luận báo chí, những công trình nghiên cứu chuyên sâu về thể loại này còn rất ít.
Chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu đặc trưng thể loại này của diễn ngôn và phân tích cách mà diễn ngôn xã luận tác động, thể hiện sức mạnh của diễn ngôn báo chí để điều khiển và tác động đến xã hội. Tình hình này là cơ sở thôi thúc tác giả luận án lựa chọn DNXL báo Nhân Dân làm đối tượng khảo sát và đi theo 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hướng phân tích diễn ngôn.