Luận án tiến sĩ phân tích diễn ngôn xã luận trên ngữ liệu báo nhân dân giai đoạn 1964 1975

Phân tích diễn ngôn xã luận trên ngữ liệu báo Nhân Dân giai đoạn 1964-1975 trong luận án tiến sĩ chuyên sâu về ngôn ngữ học và truyền thông.

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2018

163
5
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu

1.1.1. Nghiên cứu phân tích diễn ngôn trên thế giới

2. CHƯƠNG 2: CÁC PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN CHỨC NĂNG TƯ TƯỞNG TRONG DIỄN NGÔN XÃ LUẬN BÁO NHÂN DÂN

3. CHƯƠNG 3: CÁC PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN CHỨC NĂNG LIÊN NHÂN TRONG DIỄN NGÔN XÃ LUẬN BÁO NHÂN DÂN

4. CHƯƠNG 4: CÁC PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN CHỨC NĂNG VĂN BẢN TRONG DIỄN NGÔN XÃ LUẬN BÁO NHÂN DÂN

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu tổng quan về luận án phân tích diễn ngôn xã luận báo Nhân Dân 1964 1975

Luận án tiến sĩ với chủ đề phân tích diễn ngôn xã luận trên ngữ liệu báo Nhân Dân giai đoạn 1964-1975 là công trình nghiên cứu đầu tiên đi sâu vào thể loại diễn ngôn chính luận xã luận trong bối cảnh lịch sử đặc biệt của Việt Nam. Giai đoạn này đánh dấu cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước với nhiều biến động chính trị, quân sự và xã hội. Báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng và Nhà nước, đã đăng tải hàng nghìn bài xã luận nhằm tuyên truyền, giáo dục và vận động nhân dân. Luận án tập trung phân tích các chiến lược tổ chức diễn ngôn, mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư tưởng, cũng như vai trò của ngữ cảnh văn hóa - xã hội trong việc kiến tạo và giải mã diễn ngôn xã luận. Việc áp dụng khung lý thuyết phân tích diễn ngôn chức năng hệ thống của M. Halliday cùng các lý thuyết về hành động ngôn từ, lập luận và ngữ cảnh giúp luận án làm rõ chức năng kinh nghiệm, liên nhân và văn bản của diễn ngôn xã luận báo Nhân Dân trong giai đoạn lịch sử quan trọng này.

1.1. Tổng quan về phân tích diễn ngôn xã luận và báo Nhân Dân

Phân tích diễn ngôn xã luận là nghiên cứu ngôn ngữ trong hoạt động chính luận, thể hiện quan điểm, tư tưởng của tổ chức chính trị qua báo chí. Báo Nhân Dân là tiếng nói chính thức của Đảng, Nhà nước, có vai trò quan trọng trong việc định hướng dư luận và truyền tải chủ trương chính sách. Giai đoạn 1964-1975, xã luận trên báo Nhân Dân xuất hiện với số lượng lớn, phản ánh sâu sắc các vấn đề chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa xã hội trong bối cảnh chiến tranh và xây dựng đất nước.

1.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu luận án tiến sĩ ngôn ngữ học

Luận án chọn 250 bài xã luận tiêu biểu trên báo Nhân Dân trong giai đoạn 1964-1975 làm ngữ liệu nghiên cứu, tập trung vào các chủ đề chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao, văn hóa, xã hội và giáo dục. Phạm vi nghiên cứu bao gồm phân tích cấu trúc, nội dung, các phương thức thể hiện chức năng tư tưởng, liên nhân và văn bản của diễn ngôn xã luận trong bối cảnh lịch sử đặc thù của thời kỳ chống Mỹ cứu nước.

II. Vấn đề thách thức trong phân tích diễn ngôn xã luận báo Nhân Dân giai đoạn 1964 1975

Phân tích diễn ngôn xã luận trên ngữ liệu báo Nhân Dân giai đoạn 1964-1975 đối mặt với nhiều thách thức do tính đặc thù của thể loại diễn ngôn chính trị - xã hội, sự đa dạng và phong phú của chủ đề, cũng như bối cảnh lịch sử phức tạp. Việc nhận diện mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư tưởng, đồng thời giải mã các chiến lược ngôn ngữ nhằm tác động đến nhận thức và hành vi của người đọc đòi hỏi phương pháp phân tích sâu sắc và toàn diện. Ngoài ra, sự biến đổi của ngôn ngữ theo thời đại, hiện tượng chuyển nghĩa từ và các thủ pháp ngôn ngữ biểu cảm cũng tạo ra những khó khăn trong việc phân tích chính xác và khách quan.

2.1. Thách thức trong nhận diện chức năng tư tưởng và liên nhân của diễn ngôn xã luận

Diễn ngôn xã luận không chỉ truyền tải thông tin mà còn mang chức năng tư tưởng và liên nhân nhằm vận động, thuyết phục người đọc. Việc phân biệt và phân tích các phương thức thể hiện chức năng này như lập luận, hành động ngôn từ, tình thái, xưng hô đòi hỏi sự kết hợp giữa lý thuyết ngôn ngữ học và xã hội học để hiểu rõ mối quan hệ giữa ngôn ngữ và quyền lực, tư tưởng chính trị.

2.2. Khó khăn trong phân tích ngữ liệu báo chí cách mạng và ngữ cảnh lịch sử

Ngữ liệu báo Nhân Dân giai đoạn 1964-1975 chứa đựng nhiều thuật ngữ, từ ngữ mang tính thời đại, nhiều hiện tượng chuyển nghĩa và kết hợp từ mới. Việc phân tích đòi hỏi hiểu biết sâu sắc về bối cảnh lịch sử, văn hóa, chính trị để giải thích đúng nghĩa và giá trị biểu đạt của ngôn ngữ. Đồng thời, cần chú ý đến ngữ cảnh văn hóa và tình huống giao tiếp để nhận diện chính xác các chiến lược ngôn ngữ trong xã luận.

III. Phương pháp phân tích diễn ngôn xã luận báo Nhân Dân giai đoạn 1964 1975 hiệu quả

Luận án sử dụng phương pháp phân tích diễn ngôn kết hợp với phân tích ngữ nghĩa, thống kê và mô tả để khảo sát các đặc điểm ngôn ngữ và cấu trúc diễn ngôn xã luận trên báo Nhân Dân. Phương pháp phân tích diễn ngôn dựa trên khung lý thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống của M. Halliday, kết hợp với lý thuyết hành động ngôn từ của Austin và Searle, cùng các lý thuyết về lập luận và lịch sự học nhằm làm rõ các chức năng kinh nghiệm, liên nhân và văn bản trong diễn ngôn xã luận.

3.1. Phương pháp phân tích diễn ngôn chức năng hệ thống của Halliday

Phương pháp này tập trung phân tích ba siêu chức năng ngôn ngữ: chức năng kinh nghiệm (thể hiện kinh nghiệm và tri thức về thế giới), chức năng liên nhân (biểu đạt quan hệ xã hội và thái độ), và chức năng văn bản (tổ chức cấu trúc và nội dung diễn ngôn). Việc áp dụng giúp nhận diện các phương thức ngôn ngữ thể hiện tư tưởng, tác động xã hội và tổ chức thông điệp trong xã luận.

3.2. Phân tích hành động ngôn từ và lập luận trong diễn ngôn xã luận

Dựa trên lý thuyết hành động ngôn từ của Austin và Searle, luận án phân loại các hành động ngôn từ như biểu hiện, cầu khiến, cam kết, biểu cảm và tuyên bố trong xã luận. Đồng thời, phân tích các phương thức lập luận nhằm làm rõ cách thức xã luận vận động nhận thức và hành động của người đọc, qua đó thể hiện sức mạnh của diễn ngôn chính trị - xã hội.

3.3. Ứng dụng phương pháp thống kê và mô tả trong phân tích ngữ liệu báo chí

Phương pháp thống kê tần suất sử dụng các đơn vị ngôn ngữ như chủ đề, từ ngữ tình thái, hành động ngôn từ giúp đánh giá khoa học các đặc điểm ngôn ngữ trong xã luận. Phương pháp mô tả và phân tích chi tiết các hiện tượng ngôn ngữ được sử dụng xuyên suốt để tổng hợp các nét điển hình, đặc trưng của diễn ngôn xã luận báo Nhân Dân giai đoạn 1964-1975.

IV. Các phương thức thể hiện chức năng tư tưởng trong diễn ngôn xã luận báo Nhân Dân

Chức năng tư tưởng trong diễn ngôn xã luận báo Nhân Dân giai đoạn 1964-1975 được thể hiện qua việc lựa chọn chủ đề, sử dụng từ ngữ và các thủ pháp ngôn ngữ nhằm phản ánh giá trị kinh nghiệm, tư tưởng thời đại. Chủ đề xã luận tập trung vào các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao, văn hóa, xã hội và giáo dục, phản ánh bối cảnh lịch sử chiến tranh và xây dựng đất nước. Hệ thống từ vựng mang tính thời đại, nhiều hiện tượng chuyển nghĩa và từ ngữ biểu cảm được sử dụng để thể hiện quan điểm, đánh giá và định hướng nhận thức của người đọc.

4.1. Chủ đề chính trong diễn ngôn xã luận báo Nhân Dân giai đoạn 1964 1975

Khảo sát 3787 bài xã luận cho thấy chủ đề tập trung vào 7 lĩnh vực chính: kinh tế (25,72%), chính trị (22,26%), quân sự (18,10%), ngoại giao (13,81%), xã hội (13,30%), văn hóa (3,69%) và giáo dục (3,12%). Sự phân bố chủ đề phản ánh ưu tiên của Đảng và Nhà nước trong từng thời điểm lịch sử, đặc biệt là tập trung vào kháng chiến chống Mỹ và xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa.

4.2. Hệ thống từ vựng thể hiện giá trị kinh nghiệm và tư tưởng thời đại

Các từ ngữ trong xã luận phản ánh kinh nghiệm và tư tưởng chính trị - xã hội của thời kỳ chiến tranh như: cách mạng, đồng chí, đế quốc Mỹ, quân và dân, mặt trận, chiến đấu, phong trào ba đảm đang, ba sẵn sàng. Hiện tượng chuyển nghĩa từ và kết hợp từ mới mang tính thời đại thể hiện sự biến đổi ngôn ngữ phù hợp với bối cảnh lịch sử và văn hóa.

4.3. Từ ngữ biểu cảm và sắc thái đánh giá trong diễn ngôn xã luận

Ngôn ngữ xã luận mang tính biểu cảm cao, sử dụng các từ ngữ đối lập để thể hiện thái độ rõ ràng giữa bên ta và bên địch, như "bộ đội" và "bọn xâm lược", "đồng chí" và "bọn tay sai". Việc sử dụng từ ngữ này nhằm tác động đến nhận thức và tình cảm của người đọc, tạo sự đồng thuận và thúc đẩy hành động theo đường lối của Đảng.

V. Các phương thức thể hiện chức năng liên nhân và tác động trong diễn ngôn xã luận báo Nhân Dân

Chức năng liên nhân trong diễn ngôn xã luận báo Nhân Dân thể hiện qua các phương tiện ngôn ngữ biểu thị thái độ, quan hệ xã hội và tác động đến người nhận nhằm thay đổi nhận thức và hành vi. Các phương thức như tình thái, xưng hô, hành động ngôn từ, chiến lược lịch sự được sử dụng để duy trì mối quan hệ xã hội, thể hiện quyền lực và uy tín của người phát ngôn, đồng thời vận động, thuyết phục công chúng trong bối cảnh chính trị - xã hội đặc thù của giai đoạn 1964-1975.

5.1. Phương tiện biểu thị tình thái và xưng hô trong diễn ngôn xã luận

Tình thái thể hiện qua các từ ngữ, phụ từ, vị từ tình thái nhằm biểu đạt thái độ, mức độ chắc chắn, yêu cầu hay đề nghị. Xưng hô trong xã luận thể hiện quan hệ quyền lực, sự tôn trọng hoặc áp đặt, góp phần duy trì mối quan hệ xã hội và tạo hiệu quả thuyết phục cao trong giao tiếp chính trị.

5.2. Hành động ngôn từ và chiến lược lịch sự trong tác động xã hội

Các hành động ngôn từ như cầu khiến, cam kết, biểu cảm được sử dụng để vận động, kêu gọi, thuyết phục người đọc. Chiến lược lịch sự giúp giảm thiểu xung đột, duy trì sự hòa hợp trong giao tiếp, đồng thời thể hiện sự tôn trọng và uy quyền của người phát ngôn trong diễn ngôn xã luận.

VI. Phương pháp tổ chức cấu trúc và kết luận về tương lai nghiên cứu diễn ngôn xã luận báo Nhân Dân

Diễn ngôn xã luận báo Nhân Dân giai đoạn 1964-1975 được tổ chức theo cấu trúc chặt chẽ, gồm tiêu đề, mở đầu, triển khai vấn đề và kết luận, đảm bảo mạch lạc và logic trong truyền tải thông điệp. Mạng quan hệ lập luận được sử dụng như phương thức đặc trưng để tổ chức nội dung, giúp xã luận vừa có sức thuyết phục vừa dễ tiếp nhận. Kết quả nghiên cứu mở ra hướng phát triển cho các nghiên cứu tiếp theo về phân tích diễn ngôn báo chí chính luận, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả truyền thông chính trị trong bối cảnh hiện đại.

6.1. Cấu trúc tổ chức và mạng quan hệ lập luận trong diễn ngôn xã luận

Cấu trúc xã luận bao gồm các phần tiêu đề, mở đầu, triển khai và kết luận được tổ chức mạch lạc, logic. Mạng quan hệ lập luận như diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp được vận dụng để xây dựng luận điểm, dẫn chứng và kết luận, tạo nên sức thuyết phục và tính nhất quán trong diễn ngôn.

6.2. Kết luận và định hướng tương lai cho nghiên cứu phân tích diễn ngôn xã luận

Luận án khẳng định vai trò quan trọng của phân tích diễn ngôn trong nghiên cứu báo chí chính luận, đặc biệt là xã luận báo Nhân Dân giai đoạn 1964-1975. Nghiên cứu mở ra cơ hội ứng dụng các phương pháp phân tích diễn ngôn hiện đại vào các thể loại báo chí khác, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả truyền thông chính trị, bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt và phát triển ngôn ngữ báo chí cách mạng trong tương lai.

02/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu của khuynh hướng nghiên cứu này là Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt của Trần Ngọc Thêm (1985). Tiếp đó là một số công trình của Đỗ Hữu Châu (1985), Nguyễn Thị Việt Thanh (1999), Diệp Quang Ban (2002, 2009), Nguyễn Hoà (2003), Nguyễn Thiện Giáp (2008),. lần lượt xuất hiện, tập trung vào những vấn đề khác nhau của văn bản/diễn ngôn. Về cơ bản, tại Việt Nam, nghiên cứu diễn ngôn có thể khái quát thành hai giai đoạn tiếp cận: - Giai đoạn tiếp cận tĩnh, khép kín: Chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi ngôn ngữ học cấu trúc, các nhà nghiên cứu giai đoạn này tập trung vào khám phá cấu trúc tĩnh tại, bất biến của các văn bản - chỉ mô tả đến bản thân văn bản.

Tư tưởng này đã loại trừ tất cả thuộc tính đơn nhất, cá thể của lời nói, chỉ chú ý đến phương diện ổn định, bất biến của ngôn ngữ như một bản thể xã hội. Và đối tượng hướng tới của các nhà nghiên cứu không phải là những văn bản/diễn ngôn cụ thể, mà họ chỉ coi đó là chất liệu để tìm kiếm các mô hình cấu trúc “khung” cho các văn bản. Dưới cái nhìn của các nhà cấu trúc, tất cả các hành động của con người và các cơ cấu tổ chức của xã hội đều liên quan đến ngôn ngữ, và có thể được tìm hiểu như một hệ thống gồm các yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau. Mỗi yếu tố trong hệ thống chỉ có ý nghĩa khi nó được đặt trong một cấu trúc tổng thể.

Diễn ngôn trong giai đoạn này cũng được xem là một cấu trúc khép kín, nội tại, vì thế, khi phân tích diễn ngôn, các nhà nghiên cứu đặc biệt chú trọng đến phương diện cấu trúc và nỗ lực tìm kiếm những mô hình của tổ chức ngôn từ trong văn bản cũng như diễn ngôn, với các khái niệm điển hình: liên kết, mạch lạc, cấu trúc,. Trên cơ sở đó, các nghiên cứu chủ yếu đi sâu phân tích những biểu hiện cụ thể trong cấu tạo của văn bản. Tiêu biểu là: Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt (Trần Ngọc Thêm), Văn bản và liên kết văn bản trong tiếng Việt (Diệp Quang Ban), Hệ thống liên kết lời nói tiếng Việt (Nguyễn Thị Việt Thanh), Phép tỉnh lược và ngữ trực thuộc trong tiếng Việt (Phạm Văn Tình),. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Giai đoạn tiếp cận “động”: Diễn ngôn giai đoạn này không chỉ được coi như một cái gì tồn tại cố hữu, tự thân và có thể được phân tích một cách cô lập mà là những quy tắc và cấu trúc nhằm tạo ra những phát ngôn và những văn bản cụ thể - quan tâm đến sự diễn giải diễn ngôn.

Đó là một hệ thống của những tư tưởng, quan điểm, khái niệm, cách thức tư duy và hành xử, những cái được hình thành trong một bối cảnh xã hội cụ thể, có một hiệu lực chung đối với cách suy nghĩ và nói năng của mỗi nhóm người cũng như mỗi cá nhân. Giai đoạn này các nhà nghiên cứu tập trung đi sâu phân tích diễn ngôn dưới góc độ dụng học, với các vấn đề: ngữ cảnh diễn ngôn, diễn ngôn và văn hoá, tác động liên nhân của diễn ngôn. Các nhà nghiên cứu không nghiên cứu diễn ngôn như một thực thể biệt lập, mà có xu hướng đặt nó trong mối liên hệ với những loại hình diễn ngôn khác; không chỉ nghiên cứu văn bản và những hình thức tổ chức ngôn từ của nó mà cố gắng tìm hiểu những cơ chế tạo lập và chi phối các văn bản ngôn từ - yếu tố nằm ẩn sâu, đằng sau các văn bản. Vì thế, có thể nói các phân tích diễn ngôn theo cách tiếp cận này tập trung phân tích chức năng của ngôn ngữ trong việc thiết lập, duy trì các mối quan hệ xã hội, sự tác động, điều khiển xã hội của văn bản diễn ngôn.

Tuy nhiên, có thể do xu hướng tiếp cận về phân tích diễn ngôn trên thế giới nên phần lớn các công trình này dù đi theo hướng phân tích ứng dụng đối với một kiểu loại diễn ngôn nhất định của tiếng Việt, song chủ yếu vẫn theo lối phân tích đối chiếu cấu trúc diễn ngôn, chưa đi sâu vào ngữ cảnh văn hoá, mối quan hệ giữa tư tưởng - ngôn ngữ được thể hiện trong diễn ngôn tiếng Việt. Có thể kể đến một số công trình sau: Phân tích thư tín thương mại (Nguyễn Trọng Đàn, 1996) phân tích đối chiếu một số đặc điểm về ngữ vực giữa thư tín tiếng Anh và tiếng Việt, Một số đặc điểm của ngôn ngữ luật pháp tiếng Việt (Lê Hùng Tiến, 1999) đưa ra các đặc điểm diễn ngôn văn bản luật pháp và một số ứng dụng trong biên dịch văn bản luật pháp từ tiếng Việt sang tiếng Anh,. Bằng việc tiếp tục và bổ khuyết vào hành trình nghiên cứu về văn bản, liên kết, mạch lạc, công trình mang tính lí luận rất dày dặn Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo văn bản của Diệp Quang Ban (2009) đã tập trung trình bày các vấn đề lí luận cơ bản của phân tích diễn ngôn như: phân tích hội thoại, phân tích diễn ngôn từ ngữ cảnh 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đến cấu trúc diễn ngôn, mạng mạch, trường, thức, không khí diễn ngôn,., đồng thời đề xuất ứng dụng phân tích diễn ngôn vào phân tích ngôn ngữ nghệ thuật. Tiếp đó, như một sản phẩm cập nhật tình hình nghiên cứu diễn ngôn trên thế giới vào Việt ngữ học, Nguyễn Hoà trong các công trình: Nghiên cứu diễn ngôn về chính trị - xã hội trên tư liệu báo chí tiếng Anh và tiếng Việt hiện đại (1999); Phân tích diễn ngôn: một số vấn đề lí luận và phương pháp (2003), Phân tích diễn ngôn phê phán: lí luận và phương pháp (2006) đã tập trung hệ thống hoá, đi sâu vào các vấn đề về lí luận cũng như thực tiễn phân tích diễn ngôn, những đường hướng chính trong phân tích diễn ngôn: dụng học, biến đổi ngôn ngữ, ngôn ngữ học xã hội tương tác, nhân học, phân tích hội thoại, tâm lí học xã hội, phân tích diễn ngôn phê phán (CDA), giao tiếp liên văn hoá, phương pháp phân tích tổng hợp.

Trên cơ sở đó, Nguyễn Hoà đi vào phân tích cụ thể một số thể loại diễn ngôn trong tiếng Anh và tiếng Việt như: diễn ngôn bình luận chính trị, diễn ngôn tin để chứng tỏ rằng phân tích diễn ngôn có thể áp dụng cho nhiều ngôn ngữ có loại hình khác nhau. Trong công trình Phân tích diễn ngôn phê phán: lí luận và phương pháp, ông cho rằng, CDA quan tâm chủ yếu đến quan hệ quyền lực, quan hệ xã hội và sự tác động của thực tại xã hội đến ngôn ngữ. Ngôn ngữ được sử dụng như một phương tiện tư tưởng, điều khiển và làm thay đổi xã hội. Giai đoạn này hình thành một xu hướng mới là vận dụng lí thuyết và phương pháp phân tích diễn ngôn vào nghiên cứu một số kiểu loại diễn ngôn cụ thể như diễn ngôn bản tin, diễn ngôn tiểu thuyết, diễn ngôn phóng sự, diễn ngôn lời kêu gọi, diễn ngôn kí, diễn ngôn thông cáo báo chí, diễn ngôn hợp đồng, diễn ngôn khẩu hiệu,… Nhìn chung, phân tích diễn ngôn đến giai đoạn này đã bắt đầu khẳng định được vị trí riêng của mình trong nghiên cứu ngôn ngữ học, hơn nữa còn trở thành phương pháp nghiên cứu cho các ngành khoa học xã hội nhân văn khác: văn học, dân tộc học, văn hoá học, nhân học, triết học,… và khẳng định không ít thành quả.

Dẫu vậy, dù đã qua giai đoạn phân biệt văn bản hay diễn ngôn, phân tích diễn ngôn hay phân tích văn bản mà đi vào phân tích các đường hướng tiếp cận, mảnh đất phân tích diễn ngôn - đặc biệt là phân tích diễn ngôn nghị luận chính trị, xã hội trong tiếng Việt vẫn còn rất nhiều vấn đề cần phải quan tâm nghiên cứu. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Phân tích diễn ngôn báo chí nói chung và diễn ngôn chính luận, xã luận nói riêng Hiện nay, ở Việt Nam, nghiên cứu diễn ngôn báo chí chính luận, đáng kể nhất là công trình của Nguyễn Hoà với phân tích diễn ngôn bình luận chính trị trong Phân tích diễn ngôn: một số vấn đề lí luận và phương pháp. Ngoài ra, số lượng các luận án, luận văn, các bài nghiên cứu chọn đối tượng này để khảo sát vẫn còn rất khiêm tốn so với sự phong phú của bản thân đối tượng.

Có thể liệt kê một vài công trình ở bậc tiến sĩ như: Luận án Phân tích diễn ngôn phóng sự (Nguyễn Thị Thanh Hương, 2001) tập trung phân tích đặc trưng tổ chức thông tin của một số thể loại phóng sự trên báo Tiền phong; luận án Khảo sát chức năng ngôn ngữ văn bản quản lí nhà nước qua phương pháp phân tích diễn ngôn (Nguyễn Thị Hà, 2010) nghiên cứu các chức năng chính của văn bản quản lí nhà nước, chỉ ra được sự tác động tích cực của phương tiện ngôn ngữ đến chất lượng và hiệu quả của văn bản quản lí nhà nước; luận án Nghiên cứu ngôn ngữ văn bản hợp đồng tiếng Việt từ bình diện phân tích diễn ngôn (Trần Thị Thuỳ Linh, 2016), luận án Đối chiếu đặc điểm diễn ngôn của khẩu hiệu tiếng Anh và tiếng Việt (Đỗ Thị Xuân Dung, 2016),. Ngoài ra, một số luận văn cũng sử dụng cách tiếp cận và phương pháp phân tích diễn ngôn để khảo sát một số kiểu loại diễn ngôn, như Khảo sát đặc điểm cấu trúc - ngữ nghĩa của diễn ngôn có mục đích kêu gọi - lời kêu gọi (Vũ Thị Oanh, 2011); Huỳnh Thị Chuyên (2014) với Ngôn ngữ bình luận trong báo in tiếng Việt hiện nay,. Nhìn chung, trong tất cả các công trình nhắc trên còn một khoảng trống nhỏ, đó là mặc dù đi sâu phân tích, ứng dụng phương pháp phân tích diễn ngôn theo một kiểu loại văn bản nhất định, song phần lớn đề cập đến phân tích diễn ngôn trên bình diện so sánh đối chiếu hoặc theo một lĩnh vực cụ thể; hoặc mô tả định lượng, hoặc theo phương pháp phân tích cấu trúc truyền thống. Mặt khác, đối với thể loại diễn ngôn chính luận xã luận báo chí, những công trình nghiên cứu chuyên sâu về thể loại này còn rất ít.

Chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu đặc trưng thể loại này của diễn ngôn và phân tích cách mà diễn ngôn xã luận tác động, thể hiện sức mạnh của diễn ngôn báo chí để điều khiển và tác động đến xã hội. Tình hình này là cơ sở thôi thúc tác giả luận án lựa chọn DNXL báo Nhân Dân làm đối tượng khảo sát và đi theo 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hướng phân tích diễn ngôn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ