Luận án tiến sĩ: Tình trạng nhiễm HBV ở mẹ mang thai lây nhiễm sang con - Đáp ứng miễn dịch ở trẻ em huyện Định Hóa, Thái Nguyên

Nghiên cứu về nhiễm HBV ở mẹ mang thai và nguy cơ lây truyền sang con. Tìm hiểu phương pháp phòng ngừa, chẩn đoán sớm và điều trị hiệu quả.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Nội tiêu hóa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ y học

2020

167
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về nhiễm HBV ở mẹ mang thai và lây truyền sang con

Viêm gan virus B (HBV) là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng toàn cầu. Tại Việt Nam, tỷ lệ nhiễm HBV trong dân số dao động từ 10% đến 20%, thuộc nhóm cao nhất khu vực Châu Á - Thái Bình Dương. Huyện Định Hóa, Thái Nguyên là vùng miền núi với điều kiện y tế còn nhiều hạn chế, tỷ lệ nhiễm HBV ở phụ nữ mang thai vẫn ở mức đáng lo ngại.

Lây truyền HBV từ mẹ sang con chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số ca nhiễm mới. Trẻ sinh ra từ bà mẹ mang HBsAg dương tính có nguy cơ nhiễm HBV từ 70% đến 90% nếu không được can thiệp kịp thời. Phần lớn trẻ bị nhiễm HBV theo con đường này sẽ chuyển thành mạn tính, dẫn đến xơ gan và ung thư gan sau nhiều năm.

Luận án tiến sĩ của tác giả Nông Thị Tuyến tại Đại học Thái Nguyên năm 2020 đã hệ thống hóa thực trạng nhiễm HBV ở phụ nữ mang thai, đặc điểm lây truyền dọc và đáp ứng miễn dịch của trẻ sau tiêm vắc xin viêm gan B. Nghiên cứu cung cấp nền tảng khoa học quan trọng để xây dựng phác đồ dự phòng phù hợp với đặc điểm dân cư vùng cao.

1.1. Đặc điểm dịch tễ học HBV ở phụ nữ mang thai

Phụ nữ mang thai nhiễm HBV thường không có triệu chứng rõ ràng. HBsAg dương tính là dấu ấn quan trọng nhất để xác định tình trạng nhiễm. Tại huyện Định Hóa, nghiên cứu phát hiện tỷ lệ HBsAg dương tính ở thai phụ cao hơn mức trung bình toàn quốc. Phụ nữ dân tộc thiểu số có tỷ lệ nhiễm cao hơn do điều kiện tiếp cận dịch vụ y tế còn hạn chế. Xét nghiệm sàng lọc HBV trong thai kỳ là bắt buộc để phát hiện sớm và can thiệp dự phòng lây truyền mẹ con hiệu quả.

1.2. Con đường lây truyền HBV từ mẹ sang con

Lây truyền HBV từ mẹ sang con xảy ra chủ yếu trong giai đoạn chu sinh, chiếm trên 90% các ca lây truyền dọc. Virus xâm nhập vào cơ thể trẻ qua tiếp xúc với máu và dịch sinh học của mẹ trong quá trình sinh nở. Lây truyền qua nhau thai trong thai kỳ chiếm tỷ lệ nhỏ hơn, khoảng 5% đến 15%. Tải lượng virus HBV cao trong máu mẹ và tình trạng HBeAg dương tính làm tăng đáng kể nguy cơ lây truyền sang trẻ, đòi hỏi can thiệp dự phòng tích cực ngay sau sinh.

II. Phân tích tình trạng nhiễm HBV và các yếu tố nguy cơ lây truyền

Nghiên cứu tại huyện Định Hóa chỉ ra nhiều yếu tố nguy cơ quan trọng ảnh hưởng đến khả năng lây truyền HBV từ mẹ sang con. Tình trạng HBeAg dương tính ở người mẹ là yếu tố tiên lượng mạnh nhất. Khi bà mẹ có HBeAg dương tính, tỷ lệ trẻ bị nhiễm HBV có thể lên đến 90% nếu không được tiêm phòng kịp thời.

Tải lượng virus (HBV DNA) trong máu mẹ tỷ lệ thuận với nguy cơ lây truyền. Bà mẹ có HBV DNA cao hơn 200.000 IU/mL được xếp vào nhóm nguy cơ rất cao. Các chỉ số sinh hóa như ALT, AST tăng cao phản ánh tổn thương gan đang hoạt động, làm tăng mức độ virus trong dịch sinh học.

Ngoài ra, điều kiện sinh hoạt, trình độ hiểu biết về bệnh và khả năng tiếp cận dịch vụ y tế của bà mẹ cũng ảnh hưởng đến kết quả dự phòng. Tại các xã vùng sâu huyện Định Hóa, nhiều bà mẹ không được xét nghiệm sàng lọc HBV trước sinh. Đây là rào cản lớn trong việc triển khai biện pháp dự phòng lây truyền mẹ con đúng thời điểm.

2.1. Vai trò của HBeAg và tải lượng virus trong lây truyền

HBeAg là kháng nguyên nằm trong lõi của HBV, phản ánh mức độ nhân lên mạnh của virus. Bà mẹ có HBeAg dương tính kèm HBV DNA cao là nhóm có nguy cơ lây truyền sang con cao nhất. Nghiên cứu tại Định Hóa ghi nhận mối tương quan chặt chẽ giữa tải lượng virus ở mẹ và tỷ lệ nhiễm HBV ở trẻ sơ sinh. Xét nghiệm định lượng HBV DNA giúp phân tầng nguy cơ và lựa chọn phác đồ can thiệp dự phòng phù hợp, đặc biệt với nhóm bà mẹ có tải lượng virus rất cao cần sử dụng thuốc kháng virus trong tam cá nguyệt thứ ba.

2.2. Ảnh hưởng của điều kiện kinh tế xã hội đến nguy cơ lây truyền

Tại huyện Định Hóa, phụ nữ dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ lớn trong dân số thai phụ. Rào cản ngôn ngữ, khoảng cách địa lý đến cơ sở y tế và thiếu hiểu biết về viêm gan B khiến nhiều trường hợp không được phát hiện và can thiệp kịp thời. Tỷ lệ khám thai đầy đủ thấp hơn vùng đồng bằng, dẫn đến bỏ lỡ cơ hội sàng lọc HBV. Các chương trình truyền thông y tế bằng tiếng dân tộc và tăng cường nhân lực y tế thôn bản đóng vai trò thiết yếu trong cải thiện tỷ lệ phát hiện và dự phòng lây truyền mẹ con.

III. Phương pháp dự phòng và đáp ứng miễn dịch sau tiêm vắc xin viêm gan B

Tiêm vắc xin viêm gan B ngay sau sinh kết hợp với immunoglobulin kháng HBV (HBIG) là biện pháp dự phòng lây truyền mẹ con hiệu quả nhất hiện nay. Phác đồ chuẩn gồm liều vắc xin đầu tiên trong vòng 24 giờ sau sinh, tiếp theo là liều thứ hai lúc 1 tháng và liều thứ ba lúc 6 tháng tuổi.

Nghiên cứu tại huyện Định Hóa đánh giá đáp ứng miễn dịch của trẻ thông qua nồng độ kháng thể anti-HBs sau hoàn thành lịch tiêm. Trẻ có anti-HBs ≥ 10 mIU/mL được coi là có miễn dịch bảo vệ. Tỷ lệ đáp ứng miễn dịch đủ bảo vệ ở trẻ trong nghiên cứu phản ánh hiệu quả thực tế của chương trình tiêm chủng mở rộng tại vùng miền núi.

Một số trẻ sinh từ bà mẹ HBeAg dương tính có nguy cơ thất bại miễn dịch cao hơn, do tải lượng virus mẹ cao vượt qua hàng rào bảo vệ của vắc xin và HBIG. Theo dõi nồng độ anti-HBs và HBsAg ở trẻ sau tiêm chủng là bước quan trọng để xác định trẻ cần tiêm nhắc hoặc đánh giá thất bại dự phòng.

3.1. Phác đồ tiêm vắc xin viêm gan B và HBIG cho trẻ sơ sinh

Tiêm vắc xin viêm gan B liều sơ sinh trong 24 giờ đầu sau sinh là can thiệp dự phòng quan trọng nhất. Kết hợp với HBIG cho trẻ sinh ra từ mẹ HBsAg dương tính giúp nâng hiệu quả bảo vệ lên trên 95%. Tại Việt Nam, vắc xin viêm gan B sơ sinh được đưa vào Chương trình Tiêm chủng Mở rộng từ năm 1997. Nghiên cứu tại Định Hóa ghi nhận tỷ lệ tiêm liều sơ sinh trong 24 giờ đạt mức khá cao tại bệnh viện huyện, nhưng tỷ lệ này thấp hơn đáng kể ở các trường hợp sinh tại nhà.

3.2. Đánh giá mức độ đáp ứng miễn dịch anti HBs ở trẻ sau tiêm

Nồng độ anti-HBs sau tiêm đủ 3 liều vắc xin là chỉ số đánh giá hiệu quả miễn dịch trực tiếp. Trẻ có anti-HBs từ 10 đến 100 mIU/mL đạt miễn dịch mức thấp, trên 100 mIU/mL là đáp ứng tốt. Nghiên cứu phân tích mối liên hệ giữa nồng độ anti-HBs ở trẻ với tình trạng HBeAg, HBsAg và HBV DNA của mẹ. Trẻ sinh từ bà mẹ HBeAg dương tính có tỷ lệ anti-HBs thấp hơn, đòi hỏi theo dõi chặt chẽ để phát hiện thất bại miễn dịch và can thiệp kịp thời.

IV. Kết luận và ứng dụng trong phòng chống HBV tại cộng đồng

Nghiên cứu của tác giả Nông Thị Tuyến tại huyện Định Hóa cung cấp bằng chứng khoa học có giá trị cho công tác phòng chống HBV ở vùng miền núi phía Bắc Việt Nam. Tỷ lệ nhiễm HBV ở phụ nữ mang thai tại địa phương phản ánh gánh nặng bệnh tật thực sự và sự cần thiết phải tăng cường các biện pháp can thiệp có hệ thống.

Chương trình tiêm vắc xin viêm gan B trong Tiêm chủng Mở rộng đã cho thấy hiệu quả rõ rệt trong giảm lây truyền mẹ con. Tuy nhiên, còn tồn tại khoảng cách về tỷ lệ tiêm đúng lịch giữa các vùng địa lý và nhóm dân tộc khác nhau, cần được khắc phục bằng giải pháp tiếp cận cộng đồng phù hợp.

Kết quả nghiên cứu đặt ra khuyến nghị: cần tổ chức sàng lọc HBV cho 100% phụ nữ mang thai, tăng cường năng lực y tế cơ sở trong tư vấn và xử trí kết quả xét nghiệm, đảm bảo vắc xin sơ sinh và HBIG sẵn có ở tất cả điểm sinh, đồng thời theo dõi đáp ứng miễn dịch của trẻ sau tiêm chủng để phát hiện sớm thất bại dự phòng và can thiệp bổ sung kịp thời.

4.1. Khuyến nghị chính sách y tế dự phòng HBV tại vùng miền núi

Để giảm tỷ lệ lây truyền HBV mẹ con tại các huyện miền núi như Định Hóa, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Thứ nhất, đưa xét nghiệm HBsAg vào danh mục khám thai bắt buộc và miễn phí. Thứ hai, đảm bảo tất cả trẻ sơ sinh có mẹ HBsAg dương tính được tiêm HBIG trong 12 giờ đầu. Thứ ba, tăng cường đào tạo nhân lực y tế cơ sở về tư vấn và theo dõi sau tiêm. Chính sách hỗ trợ đặc thù cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số là cần thiết để thu hẹp bất bình đẳng trong tiếp cận dịch vụ dự phòng HBV.

4.2. Tầm quan trọng của nghiên cứu đối với kiểm soát HBV quốc gia

Luận án tiến sĩ này đóng góp dữ liệu địa phương quan trọng cho chiến lược loại trừ viêm gan virus B tại Việt Nam. Mục tiêu của Tổ chức Y tế Thế giới là giảm tỷ lệ HBsAg dương tính ở trẻ dưới 5 tuổi xuống dưới 1% vào năm 2030. Để đạt mục tiêu này, Việt Nam cần duy trì tỷ lệ tiêm vắc xin sơ sinh trong 24 giờ đầu trên 90% và mở rộng sàng lọc HBV cho toàn bộ phụ nữ mang thai. Nghiên cứu tại Định Hóa là cơ sở thực tiễn để xây dựng mô hình can thiệp phù hợp với đặc thù vùng miền núi.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

22/04/2026
Luận án tiến sĩ nghiên cứu tình trạng nhiễm hbv ở người mẹ mang thai lây nhiễm sang con và đáp ứng miễn dịch ở trẻ

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: TỔNG QUAN 1. Đại cương về vi rút viêm gan B Năm 1964, Blumberg S.M đã tìm ra kháng nguyên Australia ở những người thổ dân Australia được truyền máu nhiều lần. Sau đó, các nhà nghiên cứu đã chứng minh kháng nguyên Australia là kháng nguyên bề mặt của HBV, kí hiệu quốc tế là HBsAg (Hepatitis B surface antigen) [26]. Mười một năm sau, năm 1975, Dane đã phát hiện dưới kính hiển vi điện tử các hạt nhỏ, đường kính khoảng 42 nm, chúng được gọi tên là các hạt Dane.

Về sau các tác giả nghiên cứu về vi rút viêm gan B (HBV) đã xác định hạt Dane là những hạt vi rút hoàn chỉnh [21]. Hình thể và cấu trúc của vi rút viêm gan B * Hình thể và cấu trúc của vi rút viêm gan B Hình 1. HBV cắt đôi [20] HBV thuộc họ Hepadnaviridae, là vi rút hướng gan có cấu trúc ADN được cấu tạo bởi 3.200 đôi acid nucleotid, trọng lượng phân tử 2 x 106 dalton. Dưới kính hiển vi điện tử người ta tìm thấy 3 kiểu cấu trúc của HBV: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 4 + Cấu trúc hình cầu có đường kính khoảng 42 nm.

+ Cấu trúc hình ống hay hình trụ, đường kính 22nm, chiều dài từ 40 – 400 nm, các cấu trúc này có thể do các cấu trúc hình cầu chồng chất lên nhau tạo thành. Hai cấu trúc trên chính là phần kháng nguyên bề mặt của HBV được sản xuất tại bào tương của tế bào gan trong quá trình nhân lên của vi rút, cho nên cũng mang đặc tính như HBsAg. Nồng độ của HBsAg trong huyết thanh khoảng 10 - 100 µg/ml (gấp 100 - 1000 lần so với lượng virion). Trong khi đó nồng độ của HBeAg thường > 10 µg/ml.

+ Cấu trúc hình cầu, là tiểu thể Dance hay hạt vi rút hoàn chỉnh có hình cầu lớn đường kính 42 nm, bao gồm 3 lớp: Lớp vỏ bọc bên ngoài (bao ngoài) là KN bề mặt của HBV (HBsAg). Vỏ capsid là 1 nucleocapsid được cấu tạo từ KN lõi (HBcAg). Lớp trong cùng có chứa cấu trúc ADN chuỗi đôi và các men như ADN polymerase, protein kinase [3]. Sự nhân lên của HBV thường xảy ra ở gan; tuy nhiên nó có thể xảy ra ở lymphocytes, lá lách, thận, và tuyến tụy [46].

Hệ gen của vi rút viêm gan B Các kiểu gen HBV khác nhau dẫn đến sự không đồng nhất trong các biểu hiện lâm sàng và đáp ứng điều trị ở bệnh nhân viêm gan B mạn tính ở các vùng khác nhau trên thế giới [49]. Cho đến nay, đã xác định 10 kiểu gen HBV (A-J) và một số phân typ khác nhau, được xác định bằng sự phân kỳ trong toàn bộ trình tự bộ gen của HBV và sự phân bố địa lý riêng biệt. Genotype A được tìm thấy như là một yếu tố nguy cơ độc lập cho sự tiến triển của nhiễm trùng mãn tính và sự tồn tại lâu dài sau khi bị nhiễm HBV [73]. Nhiễm trùng cấp tính với các kiểu gen A và D dẫn đến tỉ lệ mãn tính cao hơn so với các kiểu gen B và C.

Bệnh nhân có kiểu gen C và D có tỷ lệ chuyển đổi huyết tương HBeAg thấp hơn so với genotype A và B [63]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 5 Trên toàn cầu, ở các địa phương khác nhau có các kiểu gen khác nhau. Trong một số trường hợp, các kiểu gen phân biệt theo phân bố địa lý [66]. Kiểu gen A được tìm thấy ở Châu Phi, Châu Âu và Châu Mỹ trong khi kiểu gen B và C chiếm ưu thế ở Đông Nam Á.

Kiểu gen D là phân bố ở tất cả các châu lục và được gọi là kiểu gen quốc tế. Kiểu E là giới hạn ở Tây Phi, phân phối các khu vực khác trên thế giới sau di cư từ Châu Phi đến. Trung Mỹ và Nam Mỹ là khu vực nơi có nguồn gốc kiểu gen F và H. Kiểu gen G, ban đầu được mô tả ở Georgia, Hoa Kỳ, sau đó kiểu gen G đã được tìm thấy ở Vương quốc Anh, Đức và Ý.

Tiểu nhóm A1 chiếm ưu thế ở châu Phi và ở các khu vực bên ngoài châu Phi, nơi có được di cư hàng loạt từ châu Phi [68]. Tiểu nhóm A2, nằm trong nhóm gen A được tìm thấy ở các nước ngoài Châu Phi. Tiểu nhóm B1 chiếm ưu thế ở Nhật Bản, B2 ở Đông Nam Á, B5 (trước đây là B6) được tìm thấy ở Alaska. Như vậy trong hai khu vực trên thế giới nơi HBV xảy ra ở mức độ cao, các kiểu gen khác nhau chiếm ưu thế: tiểu nhóm A1, kiểu gen D và E lưu hành ở châu Phi cận Sahara và kiểu gen B và C ở Đông Nam Á [20], [67].

Dưới kính hiển vi điện tử, HBV DNA hình vòng, mạch kép không hoàn chỉnh có chiều dài khoảng 3200 nucleotit (3,2kd), gồm có 2 chuỗi AND: chuỗi dài nằm ngoài, cực tính âm tạo nên 1 vòng tròn liên tục, chiều dài cố định là 3,2 kd và mã hóa cho các cho các thông tin di truyền của vi rút. Chuỗi ngắn nằm trong có cực tính dương với chiều dài thay đổi [67]. - Bộ gen đầy đủ xuất hiện qua trung gian sao chép ngược ARN. Ban đầu hiện tượng sao chép ngược ở đầu tận cùng 5’ của chuỗi âm có liên quan đồng hóa trị với phần hydroxyl còn lại của tyrosin ở vị trí N của polymerase vi rút.

Cấu trúc của vi rút được liên kết bởi cặp bazơ của chuỗi ADN âm và dương, ở mỗi chuỗi dương cầu nối không liên tục giữa đầu tận cùng 5’ và 3’ của chuỗi âm [62]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 6 - Ở đầu tận cùng 5’của chuỗi dương nối với chiều dài 18 nucleotit, được gắn chóp theo cùng 1 cách như ARN thông tin (mARN), với mỗi mồi tương ứng với sự tổng hợp sợi ADN thứ 2 [4], [62]. - Đầu tận cùng 3’của chuỗi ADN dương thay đổi, nó chứa 1 lỗ hổng mạch đơn từ 600 - 2000 nucleotit ở cấu trúc cơ bản của vi rút hoàn chỉnh và giải phóng vi rút. Thứ tự của các nucleotit được đánh số từ 1, tương ứng với vị trí EcoRI.

Chiều dài của bộ gen thay đổi tùy theo các phân týp khác nhau [4], [62]. Cấu trúc và bộ gen của vi rút viêm gan B và tiểu thể Dane hay virion hoàn chỉnh [20], [56] Hình 1. Subgenomic trên hình vẽ là 2 vòng, vòng trong 2,4 và 2,1kb, genomic ARN vòng ngoài cùng 3,5kb. Subgenomic và genomic là do AND của vi rút khi vào nhân của tế bào gan bị nhiễm tạo ra cccADN làm khuôn mẫu để tạo ra hai sợi ARN truyền tin nhờ ARN polymerase II của tế bào bị nhiễm.

Màng ngoài có màng HBsAg gồm 3 loại là lớn, trung bình và loại nhỏ (L,M,S) lipid. Nucleocapsid để gọi một tập hợp có protein core, có protein polymerase, 2 vòng genome AND(+) và (-). Lây truyền vi rút viêm gan B Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 7 HBV lây truyền khi các tổn thương trên bề mặt da và niêm mạc tiếp xúc với dịch tiết của cơ thể hoặc máu bị nhiễm vi rút. HBV có tải lượng cao nhất trong máu và dịch tiết từ vết thương.

Tải lượng vi rút thấp hơn trong tinh dịch, dịch tiết âm đạo và có rất ít trong nước bọt. HBV không lây truyền qua không khí, thức ăn và nước uống [48]. Các phương thức lây truyền chính của HBV như sau: 1. Lây truyền qua đường máu Trước thập niên 60 của thế kỷ XX, khi chưa có các xét nghiệm sàng lọc HBV ở người cho máu chuyên nghiệp, thì nguy cơ lây nhiễm HBV của người nhận là > 30%, cũng dễ nhận thấy rằng những người mắc bệnh phải truyền máu thường xuyên (ví dụ mắc Hemophilia) đến 60% có HBsAg(+).

Từ năm 1970 áp dụng sàng lọc huyết thanh của HBV làm giảm đáng kể tỷ lệ nhiễm HBV sau truyền máu [4]. Những người tiêm chích ma túy, bệnh nhân lọc máu là những đối tượng có nguy cơ nhiễm HBV rất cao, tiếp theo là những người săm trổ, những người thường xuyên tiếp xúc với máu như nha sĩ, nhân viên y tế, nguy cơ lây nhiễm HBV cao. Ngoài ra số đối tượng khác như cảnh sát, lính cứu hỏa, công nhân giặt là, nhân viên phòng thí nghiệm cũng có nguy cơ lây nhiễm HBV [60]. Nguy cơ truyền nhiễm HBV đối với người lao động, nhất là nhân viên y tế, tùy thuộc vào nhiều biến số: tần suất của người mang HBV trong cộng đồng, số lần tai nạn kim tiêm hoặc các phơi nhiễm máu khác.

Trong những nhân viên chăm sóc sức khỏe, nguy cơ lây nhiễm sau một phơi nhiễm đối với máu hoặc dịch nhiễm ở các đối tượng nhiễm vi rút và mức độ miễn dịch của các nhân viên đó liên quan tới nguy cơ nhiễm vi rút viêm gan B nghề nghiệp [3]. Trong những năm gần đây, việc sử dụng rộng rãi các loại bơm tiêm và kim tiêm dùng 1 lần rồi bỏ, kim châm cứu dùng riêng cho bệnh nhân, đã góp phần hạn chế lây truyền VRVGB qua đường máu [23]. Lây truyền từ mẹ sang con Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 8 Lây truyền từ mẹ sang con là một đường lây quan trọng của HBV đặc biệt là các nước có tỷ lệ lưu hành bệnh cao như nước ta, 90% lây nhiễm qua con đường này sẽ trở thành viêm gan mạn tính và là nguồn lây quan trọng trong cộng đồng sau này. Việc truyền vi rút viêm gan B (HBV) theo chiều dọc được xem là con đường lây truyền chính của bệnh viêm gan B ở những nơi mà có tỷ lệ mắc cao.

Nhiễm HBV bao gồm lây nhiễm trong tử cung, lây nhiễm ở đường âm đạo khi sinh. Việc truyền từ mẹ sang trẻ sơ sinh bằng hai phương thức trên có thể ngăn ngừa bằng cách sử dụng vắc xin HBV hoặc immunoglobulin chống lại HBV ngay sau khi sinh. Mặc dù sử dụng các biện pháp này, vẫn có tới 5- 10% có khi lên tới 30%. Trẻ sơ sinh vẫn nhiễm HBV từ mẹ chủ yếu là do lây nhiễm trong tử cung [58], [89].

Cơ chế nhiễm HBV trong tử cung chưa rõ ràng, có một số giả thuyết cho rằng truyền tới thai qua huyết thanh từ mẹ đến bào thai, truyền qua tế bào của các tế bào đơn nhân máu ngoại vi, còn được gọi là sự lây truyền chu sinh, trong đó tinh trùng, tế bào noãn đã bị nhiễm HBV [123]. Nghiên cứu của Yu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ