Chương 1. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu (24 trang). Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu (13 trang); Chương 3. Cơ sở khoa học của việc tích hợp các vấn đề môi trường và biến đổi khí hậu vào quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội (27 trang); Chương 4.
Thực hiện tích hợp các vấn đề môi trường và biến đổi khí hậu vào quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hà Tĩnh (75 trang). 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. SỰ CẦN THIẾT PHẢI XEM XÉT CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƢỜNG VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRONG CÁC CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 1.
Yêu cầu phát triển bền vững Yêu cầu PTBV đến nay được coi là một trong những giá trị phổ quát cần được đảm bảo bởi bất kỳ mô hình phát triển kinh tế nào trên thế giới. Phát triển bền vững được Ủy ban thế giới về Môi trường và Phát triển [WCED, 1987] định nghĩa là “sự phát triển nhằm đáp ứng những nhu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”. Theo quan điểm truyền thống, PTBV là sự kết hợp hài hòa giữa ba mặt: phát triển kinh tế, phát triển xã hội và BVMT (Hình 1. Quan niệm về phát triển bền vững Nguồn: [WCED, 1987].
Hiện nay do BĐKH toàn cầu đang là một thách thức lớn của nhân loại, ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế, phát triển xã hội và các nỗ lực trong công tác BVMT. BĐKH có những tác động tiềm tàng đến các lĩnh vực, khu vực và các cộng đồng khác nhau: (i) kinh tế, (ii) xã hội, và (iii) môi trường. Các khu vực dễ bị tổn thương nhất trước tác động của BĐKH là các đảo nhỏ, các v ng châu thổ của các con sông lớn, dải ven biển và v ng núi. BĐKH có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển bền vững đất nước, do vậy cần thiết phải xem xét các giải pháp thích ứng với BĐKH toàn cầu và giảm thiểu tác động của BĐKH đến đời sống con người như là yếu tố tác động mạnh mẽ đến PTBV đất nước.
BĐKH có tác động mạnh đến tài nguyên, môi trường, trong đó nổi bật nhất là ở 4 lĩnh vực đất đai, tài nguyên nước, môi trường và biển và hải đảo (nhất là vùng 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ven biển). Nước biển dâng, sự gia tăng nhiệt độ, thay đổi lượng mưa, các hiện tượng thời tiết cực đoan, thiên tai… sẽ làm suy thoái tài nguyên đất do bị xâm nhập mặn, khô hạn, hoang mạc hóa, xói mòn, sạt lở… Đối với tài nguyên nước, BĐKH làm thay đổi lượng mưa và sự phân bố mưa giữa các vùng, giữa các tháng trong năm, gây nên lũ lụt, hạn hán. Băng tuyết tan, cùng với sự thay đổi lượng mưa, các hiện tượng thời tiết cực đoan, thiên tai như bão, lũ, El Nino, La Nina… sẽ làm thay đổi dòng chảy của các con sông. Sự dâng cao của mực nước biển sẽ làm cho nước mặt và nước ngầm vùng ven biển bị nhiễm mặn gây nên tình trạng thiếu nước ngọt.
Ngoài ra, khi nguồn nước bị suy giảm thì nguy cơ ô nhiễm sẽ tăng vì khả năng tự làm sạch bị suy giảm. BĐKH gây tác động mạnh đến ĐDSH. Nhiệt độ tăng sẽ làm thay đổi các vùng phân bố và cấu trúc quần xã sinh vật của nhiều hệ sinh thái (HST). Các ranh giới nhiệt của các HST lục địa và nước ngọt sẽ dịch chuyển về phía cực, đồng thời cũng dịch chuyển lên cao hơn.
Các loài động thực vật thích ứng với BĐKH sẽ phát triển trong khi một số loài không thích ứng được sẽ bị suy thoái dần, đồng thời sẽ tạo điều kiện cho sự phát triển và xâm nhập của các loài ngoại lai xâm hại. BĐKH gây tác động xấu đến các HST đất ngập nước nội địa như sông, hồ, đầm lầy, cũng như v ng cửa sông, rạn san hô, cỏ biển. Với mực nước biển dâng cao, một số khu bảo tồn quan trọng ở các đảo hay các vùng cửa sông ven biển có thể bị thu hẹp hay biến mất. Đối với khu vực ven biển và hải đảo, BĐKH gây tác động đến các vùng cửa sông do thay đổi chế độ thủy triều và dòng chảy.
Nước biển dâng sẽ gây ra tình trạng xói lở bờ biển, tăng khả năng tổn thương do thiên tai, gây tác động xấu đến các đầm lầy ven biển và ảnh hưởng đến nguồn nước ngọt. Các cảng cần được tính toán thiết kế lại, các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp, ngư nghiệp ven biển có thể biến mất. Ở nước ta, đồng bằng sông Cửu Long có nguy cơ bị ngập, gây hậu quả nghiêm trọng tới sinh kế và cuộc sống nhân dân, hàng triệu dân có thể sẽ phải di dời. Điều này làm tăng áp lực khai thác đất đai và sẽ làm gia tăng nạn phá rừng để làm nhà và trồng trọt.
Rõ ràng, thích ứng với BĐKH là một phần không thể thiếu được trong PTBV, hầu hết các mục tiêu của PTBV sẽ khó có thể đạt được nếu không cân nhắc đến yếu tố BĐKH. Cần phải xem các giải pháp thích ứng với BĐKH và giảm thiểu tác động của BĐKH là một nhóm mục tiêu trong PTBV. Việc tích hợp góp phần đảm bảo yêu cầu PTBV trong mọi quyết định liên quan đến phát triển KT-XH, tức là đảm bảo phát triển 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com KT-XH theo hướng PTBV Trương Quang Học, 2010]. Thực tế công tác BVMT, ứng phó với BĐKH ở Việt Nam hiện nay đang được thực hiện theo hai hệ thống tương đối độc lập với các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp khác nhau c ng hướng tới một mục tiêu chung là PTBV.
Vì vậy, ngoài các yếu tố trụ cột để đảm bảo PTBV là kinh tế, xã hội và môi trường, BĐKH là yếu tố hết sức quan trọng, tác động mạnh mẽ cần phải xem xét đến PTBV thông qua các chỉ tiêu PTBV [United Nations, 2007]. Tích hợp môi trƣờng và biến đổi khí hậu góp phần nâng cao hiệu quả của công tác bảo vệ môi trƣờng, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững kinh tế - xã hội Tích hợp (integration) các vấn đề môi trường và BĐKH vào các chính sách phát triển KT-XH sẽ mang lại nhiều lợi ích về phát triển kinh tế, an sinh xã hội và BVMT. Theo Tearfund [2006] tích hợp môi trường đóng vai trò quan trọng do sự phát triển kinh tế, xã hội và môi trường tương tác và phụ thuộc lẫn nhau. Cách thức phát triển kinh tế và thể chế xã hội chính trị có tác động quan trọng tới môi trường.
Ngược lại, chất lượng môi trường, tính bền vững là nền tảng quan trọng cho sự thịnh vượng và tăng trưởng. Do đó, nhiệm vụ tích hợp môi trường là yếu tố tiên quyết cho hoạch định chính sách. Tích hợp môi trường vào các chính sách phát triển kinh tế, xã hội là cách thức bảo vệ môi trường có nguồn gốc từ yêu cầu PTBV, áp dụng nguyên tắc phòng ngừa trong BVMT và nguyên tắc đảm bảo sự tham gia của cộng đồng vào các quyết định có liên quan tới môi trường. Hay nói cách khác, tích hợp yêu cầu BVMT vào các chính sách phát triển KT-XH được coi là một hệ quả tự nhiên của yêu cầu PTBV và đáp ứng nguyên tắc phòng ngừa trong BVMT và nguyên tắc đảm bảo sự tham gia của cộng đồng trong BVMT.
Bên cạnh đó, lợi ích khác của việc tích hợp là góp phần tiết kiệm chi phí BVMT do tích hợp có thể ngăn ngừa các tác hại ngoài dự kiến đối với môi trường. Trước hết, ngay từ giai đoạn đầu hình thành các quyết định về phát triển KT-XH, việc tích hợp đã được xem xét đến từ đó có các biện pháp chủ động phòng ngừa các tác hại gây ra cho môi trường. Tích hợp vấn đề BĐKH vào các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển sẽ giúp việc thích ứng với BĐKH được hiệu quả hơn và giảm được các chi phí, thiệt hại trong tương lai do BĐKH gây ra. Ví dụ điển hình là việc cân nhắc khu vực dễ bị ngập do nước biển dâng trong quy hoạch sử dụng đất sẽ 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giảm được các thiệt hại về cơ sở hạ tầng và con người trong tương lai khi nước biển dâng lên [Klein, 2007].
Việc tích hợp nội dung giảm nhẹ BĐKH vào các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển khiến BĐKH trở thành cơ hội cho sự phát triển các lĩnh vực mới (ví dụ năng lượng tái tạo) và thay đổi công nghệ sản xuất theo hướng xanh, thân thiện với khí hậu, góp phần giảm nhẹ BĐKH đồng thời đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế. Do vậy, các biện pháp thích ứng cần được xem xét và đưa vào vào kế hoạch của ngành BĐKH hay nói cách khác là tích hợp, lồng ghép vào các chính sách, kế hoạch phát triển. Tích hợp góp phần giảm nhẹ các tác động tiềm tàng của BĐKH đến các mặt của đời sống kinh tế và xã hội do đã có các giải pháp để thích ứng với sự thay đổi của khí hậu toàn cầu và chủ động có các giải pháp giảm nguồn hải thải, tăng bể hấp thụ cacbon [Trần Thục, 2011]. Việc tích hợp góp phần phòng ngừa, xem xét trước các yếu tố môi trường, BĐKH trong các quyết định phát triển KT-XH; vì vậy, các quyết định này có thể mang tính khả thi và phù hợp hơn trong bối cảnh hiện nay và tương lai.
Hoàng Văn Thắng [2012], cho rằng tích hợp vấn đề BĐKH vào quá trình xây dựng và thực hiện các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển góp phần tăng thêm nguồn lực tài chính và nhân lực cho hoạt động ứng phó với BĐKH, từ đó xây dựng được một xã hội có khả năng chống chịu được với BĐKH. Mai Trọng Nhuận [2011] nhấn mạnh đến lợi ích của việc tích hợp nhằm nâng cao nhận thức của các bên, các chủ thể liên quan. Việc tích hợp góp phần nâng cao nhận thức của các chủ thể có liên quan (bao gồm cán bộ nhà nước và người dân, doang nghiệp) trong việc BVMT. Nhận thức của họ, đặc biệt là chiều sâu tư duy về môi trường và BĐKH, do đó các vấn đề nhận thức BVMT trở nên gần gũi, gắn kết mật thiết với hành vi hàng ngày của từng chủ thể trong quá trình sản xuất, kinh doanh, tiêu thụ, sinh hoạt của mình.
Tóm lại, với nhiều ý kiến khác nhau, các ý kiến này đều nhấn mạnh lợi ích, tầm quan trọng của việc tích hợp và đều cho rằng cần thiết phải thực hiện tích hợp môi trường vào các chính sách phát triển KT-XH.