đặt vấn đề ở việc thực hiện quyền lực nhà nước như thế nào mà không đề cập vấn đề kiểm soát quyền lực đó ra sao6. Có thể kết luận rằng bản chất của phân quyền không có gì khác hơn chính là sự phân công, phối hợp để tiến tới sự kiểm soát; dùng quyền lực để giới hạn quyền lực; nhằm mục đích không để quyền lực đi đến chỗ lạm quyền. Đằng sau lý thuyết ấy chính là triết lý về bản chất cũng như mối quan hệ giữa con người - quyền lực - chính quyền. Sự ra đời của học thuyết phân quyền “đã đánh dấu sự chuyển biến từ việc sử dụng quyền lực dã man trong các xã hội chuyên chế sang thực thi quyền lực văn minh trong xã hội dân chủ”7.
Có thể khẳng định rằng, những tư tưởng mang tính chất khai sáng của Montesquieu trong tác phẩm“Tinh thần pháp luật” như: sự phân chia các nhánh quyền lực, đặc điểm của các nhánh quyền lực, mối quan hệ giữa các nhánh quyền lực,… là nguồn tư liệu rất quan trọng để tác giả kế thừa và phát triển trong vào nó”. Theo đó, có thể thấy Locke đồng nhất quyền lực nhà nước với quyền lập pháp. Ông chia quyền lực nhà nước thành các phần: lập pháp, hành pháp và liên minh. Theo đó, quyền lập pháp là quyền lực cao nhất trong nhà nước, và phải thuộc về Nghị viện; Nghị viện phải họp định kỳ thông qua các đạo luật, nhưng không thể can thiệp vào việc thực hiện chúng.
Quyền hành pháp phải thuộc về Nhà vua. Nhà vua lãnh đạo việc thi hành pháp luật, bổ nhiệm các chức vị, Chánh án và các quan chức khác. Hoạt động của Nhà vua phụ thuộc vào pháp luật và vua không có đặc quyền nhất định nào với nghị viện nhằm không cho phép vua thâu tóm toàn bộ quyền lực về tay mình và xâm phạm vào các quyền tự nhiên của công dân. Nhà vua thực hiện quyền liên minh: giải quyết các vấn đề chiến tranh, hòa bình và đối ngoại (https://vi.org/wiki/Kh%E1%BA%BF_%C6%B0%E1%BB%9Bc_x%C3%A3_h%E1%BB%99i).
6 Lê Tuấn Huy (2006), Triết học chính trị Montesquieu với việc xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam, Nxb. Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, tr. 7 Phạm Thế Lực (2008), “Ý nghĩa của lý thuyết phân quyền trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền tại Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 127.
Phần cơ sở lý luận của Luận án như khái niệm, đặc điểm, nội dung, yêu cầu của mối quan hệ giữa lập pháp và hành pháp; mối quan hệ giữa lập pháp và hành pháp trong các mô hình chính thể và phương hướng, giải pháp đổi mới đều xuất phát từ nền tảng tư tưởng phân chia quyền lực của Montesquieu. (2) Hai quyển sách “Chính thể đại diện” (Representative government) xuất bản năm 1861 và “Bàn về Tự Do” (On Liberty) được viết năm 1859 của John Staurt Mill. Hai quyển sách này được dịch sang tiếng việt là Chính thể đại diện năm 2008 (Người dịch: Nguyễn Văn Trọng, Bùi Văn Nam Sơn, Nxb. Tri thức) và Luận về Tự do năm 2005 (Nxb.
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh). Hai quyển sách này của J. Mill là những tác phẩm kinh điển về nền dân chủ phương Tây. Đây được xem như những khảo cứu mang tính nền tảng đối với các thiết chế chính trị - xã hội ở các nước Anh và Hoa Kỳ thế kỷ XIX.
Những vấn đề nêu ra trong quyển sách đều được phân tích một cách khách quan, khoa học, các nhận xét đều có căn cứ lập luận rõ ràng và dựa trên những bằng chứng thực tế hay lịch sử. Do vậy, cuốn sách này có mức độ tin cậy rất cao. Nội dung của nó xoay quanh các vấn đề chính là tác động của Nhân dân đối với sự thành bại của chính thể đại nghị, chức năng của các bộ phận quyền lực hợp thành chính thể và một số chủ đề liên quan đến đặc thù của nước Anh thế kỷ XIX. Mill cũng đúc kết ra ba điều kiện để một hình thức chính thể có thể tồn tại trong xã hội: một là, dân chúng trong xã hội đó phải thuận nguyện chấp nhận nó; hai là, họ phải thuận nguyện và có khả năng làm những gì cần thiết để gìn giữ nó; ba là, họ phải thuận nguyện và có khả năng hoàn tất các trách nhiệm và thực thi các định chế do nó đặt ra.
Về mối quan hệ giữa lập pháp và hành pháp thì J. Mill ủng hộ sự cần thiết phải có một cơ chế đảm bảo tính độc lập tương đối giữa hai nhánh quyền lực này vì “Không nên có bất cứ cơ hội nào để cho sự bế tắc trong chính trị xuất phát từ mối bất hòa giữa Tổng thống và Quốc hội, dù lỗi của ai, kéo dài trong khoảng thời gian có thể là nhiều năm, lại trở thành phương kế hợp pháp để người này cưỡi lên lưng người khác”8. Theo đó, tính độc lập này sẽ đảm bảo cho hành pháp có thể tự do tùy ý quyết định tổ chức bầu một Nghị viện mới vào bất kỳ lúc nào. Như vậy, quyển sách của J.
Mill đã trình bày một cách đầy đủ và thuyết phục những vấn đề liên quan đến hình thức chính thể đại diện. Cuốn sách nói lên sự cần thiết phải xây dựng cơ chế kiểm soát giữa lập pháp và hành pháp với nhau để đảm bảo một nền dân chủ thực sự. Đây là những thông tin bổ ích, có liên quan trực tiếp đến đề tài của tác giả và có thể được tác giả sử dụng để phát triển nhiều nội dung trong Luận án của mình. 8 John Stuart Mill, Nguyễn Văn Trọng và Bùi Văn Nam Sơn dịch (2008), Chính thể đại diện, Nxb.
Tri thức, Hà Nội, tr. 12 (3) Quyển sách “Những đại chính thể ở châu Âu” của Alex N. Cuốn sách giới thiệu cho người đọc về nền chính trị châu Âu, bao gồm Liên Xô cũ và sự nổi lên của Khối thịnh vượng chung của các quốc gia độc lập, chính sách nhập cư ở Pháp và Đức, sự gia tăng của tính bài ngoại ở Anh. Khi xem xét sự đa dạng trong chính thể ở Vương quốc Anh, Pháp và Đức, tác giả cho rằng các cấu trúc cơ bản của các Chính phủ này vẫn giữ nguyên.
Ví dụ, cấu trúc đảng phái chính trị của Anh khá ổn định, cũng như hoạt động chính trị và nền tảng của Chính phủ trong Quốc hội, dịch vụ dân sự, chức năng hành pháp và tư pháp, dù không có Hiến pháp bằng văn bản. Điều này cũng đúng với Pháp và Đức, mặc dù Đức đã phải tích hợp dân số và thể chế với sự tái gia nhập của Đông và Tây Đức. Những kiến thức của quyển sách này sẽ được tham khảo và vận dụng để viết mối quan hệ giữa lập pháp và hành pháp trong các mô hình chính thể. (4) Quốc hội và các thành viên (Tác giả: Roger H.
Davidson và Walter J. Oleszek, Người dịch: Trần Xuân Danh, Trần Xuân Giang, Minh Long, Nxb. Chính trị quốc gia, 2002). Quyển sách này có bốn nội dung chính: Thứ nhất, khám phá hai Quốc hội; Thứ hai, Quốc hội của các đại diện; Thứ ba, Hội đồng nghị sự của một quốc gia; Thứ tư, quá trình hoạch định chính sách và sự thay đổi trong hai Quốc hội.
Trong các nội dung trên, tác giả có thể kế thừa các phân tích trong phần nội dung thứ hai về nguồn gốc của sự hợp tác hành pháp - lập pháp, nguồn gốc của sự xung đột hành pháp - lập pháp, Quốc hội tổ chức và kiểm soát bộ máy hành pháp, hành chính. Những nội dung này sẽ là cơ sở lý luận vững chắc cho Chương II của Luận án. Dựa trên cơ sở này, tác giả sẽ làm rõ hơn về nguồn gốc hình thành mối quan hệ cũng như ảnh hưởng của Đảng phái chính trị đến mối quan hệ giữa lập pháp và hành pháp ở Hoa Kỳ - nơi khai sinh ra chính thể cộng hòa tổng thống. (5) Khái quát về chính quyền Hợp chúng quốc Hoa Kỳ (Người dịch: Trần Đình Nghiên, Hoàng Long, Nxb.
Chính trị quốc gia, 2003). Quyển sách trình bày tập trung về cơ cấu tổ chức của chính quyền Hoa Kỳ, cung cấp những thông tin, tư liệu cần thiết cho quá trình tìm hiểu về chính quyền của đất nước này. Trong đó nội dung về ngành hành pháp, lập pháp và tư pháp được thể hiện ở Chương III, IV, V của quyển sách. Nhiệm vụ của Tổng thống là bảo vệ Hiến pháp và thực thi luật pháp do Quốc hội ban hành.
Tổng thống Hợp Chúng quốc là một trong những chức vụ có thế quyền nhất trên thế giới. Tuy vậy, cũng có những hạn chế quyền lực nhất định đối với Tổng thống - người đứng đầu ngành hành pháp ở Hoa Kỳ. Được xây dựng trên nền tảng là nguyên tắc tam quyền phân lập, chính quyền Hợp Chúng quốc Hoa Kỳ là một trong những mô hình không thể không nhắc đến khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa hai nhánh quyền lực lập pháp và hành pháp. Quyển sách cung cấp một lượng thông tin đa 13 dạng và bổ ích, cụ thể là các nội dung này được sử dụng tham khảo ở Chương II của Luận án.
Có thể nói, các tài liệu nghiên cứu về quyền lực nhà nước nói chung9, về quyền lập pháp và hành pháp nói riêng trên thế giới rất đa dạng về hình thức nghiên cứu và có nội dung phong phú. Đó là những nguồn tài liệu cung cấp kiến thức lý luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn cho các nước đang đẩy mạnh nghiên cứu, triển khai và hoàn thiện mối quan hệ giữa lập pháp và hành pháp như Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc Việc nghiên cứu về mối quan hệ giữa lập pháp và hành pháp đã được đề cập ở nhiều góc độ khác nhau, trực tiếp hay gián tiếp trong các cuộc hội thảo, các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong những năm gần đây. Có thể sắp xếp nhóm các công trình nghiên cứu có liên quan đến mối quan hệ giữa lập pháp và hành pháp đã được thực hiện ở Việt Nam trong thời gian qua như sau: Thứ nhất, những tác phẩm có liên quan đến lý thuyết về Hiến pháp, lý thuyết về Nhà nƣớc pháp quyền, lý thuyết phân quyền và Bộ máy nhà nƣớc: Một là, về Giáo trình: (1) Luật Hiến pháp và chính trị học (Tác giả: Nguyễn Văn Bông, Nxb.
Sài Gòn, 1966); (2) Luật Hiến pháp và các định chế chánh trị (Tác giả: Lê Đình Chân, Nxb. Tủ sách Đại học, 1971); (3) Giáo trình Luật Hiến pháp của các nước tư bản (Tác giả: Nguyễn Đăng Dung, Bùi Xuân Đức chủ biên, Nxb. Tổng hợp Hà Nội 1993); (4) Luật Hiến pháp nước ngoài (Tác giả: Nguyễn Đăng Dung, Nxb.