Chương I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN BAO CHỮA CỦA BỊ CAN, BỊ CÁO 1. KHÁI NIỆM QUYỀN BÀO CHỮA CỦA BỊ CAN, BỊ CÁO 1. Khái niệm Trong xã hội ngày nay, con người luôn là vốn quý và cần được bảo đảm bằng các biện pháp của Nhà nước. Để bảo đảm quyền con người trong xã hội các bản Hiến pháp của nước ta đã có quy định về quyền công dân, trong đó không thể không kể đến QBC và các bảo đảm cần thiết để các quyền đó được thực hiện trong thực tế.
QBC của bị can, bị cáo là một trong những chế định quan trọng và phức tạp, vừa mang tính lý luận, vừa mang tính thực tiễn cao. Vấn đề này từ trước đến nay đã được nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu. Song xung quanh khái niệm, nội dung, đối tượng của QBC thì còn nhiều ý kiến khác nhau. Đặc biệt là việc thực hiện quyền này trong thực tế như thế nào thì hầu như chưa được đề cập đến.
Do vay, việc xác định khái niệm QBC của bị can, bị cáo trên cơ sở lý luận và thực tiễn phù hợp với quy định của BLTTHS nói riêng và pháp luật nói chung là cần thiết nhằm không ngừng phát huy dân chủ, củng cố cơ sở pháp luật trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Trong các giai đoạn khác nhau của lịch sử, Nhà nước luôn có những quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của công dân. Những quyền đó được Nhà nước bảo đảm thực hiện, đồng thời công dân cũng có nghĩa vụ phải tôn trọng và bảo đảm quyền lợi của người khác. Một trong các hình thức thực hiện quyền công dân được Nhà nước bảo đảm thực hiện chính là quyền được bảo vệ mình trước cơ quan pháp luật, trong đó có QBC.
QBC được ghi nhận trong BLTTHS là cần thiết, giúp CQTHTT giải quyết vụ án được khách quan và tránh được việc làm oan người vô tội. Hơn nữa việc tranh tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự không chỉ có buộc tội mà nó chỉ có thể đạt hiệu quả cao khi tồn tại song song hai chức năng buộc tội và gỡ tội. Đó cũng là một trong những cơ sở giúp Tòa án (TA) giải quyết vụ án được chính xác. Xung quanh khái niệm QBC, hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau.
Quan điểm thứ nhất cho rằng, QBC là tổng hòa các hành vi tố tụng đối với việc bác bỏ sự buộc tội và xác định bị can không có lỗi hoặc làm giảm trách nhiệm của bi can [37, tr. Quan điểm thứ hai cho rằng, QBC được hiểu rộng hơn, nó không chỉ dừng lại ở việc bác bỏ sự buộc tội và xác định bị can không có lỗi hay làm giảm trách nhiệm của bị can mà nó còn được thể hiện trong cả việc bảo đảm các quyền và lợi ích được pháp luật bảo vệ của bị can kể cả khi chúng không trực tiếp liên quan đến việc làm giảm nhẹ trách nhiệm của bị can trong vụ án [37, tr. Chúng tôi cho rằng, hai quan điểm trên là quá hẹp và không chính xác. Một người tham gia tố tụng với tư cách là bị can khi cơ quan có thẩm quyền có đủ căn cứ xác định họ là người đã thực hiện hành vi phạm tội và ra quyết định khởi tố bị can đối với họ.
Trong TTHS khái niệm bị can chỉ tồn tại cho đến thời điểm trước khi TA ra quyết định đưa vụ án ra xét XỬ. Sau đó họ tham gia tố tụng với tư cách là bị cáo. Phải chăng từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử họ không có QBC nữa hay sao. Thực tiễn cho thấy, chính giai đoạn này QBC của họ mới được thể hiện rõ nét nhất, vì họ được bình đẳng, công khai đưa ra các chứng cứ; được tham gia tranh luận tại phiên tòa.
để thanh minh, bác bỏ lời buộc tội và bào chữa. Quan điểm thứ ba cho rằng, QBC không chỉ thuộc về bị can, bị cáo mà còn thuộc về người bị tình nghi phạm tội, người bị kết án, NBC, bị đơn dân sự và NDDHP của họ [135]. 10 Quan điểm thứ tư cho rằng, "QBC trong TTHS là tổng hòa các hành vi tố tụng do người bị tam giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án thực hiện trên cơ sở phù hợp với quy định của pháp luật nhằm phủ nhận một phần hay toàn bộ sự buộc tội của CQTHTT, làm giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm của mình trong vụ án hình su" [37, tr. Quan điểm thứ năm cho rằng, trong TTHS, bị can, người bị tình nghi cũng như những công dân tham gia trong TTHS với tư cách khác, trong đó có cả người bị hại đều cần tới sự bảo vệ các lợi ích có thể bị xâm hai [37, tr.
Nhu vậy, theo tác giả thì QBC thậm chí có cả trong trường hợp mà ở đó không có sự buộc tội. Cùng với quan điểm này, một số tác giả khác cũng cho rằng, "không chỉ có bị cáo mà cả người bị hại cũng cần đến việc bào chữa. Nhân chứng, giám định viên và cả những người khác cũng vậy, nếu quyền lợi của họ bị xâm hại" [133, tr. Khác với quan điểm thứ nhất và quan điểm thứ hai, quan điểm thứ ba, quan điểm thứ tư và thứ năm cho rằng, QBC không chỉ thuộc về bị can mà còn thuộc về những người tham gia tố tụng khác nữa như bị cáo, người bị tình nghi phạm tội, người bị kết án, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự.
Chúng tôi cho rằng, nếu hiểu QBC như vậy là quá rộng, không hoàn đúng với nghĩa bào chữa trong TTHS. Ngoài những quan điểm rất khác nhau như trên về QBC của bị can, bị cáo, trong BLTTHS của các nước khác nhau cũng có những quy định khác nhau về chủ thể của QBC. Cụ thể là: Theo BLTTHS của Nhật Bản thì QBC chỉ thuộc về bị cáo và người bị tình nghĩ, đó là: "Bi cáo hoặc người bị tình nghi có thể lựa chọn luật sư bào chữa bất kỳ lúc nao" (Điều 30). BLTTHS của Bungari quy định QBC thuộc về bị can, bị cáo trong đó QBC của bị can bị hạn chế, vì họ chỉ có quyền nhờ NBC trong một số trường hợp cụ thể (Điều 73).
Đó là: li - BỊ can là người chưa thành niên; - Bị can là người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần, không thể tự mình bào chữa được; - Khi có sự đồng ý của Viện kiểm sát, nếu sự tham gia của NBC không gây khó khăn cho việc xác định chân lý khách quan về vụ án. BLTTHS của Sài Gòn trước đây quy định: "Trong giai đoạn điều tra sơ vấn, nghi can bị bắt giữ hoặc bị điều tra phải được cho biết ngay là phạm tội gì và có quyền được luật sư dự kiến" (Điều 38). BLTTHS Liên bang Nga quy định: "NBC được tham gia tố tung từ khi nhận được quyết định khởi tố bị can, trong trường hợp người bị tình nghi thực hiện tội phạm bị tạm giữ hoặc áp dụng biện pháp ngăn chan tam giam trước khi khởi tố bị can thì từ khi nhận được biên bản về việc bắt hoặc quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam" (Điều 47). Khoản 1, Điều 36 BLTTHS Việt Nam quy định: "NBC tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can.
Trong những trường hợp cần phải giữ bí mật điều tra đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng VKSND quyết định để NBC tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra". Như vậy, hiện nay khái niệm QBC trong TTHS được hiểu rất khác nhau và thực tế nó cũng được quy định khác nhau trong BLTTHS của các nước. Qua việc nghiên cứu các quan điểm khác nhau về QBC cũng như những quy định về QBC trong BLTTHS của một số nước, chúng tôi hoàn toàn đồng ý với quan điểm của BLTTHS Việt Nam hiện nay, QBC chỉ thuộc về bị can, bị cáo chứ không thuộc về bất kỳ một đối tượng nào khác và quyền này chỉ giới hạn trong việc bác bỏ một phần hay toàn bộ lời buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm cho bị can, bị cáo. Đối với việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp khác của bị can, bị cáo không trực tiếp liên quan đến việc bác bỏ sự buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm cho bị can, bị cáo trong vụ án thì không thuộc phạm vi QBC.
Tuy nhiên, khi đã bào chữa cho 12 bị can, bị cáo trong vụ án thì NBC cũng đồng thời giúp bị can, bị cáo trong việc bảo vệ các quyền đó của họ. Khác với những người tham gia tố tụng khác trong vụ án hình sự, bị can, bị cáo tham gia tố tụng chịu sự buộc tội của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Việc buộc tội này thường gắn liền với việc áp dụng biện pháp ngăn chặn, việc phải chịu trách nhiệm hình sự mà thực tiễn điều ta, truy tố, xét xử các vụ án hình sự cho thấy không phải mọi trường hợp buộc tội đối với bị can, bị cáo đều chính xác mà vẫn còn có trường hợp buộc tội oan, buộc tội không đúng vì những nguyên nhân khác nhau khó có thể chấp nhận. Do vậy, QBC thuộc về bị can, bị cáo là một yêu cầu khách quan trong TTHS nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hình sự được đúng đắn, tránh được việc làm oan người Vô téi.
Để bị can, bị cáo có điều kiện thực hiện QBC của mình, pháp luật cho phép họ được hưởng những quyền năng tố tụng nhất định quy định tại Điều 34 và các điều luật khác liên quan của BLTTHS. Đó là những quyền mà bị can, bị cáo được phép sử dụng để bảo vệ mình như quyền đưa ra chứng cứ và những yêu cầu, quyền được tham gia xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa v. Những quy định về quyền này thực chất là tạo điều kiện để bị can, bi cáo sử dụng để bảo vệ mình trước CQTHTT khi bị buộc tội. Điều này có nghĩa là bị can, bị cáo có thể thanh minh, bác bỏ một phần hay toàn bộ lời buộc tội hoặc đưa ra những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm cho mình.
Buộc tội và bào chữa song song tồn tại, ở đâu có buộc tội thì ở đó có bào chữa. Bi can, bị cáo có QBC vi ho là những người bị buộc tội. Những người tham gia tố tụng khác không phải là đối tượng của sự buộc tội, do vậy vấn đề bào chữa không đặt ra đối với họ.