Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Hoàng Thị Sơn với đề tài "Thực hiện quyền bào chữa của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự" được bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2003, thuộc chuyên ngành Luật hình sự (mã số 5.14), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Kiều Đình Thụ và TS. Trần Văn Độ.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả xuất phát từ bối cảnh đất nước đổi mới toàn diện, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo Điều 50 Hiến pháp năm 1992. Quyền bào chữa của bị can, bị cáo là một quyền tố tụng cơ bản của công dân, được thể chế hóa thành nguyên tắc hiến định (Điều 133 Hiến pháp năm 1992) và nguyên tắc đặc thù của Luật tố tụng hình sự (Điều 12 và Điều 34 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988). Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự thời điểm đó cho thấy quyền bào chữa chưa được tôn trọng triệt để; tình trạng vi phạm thủ tục tố tụng, xét xử oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm vẫn xảy ra. Nhiều người tiến hành tố tụng nhận thức thiên lệch khi chú trọng chống bỏ lọt tội phạm hơn là chống làm oan người vô tội, coi sự tham gia của người bào chữa tại phiên tòa chỉ mang tính "trang trí". Trước yêu cầu của Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp, việc nghiên cứu một cách toàn diện cơ chế bảo đảm và thực hiện quyền bào chữa trở thành đòi hỏi cấp bách cả về lý luận lẫn thực tiễn.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án là phân tích cơ sở lý luận, đánh giá quy định pháp luật thực định và thực trạng thực hiện quyền bào chữa của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quyền này. Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản cụ thể hóa thành 6 nội dung:

  1. Nghiên cứu một số vấn đề lý luận chung về thực hiện quyền bào chữa của bị can, bị cáo (khái niệm, cơ sở quy định, ý nghĩa).
  2. Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển của chế định bào chữa.
  3. Nghiên cứu các hình thức thực hiện quyền bào chữa.
  4. Nghiên cứu các yếu tố bảo đảm thực hiện quyền bào chữa.
  5. Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện quyền bào chữa của bị can, bị cáo, làm sáng tỏ hạn chế, vướng mắc và rút ra kết luận cần thiết.
  6. Đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện quyền bào chữa của bị can, bị cáo.

Về đối tượng nghiên cứu, luận án tập trung vào việc thực hiện quyền bào chữa của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự, bao gồm các quy định pháp luật và những vướng mắc phát sinh trong thực tiễn áp dụng. Phạm vi nghiên cứu về không gian và thời gian giới hạn ở thực tiễn tố tụng hình sự Việt Nam trong giai đoạn đổi mới đến năm 2003, có đối chiếu với lịch sử lập pháp từ năm 1945 và pháp luật một số quốc gia. Về mặt chủ thể, tác giả tập trung chủ yếu vào sự tham gia của luật sư với tư cách người bào chữa, không đi sâu vào diện bào chữa viên nhân dân và người đại diện hợp pháp do thực tế hai nhóm này rất ít tham gia.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong phần mở đầu, tác giả đã điểm lại các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan trực tiếp đến đề tài tại Việt Nam:

  • Các luận văn thạc sĩ luật học: Đề tài "Vai trò của luật sư trong việc bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự Việt Nam" của tác giả Nguyễn Thu Thủy; đề tài "Chức năng buộc tội và bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam" của tác giả Võ Văn Hòa; đề tài "Người bào chữa trong tố tụng hình sự" của tác giả Vũ Văn Thìn.
  • Các ấn phẩm sách chuyên khảo: Cuốn sách "Đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội" của PGS.TS. Phạm Hồng Hải; cuốn sách "Vai trò của luật sư trong tố tụng hình sự" của tác giả Nguyễn Văn Tuân.

Về khoảng trống nghiên cứu, tác giả nhận định các công trình nói trên mới chỉ tiếp cận từng khía cạnh riêng biệt như vị trí của luật sư, người bào chữa hoặc phân tích một chức năng tố tụng cụ thể. Chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống và toàn diện việc thực hiện quyền bào chữa của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự từ phương diện lý luận, lịch sử phát triển, hình thức thực hiện, các yếu tố bảo đảm cho đến khảo sát thực tiễn áp dụng và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này nhằm cung cấp luận cứ khoa học hoàn chỉnh cho quá trình sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin (chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử), tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tôn trọng quyền con người và thực hiện dân chủ hóa hoạt động tư pháp theo Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Về khung phân tích và khái niệm, tác giả định vị quyền bào chữa là tổng thể các quyền do pháp luật quy định cho phép bị can, bị cáo sử dụng nhằm bác bỏ một phần hay toàn bộ sự buộc tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Luận án phân tích mối quan hệ hữu cơ giữa ba chức năng tố tụng cơ bản: buộc tội, bào chữa và xét xử; đồng thời coi nguyên tắc suy đoán vô tội (Điều 10 Bộ luật Tố tụng hình sự) và nguyên tắc xác định sự thật khách quan của vụ án (Điều 11 Bộ luật Tố tụng hình sự) là cơ sở pháp lý và lý luận trực tiếp của quyền bào chữa.

Về phương pháp nghiên cứu thực tế, tác giả áp dụng thuần túy các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý định tính:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp quy phạm pháp luật và các quan điểm học thuật.
  • Phương pháp lịch sử pháp lý để phục dựng tiến trình phát triển của chế định quyền bào chữa tại Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2003.
  • Phương pháp so sánh luật học đối chiếu quy định về chủ thể và thời điểm bào chữa giữa pháp luật Việt Nam với Bộ luật Tố tụng hình sự của Nhật Bản, Bungari, Liên bang Nga và chế độ cũ tại Sài Gòn.
  • Phương pháp quan sát thực tiễn xét xử và phương pháp đàm thoại sâu (thăm dò, trao đổi chuyên môn trực tiếp với các thẩm phán, luật sư tại một số địa phương).
  • Phương pháp thống kê tổng hợp số liệu thực tế từ các báo cáo chuyên môn.

Nguồn tư liệu và dữ liệu của luận án gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật qua các thời kỳ (Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992; Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 sửa đổi năm 1990, 1992, 2000; Pháp lệnh Tổ chức luật sư năm 1987, Pháp lệnh Luật sư năm 2001; các sắc lệnh, thông tư hướng dẫn); báo cáo tổng kết công tác hàng năm của Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, các đoàn luật sư và Vụ Luật sư - Tư vấn pháp luật thuộc Bộ Tư pháp; bài viết chuyên khảo trên Tạp chí Luật học, Tạp chí Tòa án nhân dân, Tạp chí Viện kiểm sát nhân dân, Báo Pháp luật; cùng dữ liệu phỏng vấn thực tiễn các chuyên gia tư pháp.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề chung về quyền bào chữa của bị can, bị cáo

Chương 1 có độ dài từ trang 7 đến trang 39 của văn bản, tập trung làm rõ ba nội dung nền tảng:

Thứ nhất, về khái niệm quyền bào chữa: Tác giả khảo sát 5 quan điểm khoa học khác nhau về phạm vi chủ thể của quyền bào chữa. Tác giả chỉ ra rằng quan điểm chỉ coi bị can là chủ thể là quá hẹp, vì quyền bào chữa của bị cáo tại giai đoạn xét xử mới được thể hiện rõ nét và bình đẳng nhất. Ngược lại, các quan điểm mở rộng quyền bào chữa sang người bị tạm giữ, người bị kết án, người bị hại, nguyên đơn hay bị đơn dân sự là không chính xác với bản chất tố tụng hình sự. Quyền bào chữa chỉ phát sinh khi có hành vi buộc tội từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền; người bị hại hay các đương sự khác có quyền tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp nhưng đó không phải là hành động bào chữa. Do đó, luận án khẳng định quyền bào chữa chỉ thuộc về bị can và bị cáo.

Bảng đối chiếu quy định về chủ thể và thời điểm thực hiện quyền bào chữa giữa một số hệ thống pháp luật được tác giả trích dẫn:

Hệ thống pháp luật Chủ thể có quyền bào chữa Thời điểm phát sinh / tham gia của người bào chữa Căn cứ pháp lý
Nhật Bản Bị cáo, người bị tình nghi Có thể lựa chọn luật sư bào chữa bất kỳ lúc nào Điều 30 Bộ luật Tố tụng hình sự Nhật Bản
Bungari Bị can, bị cáo (bị can bị hạn chế) Bị can chỉ nhờ người bào chữa khi chưa thành niên, có nhược điểm thể chất/tâm thần, hoặc khi Viện kiểm sát đồng ý Điều 73 Bộ luật Tố tụng hình sự Bungari
Liên bang Nga Bị can, người bị tình nghi Từ khi nhận quyết định khởi tố bị can, hoặc từ khi có biên bản bắt giữ/áp dụng biện pháp tạm giam Điều 47 Bộ luật Tố tụng hình sự Liên bang Nga
Chính quyền Sài Gòn cũ Nghi can Từ giai đoạn điều tra sơ vấn khi bị bắt giữ hoặc bị điều tra Điều 38 Bộ luật Tố tụng hình sự cũ
Việt Nam Bị can, bị cáo Người bào chữa tham gia từ khi khởi tố bị can (vụ án an ninh quốc gia do Viện trưởng Viện kiểm sát quyết định từ khi kết thúc điều tra) Khoản 1 Điều 36 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988

Thứ hai, về cơ sở quy định và ý nghĩa của quyền bào chữa: Cơ sở quy định quyền bào chữa bắt nguồn từ quyền con người tự nhiên và pháp lý, được ghi nhận trong Đạo luật về các quyền năm 1689 của Anh, Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của Mỹ, Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1791 của Pháp, và Tuyên ngôn Độc lập ngày 02/09/1945 của Việt Nam. Luận án phân tích ý nghĩa của quyền bào chữa trên 3 phương diện:

  • Ý nghĩa chính trị: Hiện thực hóa quyền công dân theo Điều 133 Hiến pháp năm 1992, khẳng định bản chất dân chủ của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
  • Ý nghĩa xã hội: Thể hiện tính nhân đạo xã hội chủ nghĩa thông qua quy định bắt buộc cử người bào chữa cho người chưa thành niên, người có nhược điểm thể chất, tâm thần hoặc người đối diện khung hình phạt tử hình; bảo đảm sự cọ xát bình đẳng giữa bên buộc tội và gỡ tội để Hội đồng xét xử xác định sự thật khách quan.
  • Ý nghĩa pháp lý: Bảo đảm vận hành cân bằng ba chức năng tố tụng (buộc tội, bào chữa, xét xử), trực tiếp hiện thực hóa nguyên tắc suy đoán vô tội tại Điều 10 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Thứ ba, về lịch sử hình thành và phát triển của chế định quyền bào chữa: Tác giả điểm lại nguồn gốc nghề luật sư từ thời La Mã cổ đại (với chế định Patronat, Advocati, Orator) và nước Pháp thời trung cổ qua đạo dụ năm 1345 của vua Phillippe IV. Tại Việt Nam, quá trình phát triển được phân kỳ thành ba giai đoạn chính:

Bảng khái quát các văn bản lập pháp ghi nhận chế định quyền bào chữa tại Việt Nam theo trình bày của tác giả:

Giai đoạn lịch sử Văn bản quy phạm pháp luật tiêu biểu Nội dung ghi nhận chính về quyền bào chữa
1945 - 1954 Sắc lệnh số 33c (13/9/1945), Sắc lệnh số 21 (14/2/1946), Nghị định 82/NĐ (25/2/1946), Hiến pháp năm 1946 (Điều 67), Sắc lệnh 69 và 144 (1949), Nghị định 01/NĐ (02/01/1950) Khẳng định quyền tự bào chữa và nhờ luật sư hoặc người khác bênh vực; Nghị định 82/NĐ cho phép người bào chữa gặp riêng bị cáo, xem hồ sơ tại phòng lục sự; Nghị định 01/NĐ thành lập chế định bào chữa viên nhân dân có địa vị pháp lý như luật sư.
1955 - 1988 "Đề án về quyền bào chữa của bị cáo" (20/6/1956), Thông tư 2225/HCCP (1956), Hiến pháp năm 1959 (Điều 101), Thông tư 06/TC (1967), Thông tư 16-TATC (1974), Hiến pháp năm 1980 (Điều 133), Pháp lệnh Tổ chức luật sư năm 1987 Quy định chi tiết quyền của người bào chữa trước, trong và sau phiên tòa; quy định thời hạn giao cáo trạng (3 đến 5 ngày trước phiên tòa); xác định các trường hợp Tòa án bắt buộc phải chỉ định người bào chữa.
1988 - 2003 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 (sửa đổi 1990, 1992, 2000), Hiến pháp năm 1992 (Điều 133), Pháp lệnh Luật sư năm 2001 Mở rộng quyền bào chữa cho cả bị can từ khi khởi tố; xác định trách nhiệm bảo đảm quyền bào chữa là nhiệm vụ của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án; chuyển hóa tổ chức luật sư theo cơ chế dịch vụ pháp lý chuyên nghiệp.

Ở phần cuối Chương 1, tác giả rút ra 7 kết luận khái quát khẳng định quyền bào chữa chỉ tồn tại trong tố tụng hình sự, có tính ổn định gắn với hoàn cảnh lịch sử, có mối liên hệ mật thiết với nguyên tắc suy đoán vô tội.

Chương 2: Các hình thức và yếu tố bảo đảm thực hiện quyền bào chữa của bị can, bị cáo

Chương 2 (từ trang 40 đến trang 115) phân tích cấu trúc thực hiện quyền bào chữa thành hai hình thức tố tụng cơ bản và các điều kiện bảo đảm:

Thứ nhất, hình thức bị can, bị cáo tự bào chữa (Mục 2.1): Tác giả nhấn mạnh quyền tự bào chữa và quyền nhờ người khác bào chữa bổ sung cho nhau chứ không loại trừ nhau. Khi phân tích quyền tự bào chữa của bị can, luận án đi sâu vào các quyền năng cụ thể:

  • Quyền biết mình bị khởi tố về tội gì: Căn cứ Điều 34 và Điều 103 Bộ luật Tố tụng hình sự, quyết định khởi tố bị can phải ghi rõ tội danh, điều khoản áp dụng, thời gian và địa điểm phạm tội. Quyền này giúp người bị buộc tội chủ động thu thập chứng cứ chứng minh mình vô tội hoặc đưa ra tình tiết giảm nhẹ.
  • Quyền được giao nhận các văn bản tố tụng: Bao gồm bản sao quyết định khởi tố, quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn (tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh), bản kết luận điều tra (Điều 138) và bản cáo trạng (Điều 142).
  • Luận án nêu vụ án thực tế tại tỉnh Vĩnh Long để minh chứng cho việc vi phạm quyền được giao quyết định tố tụng: Ngày 25/10/2000, Cơ quan điều tra tỉnh Vĩnh Long khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh bắt giam ông Nguyễn Thanh Sơn (ngụ quận 8, TP. Hồ Chí Minh) về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản xuất phát từ quan hệ góp vốn mua xe tải với ông Thái Hùng Tráng. Đến ngày 27/11/2000, cơ quan này ra quyết định truy nã nhưng không giao các quyết định tố tụng cho ông Sơn và gia đình. Mãi đến đầu năm 2002, khi nhận được thư vận động đầu thú gửi qua bưu điện (ký ngày 28/05/2001), ông Sơn mới biết mình bị truy nã, thể hiện sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
  • Về thời hạn giao nhận bản cáo trạng: Tác giả dẫn chiếu Thông tư liên ngành số 07/TTLN ngày 15/09/1990 của Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Theo đó, hồ sơ vụ án gửi sang Tòa án phải kèm theo biên bản giao cáo trạng cho bị can; nếu bị can tại ngoại gặp khó khăn thì chậm nhất 15 ngày Viện kiểm sát phải nộp bổ sung biên bản giao nhận, nếu không Tòa án sẽ trả hồ sơ do chưa hoàn tất thủ tục tố tụng.

Thứ hai, hình thức nhờ người khác bào chữa: Tập trung phân tích vị trí pháp lý của luật sư, người đại diện hợp pháp và bào chữa viên nhân dân. Tác giả luận giải các quyền của người bào chữa khi tham gia tố tụng như gặp gỡ thân chủ, thu thập chứng cứ, nghiên cứu hồ sơ và tranh luận dân chủ tại phiên tòa.

Thứ ba, các yếu tố bảo đảm thực hiện quyền bào chữa (Mục 2.2): Phân tích hệ thống bảo đảm pháp lý (trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng theo Điều 12 Bộ luật Tố tụng hình sự); bảo đảm tổ chức - nghề nghiệp (hoạt động của Đoàn luật sư theo Pháp lệnh Luật sư năm 2001); cùng các yếu tố về văn hóa pháp lý, đạo đức nghề nghiệp và ý thức tôn trọng pháp luật của người tiến hành tố tụng và công dân.

Chương 3: Thực tiễn thực hiện quyền bào chữa của bị can, bị cáo và giải pháp nâng cao hiệu quả của việc thực hiện quyền bào chữa

Chương 3 (từ trang 116 đến trang 183) tập trung vào phân tích thực tiễn và đưa ra các kiến nghị:

Thứ nhất, thực tiễn thực hiện quyền bào chữa (Mục 3.1): Tác giả tổng hợp thực trạng áp dụng quyền bào chữa qua các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm và phúc thẩm dựa trên báo cáo thực tế của Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án các địa phương và các đoàn luật sư. Sự tham gia của người bào chữa đã tăng lên đáng kể, góp phần làm rõ sự thật khách quan và hạn chế nhiều trường hợp làm oan người vô tội.

Thứ hai, những hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân (Mục 3.2):

  • Giai đoạn điều tra: Tình trạng Điều tra viên chậm cấp giấy chứng nhận người bào chữa, gây khó khăn cho luật sư khi tiếp xúc với bị can bị tạm giam; không thông báo lịch hỏi cung hoặc hạn chế sự tham gia của luật sư trong các buổi lấy lời khai.
  • Giai đoạn truy tố và chuẩn bị xét xử: Viện kiểm sát và Tòa án chậm chuyển giao cáo trạng, hạn chế thời gian và điều kiện để luật sư đọc, sao chép tài liệu trong hồ sơ vụ án.
  • Tại phiên tòa: Tinh thần tranh tụng chưa thực chất; Hội đồng xét xử vẫn nặng về thẩm vấn theo hồ sơ chuẩn bị sẵn, chưa chú trọng tranh luận công khai, phán quyết nhiều trường hợp chưa căn cứ thỏa đáng vào kết quả tranh luận tại tòa.
  • Về chủ quan và đội ngũ: Số lượng luật sư còn ít, phân bổ mất cân đối (chủ yếu tập trung ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh); một bộ phận luật sư còn hạn chế về kỹ năng tranh tụng. Mặt khác, nhận thức pháp luật của người dân chưa cao, chưa chủ động mời người bào chữa.

Thứ ba, các giải pháp nâng cao hiệu quả (Mục 3.3): Luận án kiến nghị hệ thống giải pháp gồm hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự (sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự theo hướng cho phép người bào chữa tham gia từ thời điểm bắt, tạm giữ; quy định thời hạn cụ thể cho việc cấp giấy chứng nhận người bào chữa; mở rộng quyền thu thập chứng cứ và sao chép hồ sơ của luật sư); đổi mới thủ tục phiên tòa theo hướng nâng cao chất lượng tranh tụng theo tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW; kiện toàn tổ chức Đoàn luật sư và nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư; đồng thời chấn chỉnh thái độ, đạo đức nghề nghiệp và nâng cao trách nhiệm pháp lý của đội ngũ Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán.

Kết quả và những đóng góp mới

Theo tuyên bố của luận án, công trình đạt được các đóng góp mới sau:

  • Về mặt lý luận: Là công trình đầu tiên tại Việt Nam nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện và chuyên sâu về việc thực hiện quyền bào chữa của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự. Luận án đã chuẩn hóa khái niệm quyền bào chữa, xác định rõ cơ sở chính trị, xã hội, pháp lý của quyền bào chữa; khẳng định quyền này chỉ thuộc về bị can, bị cáo và gắn liền với nguyên tắc suy đoán vô tội cùng chức năng bào chữa độc lập trong tố tụng hình sự.
  • Về mặt lập pháp và lịch sử: Khái quát một cách khoa học tiến trình lập hiến và lập pháp về chế định quyền bào chữa tại Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2003; so sánh có chọn lọc với mô hình tố tụng của một số quốc gia.
  • Về mặt thực tiễn: Luận án chỉ rõ những mâu thuẫn giữa quy định pháp luật và thực tiễn thực thi (đặc biệt là tình trạng vi phạm thủ tục giao nhận quyết định tố tụng, cản trở luật sư tham gia tố tụng); cung cấp luận cứ thực chứng để đề xuất sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 và triển khai thực hiện các yêu cầu cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị.
  • Các giải pháp đề xuất: Đề xuất các nhóm giải pháp đồng bộ về hoàn thiện quy phạm pháp luật tố tụng hình sự, đổi mới mô hình tranh tụng tại phiên tòa, phát triển đội ngũ bổ trợ tư pháp và nâng cao năng lực của các cơ quan tiến hành tố tụng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Văn bản luận án nêu rõ giới hạn nghiên cứu: Luận án không đi sâu phân tích toàn bộ các chủ thể bào chữa mà tập trung chủ yếu vào vai trò của luật sư, do thực tế bào chữa viên nhân dân và người đại diện hợp pháp rất ít khi tham gia. Đồng thời, công trình chỉ tập trung vào việc thực hiện quyền bào chữa của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam ở giai đoạn đổi mới, không mở rộng sang các lĩnh vực tố tụng dân sự, kinh tế hay hành chính vì các lĩnh vực này không quy định chế định quyền bào chữa theo nghĩa hình sự. Tác giả cũng nêu rõ các đề xuất đưa ra mang tính khuyến nghị khoa học phục vụ cải cách tư pháp mà không có tham vọng bao quát toàn bộ mọi khía cạnh của chế định tư pháp hình sự. Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở từ giới hạn này là theo dõi việc áp dụng các quy định mới khi Bộ luật Tố tụng hình sự sửa đổi được ban hành và nghiên cứu sâu hơn về cơ chế bảo đảm quyền bào chữa trong các giai đoạn thi hành án hoặc thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho nhiều đối tượng trong nghiên cứu và hoạt động thực tiễn pháp lý:

  • Các nhà lập pháp và cơ quan cải cách tư pháp: Có thể tham khảo hệ thống luận cứ lý luận và thực tiễn của luận án phục vụ việc sửa đổi toàn diện Bộ luật Tố tụng hình sự, đặc biệt là các quy định về thời điểm tham gia tố tụng của người bào chữa, nghĩa vụ giao nhận văn bản tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa.
  • Giảng viên, học viên và nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng hình sự: Sử dụng luận án như một tài liệu tham khảo chi tiết về lịch sử lập pháp tố tụng hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2003, cũng như hệ thống khái niệm về ba chức năng tố tụng cơ bản.
  • Đội ngũ luật sư và người tiến hành tố tụng: Tham khảo các phân tích về kỹ năng thực hiện quyền tự bào chữa, quyền nhờ người bào chữa và nhận diện các hành vi vi phạm thủ tục tố tụng trong thực tế điều tra, truy tố, xét xử để nâng cao chất lượng hoạt động nghề nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo luận án, quyền bào chữa trong tố tụng hình sự thuộc về những chủ thể nào? Theo luận án, quyền bào chữa chỉ thuộc về đối tượng bị buộc tội bởi các quyết định pháp lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, cụ thể là bị can (kể từ khi có quyết định khởi tố bị can) và bị cáo (kể từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử). Người bị tạm giữ, người bị kết án, người bị hại hay nguyên đơn, bị đơn dân sự không phải là chủ thể của quyền bào chữa; nếu quyền lợi của họ bị xâm phạm thì họ thực hiện quyền tự bảo vệ theo quy định pháp luật chứ không phải hoạt động bào chữa trong tố tụng hình sự.

2. Quyền tự bào chữa của bị can bao gồm những nội dung căn bản nào? Bị can có quyền được biết rõ mình bị khởi tố về tội gì theo điều khoản nào của Bộ luật Hình sự; quyền được giao nhận bản sao quyết định khởi tố, quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn; quyền nhận bản kết luận điều tra sau khi kết thúc điều tra và bản cáo trạng của Viện kiểm sát; cùng quyền đưa ra chứng cứ, yêu cầu và khiếu nại đối với các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng.

3. Vụ việc thực tế nào được tác giả dẫn chứng để chứng minh cho vi phạm về việc giao nhận quyết định tố tụng? Tác giả dẫn chứng vụ án ông Nguyễn Thanh Sơn tại tỉnh Vĩnh Long. Ông Sơn bị Cơ quan điều tra tỉnh Vĩnh Long khởi tố bị can ngày 25/10/2000 và phát lệnh truy nã ngày 27/11/2000 về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản xuất phát từ quan hệ góp vốn mua xe tải, nhưng cơ quan điều tra không giao các quyết định tố tụng cho ông Sơn và gia đình. Đến đầu năm 2002, khi nhận được thư vận động đầu thú qua bưu điện, ông Sơn mới chính thức biết mình bị truy nã.

4. Tại sao tác giả không đi sâu nghiên cứu về bào chữa viên nhân dân và người đại diện hợp pháp? Trong phạm vi nghiên cứu, tác giả nêu rõ lý do tập trung vào sự tham gia của luật sư vì trong thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự tại Việt Nam, bào chữa viên nhân dân và người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo rất ít khi tham gia tố tụng do nhiều nguyên nhân và rào cản thực tế khác nhau.

5. Điểm cốt lõi trong tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị được luận án nhấn mạnh trong hoạt động xét xử là gì? Nghị quyết số 08-NQ/TW yêu cầu việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét toàn diện, đầy đủ các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa, bị cáo và nhân chứng; các cơ quan tư pháp phải tạo điều kiện để luật sư tham gia hỏi cung bị can, nghiên cứu hồ sơ và tranh luận dân chủ tại phiên tòa.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Hoàng Thị Sơn là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về chế định thực hiện quyền bào chữa của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam. Luận án đã làm rõ cơ sở lý luận, tiến trình lịch sử lập pháp và những đòi hỏi khách quan của nguyên tắc suy đoán vô tội cũng như cơ chế tranh tụng. Thông qua việc phân tích thực tiễn áp dụng và chỉ ra các vướng mắc cụ thể trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử, luận án đã cung cấp hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện quyền bào chữa, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị.